DƯƠNG THỊ THANH TÂN NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÁC ĐỊNH CHU KỲ KINH DOANH TỐI ƯU CỦA RỪNG TRỒNG CÂY GỖ LỚN TẠI CÔNG TY TNHH VĨNH HƯNG LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Hà Nội - 20
Trang 1DƯƠNG THỊ THANH TÂN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÁC ĐỊNH CHU KỲ KINH DOANH TỐI ƯU CỦA RỪNG TRỒNG CÂY GỖ
LỚN TẠI CÔNG TY TNHH VĨNH HƯNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Hà Nội - 2015
Trang 2DƯƠNG THỊ THANH TÂN
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÁC ĐỊNH CHU KỲ KINH DOANH TỐI ƯU CỦA RỪNG TRỒNG CÂY GỖ
LỚN TẠI CÔNG TY TNHH VĨNH HƯNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN QUANG HÀ
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Người cam đoan
Dương Thị Thanh Tân
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn tác giả đã nhận được sự quan tâm
và giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các cá nhân, tổ chức và tập thể Cho phép tác giả được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
Quý thầy, cô giáo đã giảng dạy và Khoa sau đại học, Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học và nghiên cứu hoàn thiện luận văn Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Quang
Hà, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của ban lãnh đạo và tập thể cán
bộ công nhân viên Công ty TNHH Vĩnh Hưng đã tạo điều kiện để luận văn được hoàn thành
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến các bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã giúp đỡ, khích lệ tác giả trong suốt quá trình thực tập và nghiên cứu khoa học
Tác giả
Dương Thị Thanh Tân
Trang 5MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CHU KỲ KINH DOANH ĐỐI VỚI CÔNG TY SẢN XUẤT KINH DOANH RỪNG TRỒNG 4
1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 4
1.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế 4
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế chủ yếu 5
1.1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của trồng cây gỗ lớn 6
1.2 Cơ sở lý luận về chu kỳ kinh doanh tối ưu 7
1.2.1 Tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu 7
Trang 61.2.2 Các hạn chế khi vận dụng các tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh tối
ưu cổ điển 14
1.3 Cơ sở thực tiễn về kinh doanh rừng trồng gỗ lớn 15
1.3.1.Tình hình trồng rừng nguyên liệu tại các tỉnh 15
1.3.2 Sản lượng và giá trị rừng trồng 18
1.3.3 Về giống và kỹ thuật 19
1.3.4 Về cơ chế chính sách đang áp dụng 19
1.3.5 Khó khăn, vướng mắc để phát triển trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn 20
1.4 Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan 22
1.4.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 22
1.4.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam 25
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Tổng quan về công ty TNHH Vĩnh Hưng 30
2.1.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH Vĩnh Hưng 30
2.1.2 Lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh 30
2.1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty 30
2.1.4 Các khu rừng sản xuất, kinh doanh của công ty 31
2.1.5 Mô hình sản xuất kinh doanh rừng trồng của công ty và thị trường tiêu thụ 34
2.2 Phương pháp nghiên cứu 34
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 34
2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 35
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Xác định sản lượng của rừng trồng 44
3.1.1 Các số liệu cơ sở về sản lượng 44
3.1.2 Lượng tăng trưởng gỗ 48
