1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp phát triển dịch vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh hương sơn huyện mỹ đức thành phố hà nội

116 269 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 875,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với xu hướng phát triển đó, khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn - Huyện Mỹ Đức - Thành phố Hà Nội cũng cần phải có chiến lược cụ thể trong việc phát triển dịch vụ du lịch tại khu di tích

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, nội dung luận văn là kết quả của sự tìm tòi, nghiên cứu, sưu tầm từ nhiều nguồn tài liệu và liên hệ với thực tiễn Các số liệu trong luận văn là trung thực không sao chép từ bất cứ luận văn hoặc đề tài nghiên cứu nào trước đó

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những nội dung đã trình bày

Hà Nội, Ngày 20 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Trần Tuấn Anh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình theo học chương trình cao học ngành Kinh tế nông nghiệp của Trường Đại học Lâm nghiệp và nhất là trong thời gian nghiên cứu, hoàn thiện luận văn ngày hôm nay là kết quả của một quá trình học tập cùng với sự say mê và dày công nghiên cứu của bản thân mình Nhưng để tôi có được kết quả này là nhờ

sự giảng dạy, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy, cô Trường Đại học Lâm nghiệp và

sự ủng hộ của các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo Sau Đại học, các giảng viên của trường Đại học Lâm nghiệp đã giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong khóa học và trong quá trình thực hiện luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Nguyễn Thị Hải Ninh, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và các bạn đồng nghiệp của

cơ quan phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mỹ Đức, Ban quản lý Khu

Di tích và Thắng cảnh Hương Sơn để hoàn thành tốt luận văn này

Và trong thời gian học tập cũng như thời gian làm luận văn, tôi nhận được sự cộng tác chân thành của các học viên cùng học và tôi xin được gửi lời cám ơn tới họ về sự cộng tác và giúp đỡ trong thời gian qua

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Ngày 20 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Trần Tuấn Anh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ DU LỊCH 4

1.1 Cơ sở lý luận về điểm du lịch và phát triển dịch vụ du lịch 4

1.1.1 Điểm du lịch 4

1.1.2 Sản phẩm, dịch vụ Du lịch 10

1.1.3 Phát triển dịch vụ du lịch 18

1.2 Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ du lịch trên thế giới và ở Việt Nam 21

1.2.1 Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ du lịch một số nước trên thế giới 21

1.2.2 Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ du lịch ở một số địa phương trong nước 27

1.2.3 Bài học rút ra cho khu di tích tích và thắng cảnh Hương Sơn huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội 30

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.1 Giới thiệu tổng quan về khu Di tích và thắng cảnh Hương Sơn – Mỹ Đức – Tp Hà Nội 33

2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 33

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển khu Di tích và thắng cảnh Hương Sơn – Mỹ Đức – Tp Hà Nội 34

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn 36

Trang 4

2.1.4 Đánh giá chung về khu Di tích và thắng cảnh Hương Sơn 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu 40

2.2.1 Khung logic nghiên cứu 40

2.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 42

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 42

2.2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 42

2.2.5 Phương pháp IPA (Importance – Performance Analysis) 43

2.2.6 Phương pháp SWOT 44

2.2.7 Phương pháp chuyên gia 44

2.2.8 Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn 44

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47

3.1 Thực trạng phát triển dịch vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn – Mỹ Đức – thành phố Hà Nội 47

3.1.1 Phương diện tổ chức quản lý và hoạt động khai thác kinh doanh du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương sơn 47

3.1.2 Kết quả hoạt động du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn 48

3.1.3 Thực trạng quản lý các loại hình dịch vụ 54

3.1.4 Công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và nâng cao nhận thức cộng đồng 58

3.1.5 Công tác tuyên truyền quảng bá 59

3.1.6 Công tác quản lý tài nguyên môi trường tại khu di tích thắng cảnh Hương Sơn 60 3.1.7 Quản lý về trật tự an ninh xã hội 62

3.2 Đánh giá môi trường kinh doanh dịch vụ du lịch đối với khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn – Mỹ Đức – thành phố Hà Nội 63

3.2.1 Những điểm mạnh (S) 63

3.2.2 Những điểm yếu (W) 65

3.2.3 Những cơ hội (O) 66

Trang 5

3.2.4 Những thách thức (T) 68 3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn – Mỹ Đức – thành phố Hà Nội 69 3.3.1 Quan điểm của chính quyền địa phương đối với sự phát triển dịch vụ du lịch 69 3.3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn 71 KẾT LUẬN 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Sở VHTT&DL Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch

SWOT Strength Weakness Opportunity Threat - Ma trận phân

tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức

UNESCO Tổ chức, Giáo dục Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp

Quốc

Trang 7

3.4 Tình hình thu ngân sách khu DTTC Hương Sơn 54

3.5 Cơ cấu vé thắng cảnh và vé đò ở khu di tích thắng cảnh

3.6 Số lượng vé cáp treo giai đoạn năm 2010-2014 56

3.7 Số lượng CSLT tại Khu di tích - thắng cảnh Hương Sơn giai

3.8 Mức độ quan trọng và mức độ thể hiện trong mô hình IPA 74

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, những quốc gia có lợi thế về điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa, di tích… thường tập trung chú trọng trong việc xây dựng phát triển du lịch Việt Nam chúng ta cũng vậy, với những điều kiện ưu đãi về tự nhiên địa lý, với

bề dày lịch sử dựng nước và chống ngoại xâm, với nền văn hóa đa dạng, phong phú giàu tiềm năng du lịch… chúng ta có thể trở thành một cường quốc du lịch của thế giới trong tương lai Những năm gần đây với sự phát triển khá nhanh của ngành du lịch Việt Nam đã từng bước khẳng định là điểm đến lý tưởng của nhiều du khách trong và ngoài nước Nhu cầu đi du lịch của người dân trong nước cũng như tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển kinh tế của đất nước Nhu cầu đi

du lịch không còn đơn thuần là đi nghỉ dưỡng mà còn có thêm nhu cầu đi thưởng ngoạn, khám phá, học hỏi, nghiên cứu… nhằm tăng thêm vốn kiến thức và thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ về mặt tinh thần

Để phát du lịch, các nước thường tập trung xây dựng những điểm đến du lịch có danh tiếng và thương hiệu trên thị trường du lịch khu vực và quốc tế Việt Nam tự hào giàu tiềm năng du lịch, nhưng các điểm đến du lịch vẫn nghèo nàn, thô sơ và có nhiều vấn đề bất cập Điểm đến du lịch Hương Sơn thuộc Huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, cách Trung tâm Hà Nội khoảng 50Km về phía Nam Từ lâu Hương Sơn được du khách biết đến với lễ hội Chùa Hương, một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất Việt Nam cùng hệ thống các công trình kiến trúc phật giáo cổ kết hợp hài hòa với những hang động, thung lũng suối đã tạo nên một khu danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam

Trong những năm qua, hoạt động du lịch ở Khu Di tích và Thắng cảnh Hương Sơn phát triển rất mạnh đã trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở Hương Sơn nói riêng và huyện Mỹ Đức nói chung Tuy vậy, sự phát triển đang dần bộc lộ ra những bất cập thể hiện qua một loạt các hiện tượng tiêu cực như việc xây dựng trái phép, vệ sinh môi

Trang 9

trường, dịch vụ, hàng quán phát triển tràn lan không theo quy hoạch, hoạt động thuyền đò thiếu tổ chức tất cả đang ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững Hương Sơn và cho thấy cần có một số giải pháp phát triển dịch vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn - Huyện Mỹ Đức - Thành phố

Hà Nội

Với những đòi hỏi ngày càng cao hơn về du lịch, chúng ta cần phải

có những chiến lược phù hợp với điều kiện sẵn có của mình Sự lớn mạnh của ngành du lịch Việt Nam trong tương lai luôn gắn chặt với sự lớn mạnh

du lịch tại nhiều địa phương trong cả nước Với xu hướng phát triển đó, khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn - Huyện Mỹ Đức - Thành phố Hà Nội cũng cần phải có chiến lược cụ thể trong việc phát triển dịch vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn, để tạo tiền đề cho sự phát triển ngành, thu hút được nhiều du khách đến thăm quan trong những năm tiếp

theo Do đó, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Một số giải pháp phát triển dịch

vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn - Huyện Mỹ Đức - Thành phố Hà Nội ” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động dịch vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ du lịch tại khu Di tích và Thắng cảnh Hương Sơn huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội, góp phần nâng cao khả năng thu hút và phục vụ khách du lịch với chất lượng cao hơn

Trang 10

- Chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về dịch vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội, góp phần

nâng cao khả năng thu hút và phục vụ khách du lịch với chất lượng cao hơn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các giải pháp phát triển phát triển dịch vụ du lịch tại khu Di tích và thắng cảnh Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội

3.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu tại khu di tích và thắng

cảnh Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội

* Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu từ năm 2010-2014, thời gian

điều tra từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2015

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ du lịch

- Thực trạng hoạt động dịch vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội

- Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về dịch vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội

- Một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ du lịch tại khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, góp phần nâng

cao khả năng thu hút và phục vụ khách du lịch với chất lượng cao hơn

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, phần nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển dịch vụ du lịch Chương 2 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trang 11