Trang 73.1.3 Sản lượng gỗ của rừng keo lai ở các chu kỳ kinh doanh 49
3.2 Xác định hiệu quả các mô hình trồng rừng của công ty 49
3.2.1 Chi phí trồng rừng 51
3.2.2 Doanh thu trồng rừng 57
3.2.3 Xác định hiệu quả các mô hình trồng rừng 60
3.2.4 Phân tích độ nhạy 70
3.3 Xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu theo quan điểm không chiết khấu 72
3.3.1 Lập hàm tối ưu 72
3.3.2 Lựa chọn phương pháp giải bài toán tối ưu 74
3.3.3 Kết quả giải bài toán tối ưu 76
3.4 Đề xuất lựa chọn luân kỳ khai thác tối ưu 77
3.5 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng trồng gỗ lớn tại công ty TNHH Vĩnh Hưng 78
3.5.1 Giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng trồng của công ty TNHH Vĩnh Hưng 78
3.5.2 Đề xuất các chính sách hỗ trợ, khuyến khích của Chính phủ đối với kéo dài chu kỳ kinh doanh rừng trồng 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
1.Kết luận 83
2 Khuyến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Sản phầm và doanh thu đạt được trong năm 2014 của công ty
3.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng và trữ lượng rừng của các mô hình
3.4 Sản lượng các loại gỗ sản phẩm keo lai ở các chu kỳ kinh
3.5 Chi phí sản xuất kinh doanh 1ha rừng keo lai trong 1 luân kỳ
3.6 Chi phí sản xuất kinh doanh 1ha rừng keo lai trong 1 luân kỳ
3.7 Chi phí sản xuất kinh doanh 1ha rừng keo lai trong 1 luân kỳ
3.8 Chi phí sản xuất kinh doanh 1ha rừng keo lai trong 1 luân kỳ
3.9 Chi phí sản xuất kinh doanh 1ha rừng keo lai trong 1 luân kỳ
3.10 Chi phí sản xuất kinh doanh 1ha rừng keo lai trong 1 luân kỳ
3.12 Giá trị hiện tại thuần của 1ha rừng keo lai trong 1 luân kỳ của
3.13 Giá trị hiện tại thuần của 1ha rừng keo lai trong 1 luân kỳ của
Trang 103.14 Giá trị hiện tại thuần của 1ha rừng keo lai trong 1 luân kỳ của
3.19 Chi phí, doanh thu và lợi nhuận tính cho 1ha rừng keo lai ở
3.20
NPV trong kinh doanh 1 ha rừng keo lai của nhiều luân kỳ trồng
rừng ở các mô hình kinh doanh khác nhau với các mức lãi suất
khác nhau
68
3.21
NPV trong kinh doanh 1 ha rừng keo lai của nhiều luân kỳ trồng
rừng ở các mô hình kinh doanh khác nhau với các mức giá bán
sản phẩm khác nhau
68
3.22
NPV trong kinh doanh 1 ha rừng keo lai của nhiều luân kỳ trồng
rừng ở các mô hình kinh doanh khác nhau với các mức sản lượng
khác nhau
68
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
3.1 Đồ thị về lượng tăng trưởng của 1ha rừng qua các độ tuổi 48 3.2 Lợi nhuận của 1 ha rừng của các mô hình trồng rừng 73 3.3 Lượng tăng trưởng của 1ha rừng của các mô hình trồng rừng 74 3.4 Giá trị hiện tại thuần của 1ha rừng của các mô hình trồng rừng 75
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế của Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn, đời sống của nhân dân được nâng lên, vị thế của Việt Nam cũng được nâng cao trên thế giới Trong những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế có một phần đóng góp không nhỏ của kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế lâm nghiệp nói riêng
Việt Nam có 10,3 triệu ha rừng tự nhiên và khoảng 3,5 triệu ha rừng trồng, hàng năm khai thác một khối lượng lớn từ rừng trồng để cung cấp cho nền kinh tế quốc dân Đồng thời ngành lâm nghiệp cũng đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, tạo nguồn sinh thủy cho các hồ thủy điện, tạo ra hàng triệu việc làm cho đồng bào các dân tộc sống ở vùng đất lâm nghiệp, từ đó đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của vùng sâu, vùng khó khăn của đất nước