1.1.1.1 Quan niệm về điểm du lịch (Tourism Destination)

Du lịch là hoạt động có hướng đích không gian Người đi du lịch rời khỏi cư trú của mình để đến nơi khác – một địa điểm cụ thể để thỏa mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi Trên phương diện địa lý điểm đến du lịch được xác định theo phạm

vi không gian lãnh thổ Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà một du khách đang thực hiện hành trình đến đó tùy theo mục đích chuyến đi của người đó

Điểm du lịch đóng vai trò quan trọng và quyết định đến sự phát triển du lịch của một đất nước, một địa phương Điểm du lịch là nơi tạo ra sức thu hút đối với khách du lịch ở trong nước và ở nước ngoài Điểm du lịch có tính hấp dẫn và có sức thu hút khách du lịch càng cao thì lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đến càng lớn Dịch vụ và hàng hoá phục vụ khách tiêu thụ càng nhiều về số lượng, đa dạng về cơ cấu và chủng loại, chất lượng cao thì doanh thu càng lớn và hiệu quả kinh tế - xã hội càng cao

Điểm du lịch là nơi đón tiếp và phục vụ khách du lịch trong thời gian

họ nghỉ ngơi và tham quan du lịch tại điểm đến du lịch này Nơi mở rộng được các hoạt động dịch vụ để thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch, thực hiện "xuất khẩu vô hình" các tài nguyên du lịch và "xuất khẩu tại chỗ" dịch vụ

và hàng hoá của địa phương với mục tiêu thu được nhiều ngoại tệ và tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương

1.1.1.2 Các yếu tố cấu thành điểm du lịch

Từ góc độ chung, có thể cho rằng điểm là tập trung các tiện nghi và dịch vụ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của du khách Hầu hết các điểm du lịch bao gồm một hạt nhân cùng các yếu tố sau:

Trang 12

- Điểm hấp dẫn du lịch: Các điểm hấp dẫn của một điểm đến du lịch dù mang đặc điểm nhân tạo, đặc điểm tự nhiên hoặc là các sự kiện thì cũng đều gây ra động lực ban đầu cho sự đến thăm của khách du lịch

- Giao thông đi lại: Giao thông vận chuyển khách ở điểm đến sẽ làm tăng thêm chất lượng của điểm đến Các kinh nghiệm cho thấy, sự phát triển

và duy trì giao thông có hiệu quả nối liền với các thị trường nguồn khách là điểm cho sự căn bản của thành công của các điểm đến

- Nơi ăn nghỉ: Các dịch vụ lưu trú của điểm đến không chỉ cung cấp nơi

ăn nghỉ mang tính chất giải trí mà còn được tạo cảm giác chung về sự tiếp đãi cuồng nhiệt và ấn tượng khó quên về món ăn và đặc sản địa phương

- Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ: Du khách đòi hỏi một loạt các tiện nghi, phương tiện và các dịch vụ hỗ trợ tại điểm đến du lịch

1.1.1.3 Hậu cần phục vụ khách du lịch tại một điểm du lịch

Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), “có khoảng 70 dịch vụ trực tiếp liên quan đến việc cung cấp dịch vụ du lịch, ngoài ra có khoảng 70 hoạt động khác có liên quan đến việc cung cấp dịch vụ du lịch” tại các điểm du lịch Theo sự phân loại của Tổ chức Du lịch thế giới những sản phẩm đặc trưng và các hoạt động đặc trưng của ngành du lịch bao gồm:

- Cơ sở hạ tầng đón tiếp khách: đó là hệ thống đường bộ, sân bay, bến cảng, ga xe lửa, bến đỗ xe ôtô Hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp điện năng

- Các loại phương tiện vận chuyển khách du lịch: Thuyền đò, cáp treo,

xe điện,

- Các loại cơ sở lưu trú: khách sạn các loại, motel, bungalows, biệt thự, nhà khách, nhà nghỉ giá bình dân và sang trọng

- Các loại cơ sở phục vụ ăn: nhà hàng các loại Âu, á,

- Các loại cơ sở phục vụ uống: Bar, Cafeteria, pub, club,

Trang 13

- Các loại cơ sở tham quan: Các điểm du lịch như hang động, hệ thống đình, đền, chùa

- Các loại cơ sở phục vụ giải trí: vũ trường, casino, nhà biểu diễn

ca nhạc, các loại hình nghệ thuật, rạp chiếu phim, rạp xiếc

- Các loại cơ sở phục vụ thể thao: sân tenis, sân cầu lông, sân tập golf, sân bóng đá, bóng chuyền, bóng rổ , bể bơi Các cơ sở cho thuê phương tiện thể thao: thuyền, xe đạp, mô tô, ôtô

- Các cơ sở bán hàng lưu niệm và các loại hàng hoá khác cho khách du lịch Các cơ sở dịch vụ tại điểm đến hoặc điểm du lịch rất phong phú và đa dạng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh thị trường và nhu cầu của khách cũng như các

cơ chế, chính sách, luật pháp của nhà nước quy định trong hoạt động kinh doanh du lịch

1.1.1.4 Vị trí và vai trò của điểm đến du lịch trong phát triển du lịch

* Vị trí của điểm đến du lịch

Theo quan niệm của điểm đến du lịch được trình bày ở trên, ta thấy vị trí của điểm du lịch đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động du lịch, nó quyết định đến hình thức chuyến đi, loại hình du lịch, mục đích chuyến đi

và sản phẩm du lịch mang tên gắn liền với vị trí của điểm du lịch đó

- Vị trí của điểm du lịch quyết định hình thức chuyến đi, loại hình du lịch:

Vị trí điểm du lịch trong một quốc gia cho chúng ta tạo ra loại hình, hình thức du lịch nội địa, như chúng ta là người Việt, các vị trí điểm du lịch nằm trong phạm vi quốc gia Việt Nam (như Hà Nội, Hạ Long, Sài Gòn, Phú Quốc ) loại hình này là du lịch nội địa Vị trí điểm du lịch gần nơi xuất phát cho phép người đi du lịch sử dụng ngắn ngày hay dài ngày, nó tạo ra cho chuyến đi là loại hình du lịch ngắn ngày hay dài ngày (Như chúng ta xuất phát

từ Hà Nội đi Hạ Long quãng đường ngắn, cho phép dịch chuyển thời gian từ nơi xuất phát đến vị trí điểm đến ngắn hay chúng ta thực hiện hành trình

Trang 14

xuyên việt dọc theo chiều dài của Việt Nam thực hiện trong một hành trình dài, mất nhiều thời gian)

Vị trí điểm du lịch nằm ngoài quốc gia của điểm xuất phát, cho chúng ta loại hình, hình thức du lịch là đi du lịch quốc tế (như các điểm đến là Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Singapore )

- Vị trí điểm du lịch tạo ra mục đích của chuyến đi:

Vị trí điểm du lịch là du lịch biển thì du khách thực hiện hành trình đó

là du lịch biển Ví dụ chúng ta đến với biển Sầm Sơn, Của Lò mục đích của chuyến đi thuần túy là đi tham quan du lịch biển, đi vào mùa hè Chuyến đi thưởng thức khí hậu cảnh quan đặc trưng như đi Sa Pa, Đà Lạt Chuyến đi đến các điểm đặc trưng như các đấu trường thể thao thường dành cho các chương trình du lịch đặc trưng kết hợp với du lịch thi đấu thể thao như các đại hội thể thao lớn tầm cỡ quốc gia, quốc tế

Vị trí điểm là các suối nước khoáng nóng dùng để chữa bệnh thì du khách sẽ có chuyến đi du lịch với mục đích là chữa bệnh nghỉ dưỡng như: suối khoáng nóng Kim Bôi, Kênh Gà

Vị trí điểm là các di tích lịch sử, các công trình văn hóa tài nguyên nhân văn cho ta thấy mục đích chuyến đi là tham quan tài nguyên du lịch nhân văn Bên cạnh đó, khách du lịch tập trung vào nghiên cứu tài nguyên tại điểm đến, nghiên cứu và học tập

Vị trí của điểm tham quan kết hợp cùng với hội nghị hội thảo, chúng ta gọi mục đích chuyến đi ấy là sản phẩm du lịch hội nghị, hội thảo hay còn gọi

là du lịch Mice Sản phẩm du lịch mang tên gắn liền với vị trí của điểm du lịch đó: khách du lịch đến với biển mang tên du lịch biển (biển Cửa Lò, biển Phan hiết ); khách du lịch đến với Tây Bắc thường là du lịch văn hóa bản địa, du lịch thăm lại chiến trường xưa như: khách đến với Điện Biên Phủ, chiến trường Quảng Trị, căn cứ địa cách mạng hay du lịch ra nước ngoài như đến Thái Lan, Trung Quốc, các nước Châu Âu

Trang 15

Như vậy, vị trí điểm du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển du lịch không chỉ của Việt Nam mà còn của tất cả các quốc gia phát triển du lịch và lấy du lịch là ngành kinh tế dịch vụ chủ đạo chiến lược

* Vai trò của điểm đến du lịch

Điểm đến du lịch đóng vai trò rất lớn trong việc tạo ra sản phẩm du lịch; tạo ra các giá trị khai thác du lịch, dịch chuyển kinh tế, vật chất, tinh thần

và nguồn lao động cho nơi có điểm; tạo ra giá trị hưởng thụ và ý nghĩa cho du khách sử dụng chuyến đi

+ Sản phẩm bổ sung: điểm du lịch tạo ra sản phẩm bổ sung trong chuyến đi, du khách có thể kết hợp tham quan ngay trong chuyến đi, những điểm đó không đóng vai trò quan trọng, mục đích chủ đạo trong chuyến đi danh thắng quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh - điểm này đóng vai trò là sản phẩm phụ bổ sung sản phẩm chính du lịch bãi biển Cửa Lò)