Theo số liệu của Cục chế biến nông lâm sản Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn hàng năm Việt Nam khai thác 10 triệu m3 gỗ rừng trồng để phục vụ cho nền kinh tế quốc dân, kim ngạch xuất khẩu gỗ, đồ gỗ và các lâm sản khác đạt 6,5 tỷ USD
Tuy nhiên chất lượng gỗ khai thác từ rừng trồng của Việt Nam hiện nay rất thấp, 80% là gỗ nhỏ đường kính dao động từ 10 -13 cm, do vậy gỗ khai thác từ rừng trồng hiện nay chủ yếu là băm dăm xuất khẩu hoặc đưa vào sản xuất bột giấy, một phần nhỏ gỗ có kích thước lớn đưa và sản xuất đồ mộc nội thất và sản xuất gỗ xây dựng Từ đó giá trị gỗ khai thác từ rừng trồng mang lại rất thấp, trong khi đó hàng năm ở Việt Nam nhập khẩu 4 triệu m3 gỗ lớn để sản xuất đồ gỗ phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu
Để nâng cao giá trị của ngành lâm nghiệp nói chung và giá trị của gỗ rừng trồng nói riêng, Chính phủ đã phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, trong đó có nội dung là chuyển đổi sản xuất gỗ nhỏ thành sản xuất gỗ
Trang 13lớn tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất đồ mộc, từ đó giảm kinh phí nhập khẩu nguyên liệu gỗ từ nước ngoài, góp phần nâng cao giá trị kinh tế trong lâm nghiệp Tuy nhiên để thực hiện được đề án này cần xây dựng đầy đủ cơ
sở lý luận và thực tiễn để đánh giá hết các hiệu quả mà nó mang lại
Hiện nay hầu hết các chủ rừng đều lựa chọn chu kỳ kinh doanh ngắn, sản phẩm là cây gỗ nhỏ do các yếu tố về vay vốn, chi phí sản xuất còn hạn chế, chưa có căn cứ, thông tin để kéo dài chu kỳ kinh doanh và tâm lý lo ngại những rủi ro tiền ẩn nếu kéo dài chu kỳ kinh doanh như cháy rừng, trộm cắp… Thêm vào đó hiện nay Chính phủ cũng đang thiếu những chính sách khuyến khích, hỗ trợ các đơn vị kinh doanh lâm nghiệp kéo dài chu kỳ kinh doanh để trồng cây gỗ lớn
Hiệu quả kinh tế luôn là căn cứ đầu tiên, quan trọng nhất đối với chủ rừng trong quyết định lựa chọn chu kỳ kinh doanh, tuy nhiên, các nghiên cứu
về hiệu quả kinh doanh hiện nay chưa đủ cơ sở khoa học, thuyết phục cho xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu
Do đó, để có cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đánh giá lựa chọn chu
kỳ kinh doanh tối ưu của rừng trồng tại các công ty, lâm trường, ban quản lý
rừng, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế và xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu của rừng trồng cây gỗ lớn tại Công ty TNHH Vĩnh Hưng”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình rừng trồng theo các tiêu chí thích hợp, làm căn cứ cho xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu, nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng trồng keo lai tại Công ty TNHH Vĩnh Hưng
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế và chu kỳ kinh doanh rừng trồng tối ưu
Trang 14- Đánh giá được hiệu quả kinh tế của rừng trồng keo lai theo các chu kỳ kinh doanh rừng trồng keo lai của công ty TNHH Vĩnh Hưng
- Xác định được chu kỳ kinh doanh tối ưu
- Đề xuất các giải pháp thực hiện tối ưu hóa chu kỳ kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng trồng keo lai tại công ty TNHH Vĩnh Hưng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là rừng trồng sản xuất loại cây keo lai của công ty TNHH Vĩnh Hưng tại địa bàn huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai
Đề tài được tiến hành từ 3/2015 đến 10/2015
4 Nội dung nghiên cứu
- Lý luận về hiệu quả kinh tế và chu kỳ kinh doanh tối ưu trong sản xuất và kinh doanh rừng trồng
- Đặc điểm công ty TNHH Vĩnh Hưng
- Các mô hình rừng trồng tại công ty TNHH Vĩnh Hưng hiện nay
- Kết quả, chi phí sản xuất kinh doanh rừng trồng