+ Sản phẩm truyền thống quốc tế: Điểm là các quốc gia ngoài lãnh thổ Việt Nam như Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Singapo Nói đến du lịch Thái Lan các chương trình du lịch quốc tế truyền thống là đi Bangkoc -Pattaya; đi Trung Quốc: Bắc Kinh - Thượng Hải hay Quảng Châu - Thâm Quyến

+ Sản phẩm hỗn hợp: Điểm du lịch tạo nên các sản phẩm du lịch hỗn hợp (sản phẩm chính, sản phẩm phụ) làm cho chuyến đi đa dạng, du khách được hưởng thụ các dịch vụ trong chuyến đi (hành trình du lịch xuyên Việt

Trang 16

dọc theo chiều dài đất nước hình chữ S của Việt Nam, du khách được thưởng thức hỗn hợp các sản phẩm du lịch đặc trưng của du lịch Việt Nam)

+ Sản phẩm du lịch tự nhiên, nhân văn và phi vật thể: Điểm du lịch được khai thác từ các tài nguyên tự nhiên thì cho chúng ta các sản phẩm du lịch tự nhiên như các bãi biển, các hồ nước, các vườn quốc gia, các cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn

Điểm là các tài nguyên du lịch nhân văn như di tích lịch sử văn hóa, đình, đền, miếu mạo hay các tác phẩm văn hoc nghệ thuật, các công trình kiến trúc độc đáo được khai thác vào mục đích tham quan du lịch Người ta gọi

là sản phẩm du lịch nhân văn

Điểm là các tài nguyên du lịch phi vật thể, du khách được thưởng thức các sản phẩm du lịch phi vật thể mà chỉ ở đó du khách mới được thụ hưởng sản phẩm du lịch đó (chúng ta đến Cố đô Huế - du khách tham quan và thưởng thức Di sản văn hóa thế giới phi vật thể Nhã nhạc Cung Đình Huế, Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây nguyên, thưởng thức làn điệu quan Họ Bắc Ninh hay các nét đẹp văn hóa dân tộc ít người vùng Tây Bắc )

- Tạo ra các giá trị khai thác du lịch, dịch chuyển kinh tế, vật chất, tinh thần và nguồn lao động cho nơi có điểm du lịch

Mỗi một điểm đến được đưa vào khai thác du lịch, nó có ý nghĩa rất quan trọng cho điểm du lịch đó Nó mang lại các giá trị kinh tế dịch vụ du lịch khác từ hoạt đông du lịch, nó làm cho kinh tế khu vực đó thay đổi; vật chất và tinh thần của người dân tại điểm du lịch cũng thay đổi phát triển, lao động tại vùng có nhiều công ăn việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo nhiều ngành nghề cho lao động tại địa phương, nguời dân được hưởng lợi từ việc kinh doanh khai thác tài nguyên làm du lịch đó

- Tạo ra giá trị hưởng thụ và ý nghĩa cho du khách sử dụng chuyến đi

Du khách đến các điểm tham quan được thưởng thức, khám phá tìm về điểm du lịch, hiểu về nó, mở rộng cảm quan của mình về tài nguyên, con

Trang 17

người và vốn văn hóa hay thưởng thức ẩm thực đặc trưng tại điểm đến, mang lại một ý nghĩa quan trọng cho du khách khi đến đó tham quan (du khách đến

Cố Đô Huế - ngoài các giá tri lịch sử kiến trúc, ý nghĩa lịch sử của một Cố Đô xưa, quý khách còn được thưởng thức các loại ẩm thực Huế; du khách tham quan miệt vườn sông nước Cửu Long, ngoài khám phá ẩm thực

Bên cạnh những giá trị tích cực của điểm du lịch mang lại cho chính nơi khai thác du lịch thì nó cũng tạo ra các tác động tiêu cực Nên điểm du lịch, nếu như các địa phương nơi có điểm du lịch không có chiến lược phát triển du lịch bền vững sẽ làm xã hội tại đó bị phân hóa theo chiều không tích cực, văn hóa bị phá vỡ truyền thống, môi trường bị ô nhiễm, cảnh quan bị xâm hại, tệ nạn xã hội phát triển nhanh, trong quá trình phát triển đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức, làm thế nào vừa bảo tồn vừa phát triển cho điểm

Như vậy, có thể hiểu sản phẩm du lịch được hợp thành bởi những bộ phận sau (xét theo quá trình tiêu dùng của khách du lịch trên chuyến đi du lịch):

- Dịch vụ vận chuyển;

- Dịch vụ lưu trú, ăn nuống;

- Dịch vụ tham quan, giải trí;

- Hàng hóa tiêu dùng và đồ lưu niệm;

- Các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch

Trang 18

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch

Theo Điều 4 – khoản 11 – Luật Du lịch Việt Nam (2005): Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch [4]

1.1.2.2 Phân loại

Có hai loại sản phẩm du lịch cơ bản:

- Sản phẩm du lịch hữu hình, tồn tại ở dạng vật thể: Ví dụ: Đồ lưu

niệm, các món ăn, đồ uống khách du lịch sử dụng trong nhà hàng, Sản phẩm dạng này chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong sản phẩm du lịch nói chung

- Sản phẩm du lịch vô hình, tồn tại ở dạng phi vật thể và chỉ có thể biết

được thông qua cảm nhận của khách du lịch Dạng sản phẩm này mang tính dịch vụ bao gồm:

+ Dịch vụ lưu trú và các dịch vụ bổ sung ở các cơ sở lưu trú;

+ Các dịch vụ của các tổ chức du lịch;

+ Dịch vụ giải trí công cộng ở các cơ sở du lịch;

+ Dịch vụ lưu trú chữa bệnh và các dịch vụ tắm nghỉ gắn liền với nó; + Dịch vụ của các cơ sở thể thao;

Trang 19

Sản phẩm du lịch được tạo ra căn bản nhờ yếu tố tài nguyên du lịch, vì vậy, sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được Khác với sản phẩm của các hàng hóa tiêu dùng thông thường, sản phẩm du lịch chỉ có thể ở tại chỗ, khách du lịch bắt buộc phải tìm đến nơi có sản phẩm du lịch Đặc điểm này cho thấy sản phẩm du lịch là rất đặc biệt nhưng cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho các nhà kinh doanh du lịch trong việc tiêu thụ sản phẩm

Phần lớn quá trình tạo ra sản phẩm và tiêu dùng sản phẩm trong hoạt động du lịch là trung nhau về cả không gia cũng như thời gian Sản phẩm du lịch không thể lưu kho, cất trữ như sản phẩm của các hàng hóa thông thường

Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn, mà có thể chỉ tập trung vào một thời điểm nhất định như cuối tuần (với hoạt động du lịch cuối tuần), trong ngày (với hoạn động phục vụ ăn uống trong nhà hàng), trong mùa (với các sản phẩm du lịch ở các địa phương có mùa du lịch), Do

đó, hoạt động du lịch thường mang tính mùa vụ khá rõ rệt và đây cũng là một trong những khó khăn lớn cho việc tổ chức hoạt động kinh doanh

- Tính phi vật chất Đây là tính chất quan trọng nhất của sản xuất dịch

vụ du lịch Tính phi vật chất đã làm cho du khách không thể nhìn thấy hay thử nghiệm sản phẩm từ trước Khách du lịch chỉ có thể được sử dụng sản phẩm dịch vụ du lịch khi học chính thức bắt đầu mua sản phẩm và thông qua cảm nhận của họ, sản phẩm du lịch phi vật chất đó là hoàn hảo, tốt hay không tốt

Trang 20

Đánh giá qua cảm nhận của khách hoàn toàn do cảm nhận chủ quan hay khách quan của khách du lịch Đó là đặc tính rất đặc biệt, cho nên đối với du khách thì dịch vụ du lịch là trừu tượng khi mà họ chưa một lần tiêu dùng nó

Dịch vụ du lịch luôn được sử dụng song hành, đồng thời với những sản phẩm vật chất nhưng không thay đổi tính phi vật chất của mình, vì vậy, du khách rất khó đánh giá dịch vụ

Từ đặc điểm này, nhà cung ứng dịch vụ du lịch phải cung cấp đầy đủ các thông tin nhấn mạnh tính lợi ích của dịch vụ mà không đơn thuần là mô tả dịch vụ, từ đó làm cho du khách quyết định mua dịch vụ của mình

- Tính trùng khớp thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng dịch vụ du lịch. Đây

là một đặc điểm hết sức quan trọng, thể hiện sự khác biệt giữa dịch vụ và hàng hoá Đối với hàng hóa (vật chất) thông thường thì quá trình sản xuất và tiêu dùng là tách rời nhay, không cùng trong một thời điểm Người ta có thể sản xuất hàng hóa ở một nơi khác và ở một thời gian khác với nơi bán và tiêu dùng

Còn đối với dịch vụ du lịch thì gần như thời gian sản xuất ra sản phẩm

du lịch trùng khớp với thời gian tiêu dùng sản phẩm Bản thân sản phẩm du lịch cũng mang tính vô hình, phi vật chất nên không thể đem sản phẩm du lịch bán từ nơi này sang nơi khác như các hàng hóa vật chất thông thường mà chúng ra vẫn luôn tiêu dùng hàng ngày Do tính đồng thời, trùng khớp như trên nên sản phẩm dịch vụ du lịch không thể lưu kho được Ví dụ như một chương trình du lịch 3 ngày 2 đêm được chào bán cho khách du lịch thì thời gian ấy chính là lúc sản phẩm du lịch vừa được hình thành đồng thời với hành trình của khách và cảm nhận của khách về chất lượng sản phẩm

Dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời nên cung - cầu cũng không thể tách rời nhau Vì vậy việc tạo ra sự ăn khớp giữa cung và cầu trong

du lịch là hết sức quan trọng

Trang 21

- Có sự tham gia của khách du lịch trong quá trình tạo ra dịch vụ

Trong một chừng mực nhất định, khách du lịch đã trở thành nội dung của quá trình sản xuất

Sự tác động tương tác giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ du lịch phụ thuộc vào mức độ lành nghề, khả năng và ý nguyện của cả hai bên

Vì vậy, cảm giác, sự tin tưởng, tình thân thiện về cá nhân, mối liên kết và những mối quan hệ trong dịch vụ được coi trọng hơn khi mua bán những hàng hoá khác

Mức độ hài lòng của khách phụ thuộc vào sự sẵn sàng và khả năng phục vụ của nhân viên, thái độ và sự giao tiếp với khách hàng còn quan trọng hơn cả những tiêu chí kỹ thuật Vì vậy trong quá trình cung cấp dịch vụ đòi hỏi phải tăng cường sự liên hệ của của người sản xuất với khách hàng

- Tính không chuyển đổi quyền sở hữu dịch vụ Trong quá trình cung

cấp dịch vụ, không có quyền sở hữu nào được chuyển dịch từ người bán sang người mua Người mua chỉ mua chỉ mua quyền đối với tiến trình cung cấp dịch vụ, tức là du khách chỉ được chuyên chở, được ở khách sạn, được sử dụng bãi biển mà không được quyền sở hữu chúng

- Tính không thể di chuyển của dịch vụ du lịch Các cơ sở du lịch vừa

là nơi sản xuất, vừa là nơi cung ứng dịch vụ nên khách du lịch muốn tiêu dùng dịch vụ thì phải đến các cơ sở du lịch

Vì vậy khi xây dựng các điểm du lịch cần chú ý đến các điều kiện tự nhiên (như địa hình, địa chất, thuỷ văn, khí hậu, tài nguyên, môi trường sinh thái) và điều kiện xã hội (dân số, dân sinh, phong tục tập quán, chính sách kinh tế, khả năng cung ứng lao động, cơ sở hạ tầng, ) nhằm nâng cao chất lượng phục vụ và đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh Đồng thời phải tiến hành các hoạt động xúc tiến và quảng bá mạnh mẽ để thu hút du khách đến với điểm du lịch

Trang 22

- Tính thời vụ của du lịch Tính thời vụ của du lịch được tác động bởi

các nguyên nhân mang tính tự nhiên và xã hội Đặc điểm này dễ dẫn đến tình trạng cung cầu dịch vụ mất cân đối với nhau, gây lãng phí cơ sở vật chất và con người lúc trái vụ đồng thời có nguy cơ giảm sút chất lượng phục vụ khi gặp cầu cao điểm

Để hạn chế tình trạng này, các doanh nghiệp cần phải đưa ra các chương trình khuyến khích khách đi nghỉ trái vụ hoặc tổ chức quản lý tốt hàng chờ khi cầu cao điểm

- Tính trọn gói của dịch vu du lịch Dịch vụ du lịch thường là dịch vụ

trọn gói, bao gồm các dịch vụ cơ bản, dịch vụ bổ sung, dịch vụ đặc trưng

Dịch vụ cơ bản là những dịch vụ chính mà nhà cung ứng du lịch cung cấp cho khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu cơ bản, không thể thiếu được với khách hàng như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ phòng, dịch vụ nhà hàng, bar,

Dịch vụ bổ sung là những dịch vụ phụ cung cấp cho khách hàng nhằm thỏa mãn các nhu cầu không bắt buộc như dịch vụ cơ bản nhưng phải có trong chuyến hành trình của du khách Nhiều khi dịch vụ bổ sung lại có tính chất quyết định cho sự lựa chọn của khách và có ảnh hưởng quan trọng đến sự thỏa mãn toàn bộ của khách hàng đối với dịch vụ trọng gói của doanh nghiệp Chảng hạn, nếu khách sạn có số lượng dịch vụ bổ sung càng phong phú, chất lượng của dịch vụ cao thì ngay cả khi giá cả không rẻ khách vẫn đến đông và khi đó khách sạn sẽ rất có hiệu quả vì hệ số sử dụng phòng cao, khách lưu trú dài ngày và tỷ lệ khách quay lại thường cao hơn so với loại khách sạn có ít dịch vụ

Dịch vụ đặc trưng là những dịch vụ thỏa mãn nhu cầu đặc trưng của du khách như: tham quan, tìm hiểu, vui chơi giải trí, thể thao, , Việc thỏa mãn các nhu cầu này cũng chính là nguyên nhân và là mục đích của chuyến du lịch Tính chất trọn gói của dịch vụ du lịch xuất phát từ nhu cầu đa dạng và

Trang 23

tổng hợp của du khách, đồng thời nó đòi hỏi tính chất đồng bộ của chất lượng dịch vụ

- Tính không đồng nhất trong dịch vụ du lịch Dịch vụ du lịch thường bị

cá nhân hoá và không đồng nhất giữa các khách hàng với nhau vì du khách muốn được chăm sóc như là những con người riêng biệt Vì thế doanh nghiệp rất khó đưa ra các tiêu chuẩn dịch vụ nhằm thoả mãn tất cả khách hàng trong mọi hoàn cảnh

1.1.2.4 Những yếu tố cơ bản của dịch vụ du lịch

Cũng như tất cả những sản phẩm khác, dịch vụ du lịch gồm nhiều yếu

tố kết hợp với nhau để cung cấp cho thị trường mục tiêu những sự thoả mãn

và lợi ích của khách hàng

* Những yếu tố cấu thành cơ bản: Mọi dịch vụ du lịch gồm những yếu

tố cơ bản thiên nhiên hoặc nhân tạo như:

- Cảnh quan địa lý thiên nhiên (bãi biển, núi rừng);

- Các thành phố hoặc làng mạc nằm trên những cảnh quan đó;

- Điều kiện khí hậu;

- Di tích lịch sử;

Những yếu tố thiên nhiên như thác Niagara, Canyon du Colorado, vịnh

Hạ Long, những yếu tố nhân tạo như Kim Tự Tháp (Ai Cập), Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc), các lăng tẩm vua chúa ở Huế (Việt Nam)

* Môi trường kế cận: Nếu những yếu tố thiên nhiên là những nguồn dịch vụ

du lịch thì chúng phải được bao bọc bằng những vùng chung quanh thật lôi cuốn

* Dân cư địa phương: Du lịch tạo điều kiện cho du khách tiếp xúc với

dân cư bản xứ Thường dân tộc bản xứ có những nếp sống và văn hóa khác lạ

so với du khách Mối quan hệ giữa họ có thể làm phát sinh mâu thuẫn Cho nên, thái độ của dân bản xứ ảnh hưởng lớn đến sự cảm nhận mà du khách có đối với dịch vụ du lịch, không nên coi nhẹ vấn đề này

Trang 24

* Náo hoạt và bầu không khí: Phần lớn, du lịch gồm những yếu tố kích

thích tâm hồn và cảm xúc Những khía cạnh như mỹ học và bầu không khí là những yếu tố quyết định trong việc đánh giá một dịch vụ du lịch Câu lạc bộ Địa Trung Hải là một ví dụ thành công về việc náo hoạt du lịch

* Trang thiết bị công cộng về giải trí: Nếu những yếu tố cơ bản của dịch

vụ du lịch thường khó thay đổi, thì ngược lại những trang thiết bị công cộng có thể làm thay đổi bản chất sản phẩm và thoả mãn nhu cầu cho khách du lịch

Vì vậy, xây dựng một trung tâm hội nghị ở trong thành phố, một khu vui chơi giải trí, một khu thể thao, một sân golf là những ví dụ làm thay đổi dịch vụ du lịch của một thành phố hoặc một điểm du lịch

* Cơ cấu lưu trú, nhà hàng, cơ sở thương mại: Người ta định nghĩa, một

người được gọi là du khách khi người đó ra khỏi nhà ở chính của mình trong một thời gian nhất định Lúc ấy, lưu trú và ăn uống là những sản phẩm quan trọng của dịch vụ du lịch Để lưu trú, du khách có thể ở khách sạn, cắm trại, ở nhà trọ Trong những năm gần đây, hệ thống nhà trọ rất phát triển

Cơ cấu lưu trú làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm Có những bãi biển thiên nhiên tuyệt vời, nhưng lại không có bãi tắm cao cấp cũng không tốt Các khách sạn, nhà hàng, trung tâm thương mại kế cận một bãi biển sẽ làm cho một trung tâm tắm biển có tính ưu tú hơn

* Hạ tầng giao thông: Du lịch hàm ý một sự di chuyển của du khách ra

khỏi nhà để đến chỗ lưu trú Cho nên đường sá, sân bay, bến cảng là những điều kiện để sự di chuyển đó có thể diễn ra trong những điều kiện tốt nhất (ít mệt, ít tốn thời gian) và chi phí thấp nhất