- Xác định, đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình
- Đề xuất chu kỳ kinh doanh tối ưu
- Giải phápthực hiện kinh doanh theo chu kỳ tối ưu để nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng trồng gỗ lớn
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ CHU
KỲ KINH DOANH ĐỐI VỚI CÔNG TY SẢN XUẤT KINH DOANH
RỪNG TRỒNG 1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
1.1.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế
- Hiệu số giữa kết quả đầu ra và cho phí đầu vào
- Tỷ số giữa chi phí và kết quả
- Tỷ số giữa phần gia tăng của kết quả và phần gia tăng của chi phí
- Tỷ số giữa mức kết quả thực tế với kết quả tối đa
- Tỷ số giữa chi phí tối thiểu và chi phí thực tế
1.1.1.2 Quan điểm đánh giá
Theo phạm vi ảnh hưởng, tác động
- Đánh giá hiệu quả kinh tế trên góc độ cá nhân: đánh giá hiệu quả dựa trên kết quả và chi phí của một doanh nghiệp, một dự án cụ thể, và thường là chỉ bao gồm các chi phí và kết quả tài chính
- Đánh giá hiệu quả kinh tế trên góc độ xã hội: kết quả và chi phí được tính toán bao gồm cả kết quả (hoặc lợi ích) và chi phí của xã hội, của toàn bộ nền kinh tế Trong nhiều trường hợp, các lợi ích xã hội, môi trường cũng được bao hàm trong đánh giá hiệu quả kinh tế theo quan điểm này
Theo thời gian ảnh hưởng, tác động
- Đánh giá tĩnh: đánh giá dựa vào chi phí và kết quả trong một thời kỳ, một thế hệ
Trang 16- Đánh giá động: đánh giá dựa vào chi phí và kết quả của nhiều thời kỳ, nhiều thế hệ
1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế chủ yếu
Theo tài liệu [3], có một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế chủ yếu như sau:
- Giá trị hiện tại thuần (NPV - Net present value): là giá trị hiện tại của một khoản đầu tư Đây chính là giá trị tại thời điểm hiện tại của toàn bộ dòng tiền thuần của một dự án
(1.1) Trong đó: Bt - dòng tiền thu vào tại năm thứ t
Ct - dòng tiền chi ra tại năm thứ t
r - tỷ lệ chiết khấu trong suốt thời gian sống của khoản đầu tư Tỷ
lệ này có thể sử dụng là tỷ suất sinh lời kỳ vọng của nhà đầu tư hay chi phí sử dụng vốn
Về mặt ý nghĩa: Chỉ tiêu NPV được dùng để đánh giá tính khả thi về mặt tài chính của một dự án đầu tư về lý thuyết cũng như thực tiễn
- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR - Internal rate of return): có nghĩa là suất sinh lợi của chính bản thân dự án IRR là nghiệm của phương trình NPV = 0
(1.2) Khi đó IRR = r
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu hồi vốn đầu tư Ngoài ra chỉ tiêu này còn cho biết mức độ quay vòng của vốn đầu tư IRR cho phép xác định được thời điểm hoàn trả của vốn đầu tư Từ chỉ tiêu này có thể so sánh và lựa chọn các phương án có quy mô và kết cấu đầu tư khác nhau, phương án có IRR lớn hơn thì được lựa chọn
Trang 17- Tỷ lệ thu nhập trên chi phí (BCR – Benefit to cost ratio): chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:
(1.3) Chỉ tiêu này phản ánh về chất lượng đầu tư Qua chỉ tiêu này có thể so sánh và lựa chọn các phương án có quy mô và kết cấu đầu tư khác nhau, phương án nào có BCR lớn hơn và lớn hơn 1 thì được lựa chọn
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của trồng cây gỗ lớn
Giá yếu tố đầu vào
Đối với các đơn vị lâm nghiệp đặc biệt là các đơn vị kinh doanh rừng trồng cây gỗ lớn việc kiểm soát các chi phí đầu vào ở mức thấp tối đa là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả kinh tế Nếu các chi phí
về vật tư, lao động, giống cây trồng… được kiểm soát và tiết kiệm thì hiệu quả kinh tế sẽ được nâng cao
Kỹ thuật