Trong trường hợp ấy, đối với một trung tâm trượt tuyết, hạ tầng đường

xá là một yếu tố của dịch vụ du lịch để kích thích người trượt tuyết Đối với một trung tâm du lịch quốc tế thì hạ tầng sân bay mới có thể thương mại hóa những thị trường xa xôi Cũng vậy, những phương tiện đi lại trong trung tâm

Trang 25

(xe bus, taxi ) và các điều kiện đi lại là những yếu tố không thể coi thường bên trong dịch vụ du lịch

* Hình ảnh: Đối với du khách, hình ảnh du lịch được thông qua các

nhân viên dịch vụ, các tập giới thiệu, những người tổ chức du lịch hoặc bạn

bè của họ Vì sự chọn lựa một chuyến đi du lịch bị tác động bởi rất nhiều yếu

tố nên sự phân khúc thị trường, sự chọn lựa thị trường là rất quan trọng để xây dựng một hình ảnh nhằm thu hút du khách

1.1.3 Phát triển dịch vụ du lịch

1.1.3.1 Quan điểm về phát triển dịch vụ du lịch

Phát triển dịch vụ là hệ thống các biện pháp, phương pháp nhằm gia tăng không chỉ số lượng, chất lượng dịch vụ và loại hình dịch vụ để cung ứng tốt hơn các dịch vụ cho du khách và đem lại lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp và những người lao động trong các doanh nghiệp đó

Phát triển dịch vụ du lịch là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của toàn lĩnh vực dịch vụ du lịch Nó bao gồm sự tăng trưởng quy mô, số lượng, loại

hình và đồng thời nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ

1.1.3.2 Nội dung cơ bản của phát triển dịch vụ du lịch

Phát triển dịch vụ du lịch là một trong những nội dung quan trọng trong việc phát triển ngành du lịch, đặc biệt trong bối cảnh du lịch Việt Nam rất thiếu những sản phẩm có chất lượng và độc đáo để cung cấp và níu giữ chân khách du lịch Phát triển dịch vụ du lịch là quá trình không chỉ gia tăng số lượng các dịch vụ mà còn cả việc nâng cao chất lượng các dịch vụ cũng như hoàn thiện các điều kiện cung ứng

Trang 26

- Phát triển dịch vụ mới bằng cách bổ sung điều chỉnh tính năng cho từng đối tượng khách hàng để có sản phẩm mới

- Liên kết nhiều dịch vụ thành dịch vụ mới trọn gói Những dịch vụ trọn gói này cũng có thể hướng tới từng đối tượng khách hàng khác nhau

- Gia tăng quy mô từng dịch vụ du lịch Phát triển qui mô của từng dịch

vụ có nghĩa là tập trung phát triển

* Chất lượng dịch vụ du lịch

+ Đa dạng hóa các loại hình sản phẩm du lịch

- Sự đa dạng hoá của các loại hình dịch vụ biểu hiện ở số lượng và chủng loại của hệ thống các dịch vụ cung cấp Sự đa dạng này đem lại nhiều

cơ hội lựa chọn cho khách hàng

Chẳng hạn: Khu vực lưu trú: biểu hiện ở số lượng phòng tối thiểu, cơ cấu phòng với các mức giá khác nhau; Khu vực ăn uống: biểu hiện ở sự phong phú của thực đơn (về số lượng và chất lượng) và định suất ăn linh hoạt; khu vực lữ hành là số lượng tuyến, chương trình du lịch và sự đa dạng của các chương trình trong một chuyến du lịch

+ Không ngừng duy tu bảo dưỡng và nâng cấp CSVCKTDL

- Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch quyết định chất lượng điều kiện thực hiện dịch vụ Đó chính là chất lượng của các trang thiết bị, sự đồng bộ giữa chúng và

tổ chức hợp lý đảm bảo sự thuận lợi cho cả người phục vụ và du khách

- Mức độ ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của yếu tố này còn phù thuộc vào mỗi đối tượng khách

+ Chất lượng của đội ngũ lao động & phương hướng thực hiện các dịch vụ

- Đội ngũ lao động trong ngành du lịch có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng dịch vụ du lịch

- Chất lượng đội ngũ lao động du lịch được đánh giá dựa vào trình độ của người lao động (Chuyên môn, nghiệp vụ, học vấn, ngoại ngữ, khả năng giao tiếp)

và tinh thần thái độ phục vụ cũng như tinh thần tập thể trong công việc

Trang 27

1.1.3.3 Các tiêu chí đánh giá phát triển dịch vụ du lịch

* Tiêu chí đánh giá về số lượng dịch vụ du lịch:

- Gia tăng số lượng các dịch vụ

- Sự gia tăng số lượng các dịch vụ đạt tiêu chuẩn chất lượng quy định

và tiêu chuẩn quốc tế

* Tiêu chí đánh giá về chất lượng dịch vụ du lịch:

Chất lượng dịch vụ du lịch thường được đánh giá dựa trên hệ thống chỉ tiêu sau:

- Sự đa dạng hóa của dịch vụ: chủng loại sản phẩm, dịch vụ

- Chất lượng của các điều kiện thực hiện dịch vụ gồm những yếu tố về

cơ sở vật chất kỹ thuật trang bị cho dịch vụ du lịch như: mức độ tiện nghi của trang thiết bị, độ thẩm mỹ của khách sạn, nhà hàng, cách bài trí, thiết kế

- Chất lượng của đội ngũ lao động phục vụ dịch vụ du lịch Đây là một yếu tố rất quan trọng tác động lớn đến việc đánh giá của khách hàng

Để phản ánh chất lượng của đội ngũ lao động thường dựa vào các chỉ tiêu cụ thể sau: trình độ học vấn; trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ, khả năng giao tiếp, nắm bắt tâm lý của khách hàng ; tinh thần, thái độ phục vụ; phẩm chất đạo đức

Ngoài ra, còn dựa vào các tiêu chí sau đây:

- Mức gia tăng doanh thu từ dịch vụ du lịch

- Mức tăng tổng lượng khách và số ngày lưu trú sử dụng dịch vụ du lịch

- Mức tăng chi tiêu của du khách

1.1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ du lịch

a) Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch

+ Tài nguyên thiên nhiên:

Các điều kiện tự nhiên đóng vai trò là những tài nguyên thiên nhiên về

du lịch là: Địa hình đa dạng, khí hậu ôn hòa, động thực vật phong phú, giàu nguồn tài nguyên nước và ví trí địa lý thuận lợi

Trang 28

+ Tài nguyên nhân văn:

Là giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ỹ nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch ở một địa điểm Chúng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu và mục đích khác nhau của chuyến đi

b) Chính sách và cơ chế quản lý các loại hình dịch vụ du lịch

c) Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng nhất là hạ tầng du lịch

d) Môi trường chính trị - xã hội, môi trường du lịch của đất nước, địa phương e) Chất lượng nguồn nhân lực cho lĩnh vực dịch vụ du lịch

f) Đầu tư phát triển dịch vụ du lịch

1.1.3.5 Vai trò của phát triển dịch vụ du lịch đối với phát triển du lịch

- Phát triển dịch vụ du lịch làm gia tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hóa cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường, tăng giá trị xuất khẩu

- Phát triển dịch vụ du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đặc biệt là trao đổi ngành nghề

- Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

- Hệ số nhân trong phát triển dịch vụ du lịch

1.2 Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ du lịch trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ du lịch một số nước trên thế giới

Trong tình hình kinh tế hiện nay, khi lựa chọn đi du lịch nước ngoài,

phần đông du khách Việt hướng đến các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Campuchia, Myanmar… vì sự gần gũi về địa lý, không quá cách biệt về lối sống, văn hóa, và đặc biệt là chi phí vừa phải Tuy nhiên, các chuyên gia về lữ hành khuyến cáo khách hàng nên cân nhắc trước khi quyết định chọn đơn vị cung cấp cũng như tìm hiểu kỹ về chất lượng các dịch vụ bao gồm trong chương trình du lịch

Trang 29

1.2.1.1 Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ du lịch tại nước Sigapore:

Theo thống kê từ Tổng cục Du lịch Singapore

Vào năm 2015, họ sẽ đón tiếp trên 7 triệu du khách và thu về 30 tỉ SGD Phần lớn nguồn thu này là từ công nghệ du lịch BTMICE (Business Traveller, Meetings, Incentives, Conventions and Exhibitions - du lịch thương mại, gặp gỡ, khen thưởng, hội nghị và triển lãm) Không thỏa mãn với những thành quả đạt được, Singapore đang tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như nỗ lực quảng bá khắp thế giới Một khoản tiền cỡ 2 tỉ SGD được dành riêng để phục vụ cho mục tiêu phát triển BTMICE trong thời gian tới

- Sự thuyết phục trong công nghệ du lịch của Singapore nằm ở tầm nhìn chiến lược vĩ mô của chính quyền và sự phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức, công

ty và ý thức của từng người dân Nhằm quảng bá cho BTMICE, Tổng cục Du lịch Singapore đã mời một số công ty bảo hiểm tại Việt Nam sang Singapore khảo sát về cơ sở vật chất và các dịch vụ liên quan đến công nghệ du lịch Từ cơ

sở hạ tầng đến các dịch vụ, luôn luôn có sự thay đổi để có thêm những lựa chọn mới cho khách

Hai trung tâm lớn nhất hiện nay phục vụ cho hoạt động hội nghị, triển lãm của Singapore là Suntec Singapore và Singapore EXPO Suntec Singapore được mệnh danh là “thành phố hội nghị của châu Á” vì nó không chỉ để phục vụ cho hội nghị, triển lãm, mà còn bao gồm nhiều dịch vụ khác Đây là khối năm tòa nhà được xây dựng như một cụm năm ngón tay trên bàn tay trái mà ở giữa lòng bàn tay là đài phun nước lớn nhất thế giới, theo Phong thủy là để đem lại may mắn và thịnh vượng Suntec Singapore rộng 75.000

m2 dành cho các hoạt động hội họp, 5.200 phòng khách sạn, 1.000 cửa hàng,

300 nhà hàng và một trung tâm trình diễn nghệ thuật hàng đầu thế giới

Trung bình, hàng tháng nơi đây đón tiếp hai triệu khách tham quan Tất

cả đều có thể diễn ra ở đây, từ một hội nghị có quy mô nhỏ đến một sự kiện cho mười ngàn người tham gia Hội trường lớn nhất của Suntec Singapore

Trang 30

rộng tới 10.600m2, đặc biệt nhất là không hề có một cây cột nào trong hội trường, được trang bị hệ thống âm thanh, ánh sáng hiện đại, có thể đáp ứng được cho nhiều mục đích khác nhau, từ một buổi trình diễn nhạc trẻ, thời trang cho đến các buổi hội họp có tính chất trang trọng Hệ thống chỗ ngồi có thể cơ động để sắp xếp cho phù hợp với quy mô của từng sự kiện

Với một quần thể các công trình đa dạng, nhiều không gian chức năng khác nhau như vậy, nhưng điều thú vị là chỉ cần đi bộ là có thể khám phá được tất cả Đây là một trong những niềm tự hào của người dân Singapore:

“A City within a City”

Từ Sân bay quốc tế Changi, chỉ cần bắt một tuyến MRT là có thể đến với Singapore EXPO Vị trí này vô cùng thuận lợi cho các hoạt động triển lãm, hội nghị… Nếu không có thời gian, các quan khách chỉ đáp một chuyến bay, ghé vào tham dự hội nghị hoặc một triển lãm đang diễn ra rồi trở lại phi trường rất thuận tiện Khai trương vào năm 1999, Singapore EXPO bao gồm sáu khu triển lãm, mỗi khu rộng 10.000 m2, có mười hội trường lớn và chín phòng họp… Có thể xem đây là một trong những trung tâm triển lãm hội nghị hàng đầu của khu vực

Với hơn 400 sự kiện diễn ra hàng năm, trung bình mỗi năm ở đây thu hút khoảng sáu triệu khách tham quan Cũng tập trung ở đây là nhiều nhà hàng, quán cà phê, vì vậy, dù chỉ ghé thăm một thời gian ngắn, ai cũng có thời gian để thưởng thức các món ăn đậm đà hương vị phương Đông tại các nhà hàng như Lerk Thai, Daawat Tandoori…

Không chỉ ở Suntec Singapore và Singapore EXPO, tất cả những điểm

du lịch đều có cơ sở vật chất và dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của loại hình

du lịch BTIMICE Bạn có thể tổ chức một buổi họp nhanh gọn trên cabin của vòng xoay của chiếc đu quay Singapore Flyer Có thể cùng các đồng nghiệp tham dự một loạt hoạt động theo nhóm trong suốt tuyến tour của DUCK & HiPPO…

Trang 31

Nếu bạn cần, dải cát ở bờ biển Siloso cũng trở thành một không gian lý tưởng cho một họp mặt ngoài trời vào lúc chiều tối hoàn hảo hơn cả mong đợi Song song với điều kiện lý tưởng ấy là tính chuyên nghiệp của các công

ty cung ứng dịch vụ cho tất cả các sự kiện mà bạn định tổ chức ở đây

Tùy vào tính chất của sự kiện, vào số người tham gia và mức độ đầu tư

mà các công ty sẽ tư vấn và hỗ trợ bạn thực hiện từ đầu đến cuối, từ việc nên

mở đầu sự kiện như thế nào cho ấn tượng và hiệu quả, trang trí hội trường ra sao… Nếu muốn, cổng vào hội trường lớn của một khách sạn năm sao cũng được biến đổi cho có hình dáng và màu sắc giống như logo của công ty bạn Thậm chí, ở phần pháo hoa kết thúc chương trình “Song of the Sea” - một chương trình nhạc nước nghệ thuật rất được ưa chuộng hàng đêm ở Sentosa - cũng có thể xuất hiện dòng chữ chào mừng sự kiện của công ty bạn được tổ chức ở đây

Hai dự án lớn mà Singapore đang thực hiện là Marina Bay Sands (khai trương năm 2009) và Resort World (khai trương năm 2010) Cả hai đều được đánh giá là có quy mô lớn, đáp ứng được tất cả các nhu cầu từ nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, mua sắm đến hội nghị triển lãm và hứa hẹn mang đến nhiều điều mới lạ, độc đáo cho du khách Singapore luôn biết tạo ra những điều mới mẻ, hấp dẫn để thu hút du khách Đó cũng là bí quyết để một đất nước Singapore

có diện tích bé nhỏ, không giàu tài nguyên nhưng luôn thành công trong việc phát triển kinh tế, văn hóa

1.2.1.2 Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ du lịch tại nước Thailan

Năm 2014, Thái Lan đón tiếp 19,2 triệu lượt khách, xếp thứ 2 ở Đông Nam Á (sau Malaysia) và lọt top 10 Thế giới về lượng khách du lịch quốc tế tới thăm Nói một cách công bằng, đất nước chùa Vàng không có nhiều lợi thế

về cảnh sắc thiên nhiên cũng như khí hậu tuyệt vời như nước ta nhưng tại sao

xứ sở ấy lại trở thành thiên đường du lịch Bởi vì dịch vụ du lịch ở đây phát triển rất mạnh và ngày càng được chú trọng

Trang 32

Không tiếc tiền cho xây dựng cơ sở vật chất

Nếu hạ cánh xuống sân bay Quốc tế Suvarnabhumi và dừng chân ở đây chưa đầy nửa tiếng đồng hồ, nhưng chừng ấy thời gian cũng đủ để nhận ra rằng “ Tại sao sân bay này lại lọt vào top 18 sân bay bận rộn nhất trên thế giới? ” Các hệ thống hạ tầng, kiến trúc được thiết kế tinh vi và hiện đại, hệ thống quảng cáo trực tuyến luôn mở 24/24 giờ, phục vụ một các tốt nhất cho việc quảng bá hình ảnh du lịch Thái Lan

Hệ thống nhà hàng, khách sạn ở Thái Lan rất đa dạng và phong phú Không khó để tìm kiếm địa chỉ một khách sạn ở Thái Lan bởi dịch vụ phòng được quảng cáo dày đặc trên các tuyến phố công cộng Chất lượng phòng khách sạn ở Bangkok và Pattaya đều đạt tiêu chuẩn quốc tế

Có một điều dễ nhận thấy ở Thái Lan đó là hệ thống giao thông công cộng ở đây rất hiện đại và phát triển Nổi bật là hệ thống tàu điện ngầm và hệ thống tàu điện trên không Skyrail từ sân bay quốc tế Suvarnabhumi tới thành phố và chạy qua các tuyến phố chính giúp cho việc đi lại trở nên thuận tiện hơn rất nhiều

Các trung tâm thương mại như và các khu du lịch như Cung điện, Trại rắn Hoàng Gia, Trung tâm da thuộc…đều được đầu tư xây dựng, cải tạo và vô cùng sạch sẽ

Người dân có ý thức làm du lịch từ những hành động nhỏ nhất;

Không nói quá lên khi khẳng định rằng: “Cả đất nước Thái Lan đều làm du lịch”, từ trẻ nhỏ đến người lớn và thậm chí là các cụ già đều có ý thức làm du lịch rất cao, điều đó vừa xuất phát từ trình độ nhận thức vừa từ chính bản chất dễ mến và hiếu khách của họ

Hầu như mọi người dân Thái Lan đều có thể nói tiếng anh, dù ít hay nhiều Bạn có thể dễ dàng hỏi đường, mua bán thậm chí mặc cả giá với người dân Thái bằng thứ tiếng quốc tế này

Trang 33

Điều quan trọng nhất và cũng là điều ấn tượng nhất của khách du lịch đối với người dân Thái đó là sự dễ mến, nhiệt tình của họ Sự hiếu khách thể hiện ở nụ cười hồn hậu, ở cách tận tình chỉ dẫn, giải đáp thắc mắc cho khách

du lịch Bạn có thể cảm thấy ngạc nhiên và lạ lùng, khi thấy một người dân Thái sẵn sàng bỏ ra gần một giờ đồng hồ để chỉ đường và giới thiệu những khu chợ trời, những địa điểm ăn uống cho một người khách lạ mặt khác quốc tịch Hay dù đang tắc đường hàng cây số, nhưng xe cộ vẫn đi có lề lối, trật tự

và sẵn sàng dừng lại cách xa bạn cả vài mét để nhường lối đi khi bạn có “tín hiệu” muốn sang đường Người Thái Lan đã gây ấn tượng từ những hành động nhỏ nhất như vậy

Bạn có thể an tâm khi đi mua sắm ở Thái Lan, bởi cho dù là các trung tâm thương mại sang trọng hay các khu chợ đêm, chợ nổi…gần như không hề

có hiện tượng làm giá, chèo kéo khách, nhập nhèm trong các dịch vụ du lịch,

dù là của các đơn vị, công ty hay cá nhân

“Chất” Thái Lan thể hiện trong từng khía cạnh của du lịch

Từ thăm quan, mua sắm đến ẩm thực, du khách đều có thể dễ dàng nhận ra “màu sắc” rất riêng của đật nước chùa vàng