Kỹ thuật cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của kinh doanh rừng trồng gỗ lớn Nếu công ty áp dụng được các kỹ thuật về lâm sinh, đưa cơ giới hóa vào các khâu chăm sóc, tỉa thưa, khai thác… thì sẽ nâng cao được tăng trưởng của rừng, chất lượng gỗ từ đó sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế của kinh doanh rừng trồng Ngược lại, nếu kỹ thuật không tốt sẽ làm giảm sản lượng, chất lượng của rừng thì hiệu quả kinh tế của kinh doanh rừng trồng sẽ giảm sút
Tổ chức sản xuất, tổ chức lao động
Nếu có sự khoa học, hợp lý trong quá trình tổ chức sản xuất, tổ chức lao động thì công ty sẽ cắt giảm được các chi phí không cần thiết, giảm bớt lao động dư thừa mà vẫn đạt hiệu suất công việc cao, chất lượng sản phẩm tốt
Trang 18Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế trong kinh doanh rừng trồng gỗ lớn
Giá bán sản phẩm
Giá bán quyết định rất lớn đến lợi nhuận cũng như hiệu quả kinh tế của kinh doanh rừng trồng gỗ lớn Đối với sản phẩm gỗ rừng trồng, đường kính càng lớn, không bị rỗng ruột, thẳng thì giá bán sẽ càng cao Nếu chỉ xuất bán
gỗ với đường kính nhỏ, nhiều cành ngọn thì giá sẽ thấp Do đó, nếu công ty
có sản phẩm gỗ với đường kính lớn, đáp ứng nhu cầu của thị trường thì sẽ bán được với giá cao, từ đó hiệu quả kinh tế mang lại sẽ lớn Nếu chỉ xuất bán gỗ nhỏ, nhiều cành ngọn cho các đơn vị sản xuất giấy thì hiệu quả kinh tế sẽ không lớn
1.2 Cơ sở lý luận về chu kỳ kinh doanh tối ưu
1.2.1 Tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu
Xác định tuổi khai thác rừng trồng, hay chu kỳ khai thác rừng tối ưu (optimal forest rotation) là vấn đề cổ điển trong kinh tế và quản lý lâm nghiệp
Do vậy, các nghiên cứu về vấn đề này đã được thực hiện từ rất sớm – từ cuối thế kỷ 19, được bổ sung, hoàn thiện theo thời gian cho đến nay Các kết quả nghiên cứu, mà vấn đề trọng tâm là tiêu chí xác định tuổi khai thác rừng dựa trên các quan điểm về vật lý, sinh thái, kinh tế đã được đưa vào các sách giáo khoa về kinh tế, quản lý tài nguyên, vào các văn bản pháp quy lâm nghiệp ở nhiều nước Tuy nhiên, cho đến nay, tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh rừng trồng vẫn tiếp tục là vấn đề đang được tiếp tục đặt ra cả về lý luận trong kinh
tế, quản lý lâm nghiệp và ứng dụng trong thực tiễn
Từ các nghiên cứu trên thế giới (tài liệu tham khảo tiếng anh [1] – [16]),
có thể tổng kết thành 7 loại tiêu chí (thay thế nhau) có thể được sử dụng để xác định tuổi khai thác rừng trồng là:
1) Tối đa hóa sản lượng rừng trồng (MGY – Maximum Gross Yield)
Trang 19Theo Thomson (1942) tiêu chí này được sử dụng ở Đức và nhiều nước cho đến những năm 30 của thế kỷ 20 Việc sử dụng tiêu chí này nhằm hướng đến mục tiêu giảm tối đa nhập khẩu gỗ để tiết kiệm ngoại tệ
Theo quan điểm này, hàm mục tiêu của kinh doanh rừng trồng là:
V1 = max (T)
Do vậy, tuổi khai thác rừng trồng là tuổi mà tại đó, tăng trưởng của rừng bằng không, trữ lượng đạt giá trị cực đại: pQT = 0 = QT
Với T - thời gian (tuổi rừng)
p - giá ròng của gỗ cây đứng
Q(T) - hàm tăng trưởng của sản lượng gỗ rừng, là một hàm lồi (concave) theo thời gian, tức hàm thỏa mãn: QT > 0, QTT < 0; với QT, QTT lần lượt là đạo hàm bậc nhất và bậc 2 của sản lượng theo thời gian
Tiêu chí này hiện không còn giá trị thực tiễn bởi nó bỏ qua các yếu tố quan trọng như chi phí trồng rừng, lãi suất chiết khấu và giá trị của đất trồng rừng (địa tô), tiêu chí này cũng không cho phép đạt mục tiêu tối đa hóa về sản lượng rừng và từ đó, tổng sản lượng gỗ xét về dài hạn
2) Tối đa hóa tăng trưởng rừng bình quân năm (CMAI – Culmination of Mean Annual Increment)