Các địa điểm thăm quan đều mang nhiều “dáng dấp” và ảnh hưởng của Hoàng gia Thái Lan và Phật giáo Hình ảnh của Hoàng Gia Thái Lan hiện diện ở khắp mọi ngõ ngách từ bảo tàng, trung tâm mua sắm, đền chùa…tất cả đều mang lại cảm nhận về một đất nước cổ kính và uy nghiêm trong mắt khách du lịch Ẩm thực Thái Lan định hình rõ nét trong suy nghĩ của du khách qua các món lẩu Thái, tom yum goong… với độ nồng về gia vị Đến các địa điểm mua sắm Thái Lan, bạn hầu như không phải lo lắng về nguồn gốc cũng như chất lượng sản phẩm bởi hầu hết các mặt hàng đều có dòng chữ

“made in Thailand”

“Chất” Thái Lan còn thể hiện trong sự nghiêm túc và tự tin trong hoạt động du lịch Đơn cử như việc vào thăm Trung tâm nghiên cứu rắn độc

Trang 34

Hoàng gia, nếu muốn mua các loại thuốc được chế xuất từ nọc rắn, du khách phải được bác sỹ tư vấn rất cẩn thận Hay như việc nếu muốn vào thăm Cung điện Hoàng gia, mọi du khách phải tuân thủ theo quy định rất nghiêm ngặt về trang phục (nữ chỉ được mặc váy và phải dài quá đầu gối) hay nghiêm cấm chụp ảnh và không có một trường hợp ngoại lệ nào

1.2.2 Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ du lịch ở một số địa phương trong nước

1.2.2.1 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh có tổng diện tích 2.095 km2 (chiếm 0,67% diện tích tự nhiên của cả nước) và dân số 6.117.500 người (chiếm 7,5% dân

số cả nước) nhưng với thế mạnh và tiềm năng kinh tế, thành phố Hồ Chí Minh đã chiếm tới 18% tổng sản phẩm quốc dân, 15,9% thu nhập quốc dân, 29% sản lượng công nghiệp và 29,3% doanh số bán ra của cả nước Lượt khách đến TPHCM Với những lợi thế đặc thù, Thành phố hiện đang thu hút lượng khách quốc tế nhiều nhất nước Mặc dù số lượng khách vẫn gia tăng hằng năm và tỷ trọng khách quốc tế đến Thành phố luôn lớn hơn 57% của cả nước, nhưng sự tăng trưởng lượt khách của Thành phố chậm hơn so với cả nước Trong giai đoạn 2005-2011[9], du khách quốc tế của cả nước tăng trưởng 10,54% trong khi Thành phố chỉ tăng trưởng 10,09% Nếu như năm

2009 lượt du khách đến TPHCM chiếm 70% cả nước thì đến năm 2011 chỉ chiếm 58,2% cả nước Sự sút giảm này báo hiệu sự vươn lên vượt bậc của một số tỉnh thành trong phát triển du lịch nhưng cũng là dấu hiệu cảnh báo về

sự mất dần lợi thế của Thành phố nếu không tạo ra được “vật hấp dẫn du lịch” đặc thù Khách nội địa đến TPHCM chiếm 22,68% của cả nước và mức tăng trưởng bình quân là 17,52% đã cho thấy sức hấp dẫn của TPHCM Tuy nhiên nếu so sánh với lượt khách của Hà Nội và tốc độ tăng trưởng của Hà Nội thì khả năng thu hút khách nội địa của Thành phố có phần yếu hơn Tuy nhiên,

Trang 35

cũng phải lưu ý rằng với vai trò là Thủ đô, là trung tâm chính trị của một nước, Hà Nội sẽ có nhiều lợi thế hơn Thành phố trong việc thu hút khách du lịch hội họp Lượng cầu đa dạng, phong phú, cùng với lượng khách có thu nhập cao chiếm tỷ trọng lớn đã góp phần thúc ép các doanh nghiệp du lịch Thành phố nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu Chất lượng dịch vụ của

du lịch Thành phố luôn là tấm gương để so sánh với dịch vụ du lịch của các tỉnh thành Có lẽ đó cũng là lý do mà trong 10 doanh nghiệp lữ hành tốt nhất của Việt Nam thì đã có 7 doanh nghiệp thuộc về Thành phố

Thu nhập du lịch của TPHCM Hàng năm Thành phố đón trên 60% lượt khách quốc tế và 23% lượt khách nội địa của Việt Nam Hà Nội chỉ đón gần 32% lượt khách quốc tế và 32% lượt khách nội địa Thế nhưng năm 2009, thu nhập tạo nên từ du lịch của Thành phố lại đứng sau Hà Nội và tỷ lệ tăng trưởng bình quân của thu nhập từ du lịch Thành phố cũng thấp hơn Hà Nội và

cả nước Phải chăng khả năng kích thích khách tiêu xài của Thành phố kém hơn Hà Nội hay Thành phố đang bỏ quên một nguồn thu lớn từ nhu cầu đông đảo của du lịch nội địa? Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2010, nghiên cứu trên 9.287 lượt khách quốc tế tại 13 tỉnh thành có du lịch phát triển của Việt Nam, chi tiêu để thuê phòng bình quân một ngày ở Thành phố

rẻ hơn Hà Nội, trong khi các khoản chi để mua sắm, vui chơi, tham quan, ăn uống trong một ngày lại nhiều hơn Hà Nội

Được hỗ trợ bởi những lợi thế về điều kiện tự nhiên, về nguồn nhân lực, về vốn và kết cấu hạ tầng, du lịch TPHCM đã và đang giữ vai trò then chốt trong sự phát triển của du lịch Việt Nam Tuy nhiên để du lịch Thành phố phát triển bền vững thì Thành phố phải quan tâm đến các vấn đề như đầu

tư xây dựng mới và đầu tư nâng cấp các tài nguyên du lịch hiện có; xây dựng vật hấp dẫn du lịch đặc thù; nâng cao chất lượng và số lượng nhân lực du lịch; xây dựng cơ chế thu hút vốn đầu tư hiệu quả của mọi thành phần kinh tế đặc

Trang 36

biệt là kinh tế ngoài nhà nước; đầu tư, sắp xếp, nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông vận tải; học hỏi các mô hình mua sắm hiệu quả

1.2.2.2 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ du lịch tại thành phố Hải Phòng

Là một thành phố nằm trong vùng Duyên hải của đồng bằng Bắc bộ, có

vị trí địa lý, hệ thống giao thông thuỷ bộ, đường hàng không thuận lợi cho giao lưu kinh tế trong và ngoài nước tương tự như thành phố Đà Nẵng của miền Trung, đồng thời lại là thành phố kết nghĩa với Đà Nẵng từ nhiều năm nay, Hải Phòng cũng đang được xây dựng để trở thành một trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của khu vực miền Bắc Việt Nam Và trong định hướng phát triển du lịch miền Bắc, Tổng cục Du lịch coi đây là một Trung tâm du lịch trong khu vực tăng trưởng: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Thiên nhiên và lịch sử văn hoá dân tộc cũng tạo cho Hải Phòng có những lợi thế so với các điểm du lịch trong vùng Tài nguyên du lịch tự nhiên của Hải phòng tập trung chủ yếu trên bãi biển Đồ Sơn và khu Quần đảo Cát Bà Trong thời gian qua, khu nghỉ mát Đồ Sơn không ngừng được cải tạo và nâng cấp để trở thành một Trung tâm du lịch và giải trí quốc tế với các thắng cảnh nổi tiếng như: đảo Cô Tiên, nhà nghỉ Vạn Hoa, rừng thông Để đạt được tốc độ tăng trưởng như vậy, thời gian qua ngành du lịch Hải Phòng phải vượt qua rất nhiều khó khăn từ công tác lập quy hoạch, định hướng phát triển, xây dựng chiến lược đầu tư về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Tuy nhiên, nhờ sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Đảng và chính quyền các cấp, với chính sách thu hút đầu tư, đặc biệt là việc kêu gọi đầu tư trong nước, du lịch Hải Phòng

đã bước đầu thu được những thành công

Thứ nhất: Ngành đã quan tâm đầu tư cho các cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh dịch vụ từ nhiều nguồn vốn huy động được trong xã hội và từ nước ngoài, nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của mọi đối tượng khách Trong

đó tập trung xây dựng các khu điểm tham quan nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí,

hệ thống nhà hàng, cảng biển, kết hợp với việc bảo vệ và phát huy giá trị các điểm du lịch sinh thái trong vùng

Trang 37

Thứ hai: Thường xuyên đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền xúc tiến quảng bá du lịch thông qua việc tham gia và phối hợp tổ chức các hội chợ xúc tiến du lịch do ngành tại địa phương hoặc Tổng cục Du lịch Việt Nam tổ chức Trong đó có thể nói sự phối hợp quảng bá mang tính liên vùng đã thực

sự giúp cho du lịch Hải Phòng trở thành trung tâm trong tuyến du lịch Đồ Sơn Cát Bà - Hạ Long, từ đó phát triển được cả thị trường khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh Mặt khác, nhờ phát huy tốt nội lực của các doanh nghiệp do ngành quản lý trong việc nắm bắt các cơ hội về thị trường, khách hàng, nhất

là tranh thủ nguồn khách du lịch Trung Quốc được vào Việt Nam bằng giấy thông hành mà Hải Phòng đạt tốc độ tăng trưởng cao về du lịch

Ngoài ra, các giải pháp lớn về nguồn lực như: Chú trọng quy hoạch và kiện toàn đội ngũ cán bộ, thường xuyên quan tâm đến công tác đổi mới tổ chức bộ máy trong ngành, thực hiện đào tạo và tổ chức đào tạo lại tay nghề và quản lý cho đội ngũ cán bộ công nhân viên làm công tác du lịch, đặc biệt chú trọng đào tạo kiến thức ngoại ngữ, văn hoá, lịch sử đã tạo hiệu quả tổng hợp giúp cho du lịch Hải Phòng có những đột phá trong sự phát triển và đóng góp ngày càng cao vào GDP toàn thành phố

1.2.3 Bài học rút ra cho khu di tích tích và thắng cảnh Hương Sơn huyện

Mỹ Đức thành phố Hà Nội

Từ kinh nghiệm phát triển du lịch nói chung và phát triển dịch vụ du lịch nói riêng trên thế giới và ở một số địa phương, bài học rút ra cho khu di tích tích và thắng cảnh Hương Sơn huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội như sau:

1 Công tác chỉ đạo

Về nhận thức: Phải có sự quán triệt sâu sắc của Cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, các cấp về trách nhiệm đối với công tác quản

lý, tổ chức Lễ hội, đặc biệt là nhận thức về ý nghĩa, giá trị của Lễ hội đối với

sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương Thường xuyên tuyên truyền để

Trang 38

khơi dậy niềm tự hào của nhân dân trong Lễ hội đối với khu di tích thắng cảnh

Công tác Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức điều hành phải thực hiện nghiêm túc các quy định của Nhà nước, cơ chế quản lý, tổ chức phải phù hợp theo nguyên tắc: Nhà nước chỉ đạo quản lý điều hành, nhân dân tổ chức thực hiện

2 Công tác tuyên truyền, quảng cáo, giới thiệu:

- Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục ý thức, trách nhiệm, giao tiếp văn minh lịch sự trong công tác dịch vụ, du lịch cho lực lượng tham gia phục vụ

Lễ hội và nhân dân địa phương.khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, tạo một bước chuyển biến căn bản về môi trường sinh hoạt, bảo vệ cảnh quan di tích và thắng cảnh

- Đối với Đảng uỷ, HĐND, UBND xã Hương Sơn cần tiếp tục tăng cường chỉ đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể của xã (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân) tuyên truyền vận động các tổ chức thành viên, mọi tầng lớp nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, văn hoá trong hoạt động Lễ hội - Du lịch chấp hành thực hiện các quy định về VSATTP,VSMT

3 Tổ chức các dịch vụ du lịch đối với khu Di tích và Thắng cảnh Hương Sơn

- Đảm bảo tốt an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, có phương án, kế hoạch cụ thể xử lý kịp thời khi có tình huống xảy ra

- Đổi mới phương thức quản lý điều hành đò thuyền, trông giữ ô tô Nhằm nâng cao chất lượng các dịch vụ phục vụ Lễ hội

+ Dịch vụ hàng quán: Có bảng niêm yết giá (Các mặt hàng chính)

+ Dịch vụ thuyền, đò: Chấp hành nghiêm luật giao thông đường thuỷ nội địa, không gây phiền hà, lấy thêm tiền khi chưa thoả thuận với du khách

- Làm tốt công tác đảm bảo VSATTP, thu gom và xử lý rác thải đảm bảo xanh, sạch, thường xuyên thanh khiết môi trường không để dịch bệnh xảy

Trang 39

ra Tăng cường kiểm tra khắc phục những tồn tại về VSMT ở các tuyến Tuyết Sơn, Long Vân

- Làm tốt công tác bảo vệ rừng, bảo vệ tôn tạo Di tích, đảm bảo cảnh quan môi trường trong và ngoài Lễ hội

- Tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng của Ban tổ chức, thường xuyên kiểm tra, xử lý kịp thời các hiện tượng tiêu cực để Lễ hội phát triển lành mạnh đúng hướng và bền vững

- Tăng cường công tác đầu tư cơ sở hạ tầng để phục vụ du khách

Trang 40

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Giới thiệu tổng quan về khu Di tích và thắng cảnh Hương Sơn – Mỹ Đức – Tp Hà Nội

2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

Khu di tích - Thắng cảnh Hương Sơn thuộc địa bàn xã Hương Sơn, Huyện Mỹ Đức - Thành phố Hà Nội cách trung tâm Hà Nội khoảng 50 km, với tổng diện tích tự nhiên là 8.328 ha

Khu di tích - Thắng cảnh Hương Sơn nằm trong tọa độ địa lý 20029’ đến 20024’ vĩ độ Bắc và 105041’ kinh độ Đông Phía Nam giáp với tỉnh Hà Nam, phía Bắc và Đông thuộc TP Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình, có đường 21A nối liền giữa quận Hà Đông – Hòa Bình – Ninh bình – Thanh Hóa

Khu Di tích và Thắng cảnh Hương Sơn là một quần thể di tích gồm phức hệ núi non, hang động, thảm thực vật, thủy văn, hệ động vật và hệ thống đình, đền, chùa động nằm rải rác quanh khu vực núi Hương Sơn và cửa ngõ của quần thể di tích (từ bến Đục) bao gồm 3 tuyến điểm di tích chính:

- Tuyến điểm di tích Hương – Thiên

- Tuyến điểm di tích Long Vân – Hương Đài

- Tuyến điểm di tích Tuyết Sơn

Ngoài ba tuyến điểm di tích nêu trên, Khu di tích và thắng cảnh Hương Sơn còn có các di tích “vệ tinh”, gắn bó mật thiết và có thể xem như “vọng gác tiền tiêu” nằm ở các cửa ngõ khu vực này gồm đền Đục Khê; chùa Hương Trản, chùa Tảo Khê, đình và chùa Tiên Mai

Từ lâu, Hương Sơn đã được du khách biết đến với lễ hội Chùa Hương, một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất Việt Nam cùng hệ thống các công trình kiến trúc phật giáo cổ kết hợp hài hòa với những hang động, suối, rừng, núi

Ngày đăng: 29/08/2017, 09:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Cảnh (1995), “Một số vấn đề về phương pháp luận và phương pháp quy hoạch phát triển du lịch”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 1/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phương pháp luận và phương pháp quy hoạch phát triển du lịch”, "Tạp chí Du lịch Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Cảnh
Năm: 1995
2. Ngô Tất Hổ (2014), Phát triển và quản lý du lịch địa phương, (Trần Đức Thanh và bùi Thanh Hương biên dịch), NXB Khoa học Bắc Kinh, 3. Nguyễn Đình Hòe - Vũ Văn Hiếu (2002), Du lịch bền vững, NXBĐHQGHN,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và quản lý du lịch địa phương
Tác giả: Ngô Tất Hổ
Nhà XB: NXB Khoa học Bắc Kinh
Năm: 2014
5. Marketing du lịch (2002), Robert Langquar & Robert Hollier, (dịch từ nguyên bản tiếng Pháp La marketing touristique), NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Robert Langquar & Robert Hollier
Tác giả: Marketing du lịch
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2002
6. Phạm Trọng Lê Nghĩa (2010), Bài giảng tổng quan du lịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng tổng quan du lịch
Tác giả: Phạm Trọng Lê Nghĩa
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
7. Nguyễn Huy Phương và Lưu Tiến Thuận (2013), Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch Hậu Giang, phương pháp Mô hình IPA, khoa kinh tế và quản trị kinh doanh trường đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch Hậu Giang, phương pháp Mô hình IPA
Tác giả: Nguyễn Huy Phương và Lưu Tiến Thuận
Năm: 2013
8. Sở VHTT&DL - UBND TP. Hà Nội (2010), Quy hoạch phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Tác giả: Sở VHTT&DL - UBND TP. Hà Nội
Năm: 2010
9. Sở du lịch Hà Tây (2010), Báo cáo tình hình hoạt động du lịch các năm từ 2006- 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình hoạt động du lịch các năm từ 2006- 2010
Tác giả: Sở du lịch Hà Tây
Năm: 2010
10. Tạp chí Khoa học xã hội 5(177)- (2013), Du lịch thành phố Hồ Chí Minh Nguồn lực và thực trạng phát triển (Nguyễn Thị Lan Hương), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5(177)-" (2013), "Du lịch thành phố Hồ Chí Minh Nguồn lực và thực trạng phát triển (Nguyễn Thị Lan Hương)
Tác giả: Tạp chí Khoa học xã hội 5(177)-
Năm: 2013
11. UBND TP. Hà Nội (1998), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch TP. Hà Nội thời kỳ 1997- 2010 và đến năm 2020, Sở Du lịch Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch TP. Hà Nội thời kỳ 1997- 2010 và đến năm 2020
Tác giả: UBND TP. Hà Nội
Nhà XB: Sở Du lịch Hà Nội
Năm: 1998
12. UBND TP.Hà Nội (2011), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Viện nghiên cứu phát triển kinh tế, xã hội Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
Tác giả: UBND TP.Hà Nội
Nhà XB: Viện nghiên cứu phát triển kinh tế, xã hội Hà Nội
Năm: 2011
13. Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (1998), Quy hoạch phát triển du lịch thắng cảnh Hương Sơn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển du lịch thắng cảnh Hương Sơn
Tác giả: Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w