Tiêu chí này cũng được gọi với tên khác là tối đa hóa sản lượng rừng bền vững về mặt sinh học (MSY – Maximum Sustained Yield) Mục tiêu của việc
sử dụng tiêu chí này là hướng tới tối đa hóa tổng sản lượng gỗ từ một diện tích đất trồng rừng xét trong dài hạn (Goundry, 1960)
Theo quan điểm này, hàm mục tiêu của kinh doanh rừng trồng là:
V2 = max (T) Với T - thời gian (tuổi rừng)
p - giá ròng của gỗ cây đứng
Q(T) - hàm tăng trưởng của sản lượng gỗ rừng, là một hàm lồi (concave)
Trang 20theo thời gian, tức hàm thỏa mãn: QT > 0, QTT < 0; với QT, QTT lần lượt là đạo hàm bậc nhất và bậc 2 của sản lượng theo thời gian
3) Tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập thuần từ một luân kỳ trồng rừng (Maximization of Discounted net Revenue hoặc Maximization of Present Net Worth - PNW from a single rotation)
Các nhà kinh tế lớn như Fisher, Jevons và Wicksell đã sử dụng mô hình này để xác định luân kỳ khai thác tối ưu, một số nhà kinh tế khác (ví dụ Duerr, 1956) thì gọi mô hình này là mô hình thành thục tài chính Những người ủng hộ mô hình này cho rằng mô hình này dễ sử dụng, trong khi độ chính xác không kém hơn đáng kể so với mô hình Faustmann (là tiêu chí thứ
tư được trình bày sau đây)
Theo quan điểm này, hàm mục tiêu của kinh doanh rừng trồng là:
V3 = max(T) Với T - thời gian (tuổi rừng)
p - giá ròng của gỗ cây đứng
r - tỷ lệ chiết khấu
wE - chi phí trồng rừng (đơn giá nhân cường độ thâm canh)
Q(T) - hàm tăng trưởng của sản lượng gỗ rừng, là một hàm lồi (concave) theo thời gian, tức hàm thỏa mãn: QT > 0, QTT < 0; với QT, QTT lần lượt là đạo hàm bậc nhất và bậc 2 của sản lượng theo thời gian
Trang 21Giải bài toán tối ưu (không ràng buộc) này cho kết quả về tuổi khai thác rừng tối ưu là nghiệm của phương trình: pQT = rpQ(T), hay QT/Q(T) = r
Như vậy, mô hình này giả thiết chủ rừng trồng theo đuổi mục tiêu giá trị hiện tại của thu nhập thuần từ đầu tư vào rừng trồng trong 1 luân kỳ, không quan tâm đến các luân kỳ tiếp theo, nghĩa là không tính đến chi phí cơ hội của
sử dụng đất
4) Tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập thuần từ vô số các luân kỳ trồng rừng (Maximization of the Discounted Net revenue from an Infinite rotations)
Mô hình này được xây dựng đầu tiên bởi Faustmann năm 1894 và sau đó (một cách độc lập) bởi Pressler và Ohlin, nên còn được gọi là mô hình FPO (Lofgren, 1983) Các tên gọi sử dụng nguyên lý tương tự với mô hình này là
SL (soil rent) SEV (soil expectation value) hoặc LEV (land expectation value) Điểm khác biệt giữa mô hình này với mô hình PNW nêu trên là giả định rừng sẽ được tiếp tục trồng ở các luân kỳ tiếp theo, nghĩa là quyết định
về luân kỳ khai thác rừng hiện tại chịu ảnh hưởng của các khả năng sinh lợi trong tương lai Đây được coi là mô hình xác định luân kỳ khai thác rừng trồng ưu việt nhất, bởi nó tính đến hầu hết các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của chủ rừng như chi phí trồng rừng, thu nhập từ gỗ (sản lượng và giá gỗ), lãi suất và chi phí cơ hội của đất trồng rừng sau khai thác
Theo quan điểm này, hàm mục tiêu của kinh doanh rừng trồng là:
V4 = max(T)
Với: T - thời gian (tuổi rừng)
p - giá ròng của gỗ cây đứng
r - tỷ lệ chiết khấu
wE - Chi phí trồng rừng (đơn giá nhân cường độ thâm canh)
Q(T) - hàm tăng trưởng của sản lượng gỗ rừng, là một hàm lồi (concave)
Trang 22theo thời gian, tức hàm thỏa mãn: QT > 0, QTT < 0; với QT, QTT lần lượt là đạo hàm bậc nhất và bậc 2 của sản lượng theo thời gian
Giải bài toán tối ưu (tính đạo hàm theo thời gian của hàm mục tiêu và đặt bằng không) sẽ cho kết quả về luân kỳ khai thác tối ưu là nghiệm của phương trình:
Mục tiêu của kinh doanh rừng được giả định là: V5 = max(T)
Với T - thời gian (tuổi rừng)
p - giá ròng của gỗ cây đứng
r - tỷ lệ chiết khấu
wE - Chi phí trồng rừng (đơn giá nhân cường độ thâm canh)
Q(T) - hàm tăng trưởng của sản lượng gỗ rừng, là một hàm lồi (concave) theo thời gian, tức hàm thỏa mãn: QT > 0, QTT < 0; với QT, QTT lần lượt là đạo hàm bậc nhất và bậc 2 của sản lượng theo thời gian
Và từ đó, luân kỳ khai thác tối ưu là nghiệm của phương trình:
1/T = pQT/[pQ(T) – wE]
Bentley và Fight (1966) chỉ ra rằng, mô hình này về thực chất cũng là trường hợp đặc biệt của mô hình tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập thuần hay địa tô, khi tỷ lệ chiết khấu bằng không
6) Tối đa hóa tốc độ tăng của vốn đầu tư (Maximization of the Rate of Growth of Capital
Tác giả của mô hình xác đinh tiêu chí này là Boulding (1955) và thường
Trang 23được biết đến với các tên gọi khác nhau như tối đa hóa tỷ lệ nội hoàn - Internal Rate of Return (IRR) Maximization, hoặc tối đa hóa tỷ lệ sinh lợi – Rate of Return (ROR) Maximization
Mô hình này được thiết lập trên giả định là yếu tố cố định trong trồng rừng không phải là đất đai, mà là vốn đầu tư và từ đó mục tiêu của kinh doanh rừng trồng là tối đa hóa tỷ lệ sinh lợi của vốn
Bai toán tối đa hóa đối với chủ rừng, do vậy, là:
V6 = max(i) Max ( IRR ) tức NPV =0
Giải để tính i: i* = max(T) {(1/T) ln[pQ(T)/wE]} = QT/Q(T)
Với: T - thời gian (tuổi rừng)
p - giá ròng của gỗ cây đứng
r - tỷ lệ chiết khấu
i - tỷ lệ nội hoàn (IRR)
wE - Chi phí trồng rừng (đơn giá nhân cường độ thâm canh)
Q(T) - hàm tăng trưởng của sản lượng gỗ rừng, là một hàm lồi (concave) theo thời gian, tức hàm thỏa mãn: QT > 0, QTT < 0; với QT, QTT lần lượt là đạo hàm bậc nhất và bậc 2 của sản lượng theo thời gian
Đạo hàm theo T đặt bằng 0, cho phương trình xác định luân kỳ khai thác tối đa:
pQT = i* pQ(T) Tiêu chí xác định luân kỳ khai thác rừng tối uu này có nhiều hạn chế về mặt lý luận Trước hết, giả định mục tiêu là tối đa hóa IRR là tối đa hóa một điều gì đó không phải là lợi ích trực tiếp của người trồng rừng Hơn nữa, mô hình này giả định yếu tố ràng buộc đối với trồng rừng không phải là đất, mà là vốn, tức là không tồn tại thị trường vốn, nghĩa là người chủ rừng sẽ tiếp tục đầu tư lại toàn bộ lợi ích từ đầu tư ban đầu vào rừng trồng cho các luân kỳ
Trang 24tiếp theo mà hoàn toàn không tiêu dùng
Các nghiên cứu của Hirshleifer (1970), Bierman (1969) cũng chỉ ra các trường hợp (ví dụ ảnh hưởng của tỷ lệ chiết khấu, kiểu phát sinh chi phí về mặt thời gian) có thể đẫn tới phương trình xác định luân kỳ khai thác tối ưu cho nghiệm bằng không, hoặc nhiều nghiệm, nghĩa là không áp dụng được
7) Tối đa hóa lợi nhuận từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ
Các giá trị ngoài gỗ như giải trí, động vật hoang dã, dịch vụ sinh thái
Giá trị hiện tại của đất rừng, được xác định theo công thức:
(1.8) Trong đó: p - Thu nhập từ 1 m3 gỗ khai thác
e - Cơ số logarit tự nhiên
Giá trị ngoài gỗ đã chiết khấu:
(1.4)
Tổng giá trị của rừng từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ:
F = W + B Tối đa hóa F theo I đưa đến điều kiện:
V’(I) + N(I) = rV(I) + rF*
Trong đó: F* là giá trị tối ưu của đất bao gồm cả giá trị gỗ và ngoài gỗ
Luân kỳ tối ưu sẽ ở vào thời điểm tại đó giá trị gia tăng cận biên của cây đứng sẽ cân bằng với chi phí cơ hội của việc hoãn khai thác
Trang 25Trong 7 tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh rừng trồng tối ưu nói trên,
mô hình Faustmann (hay các tên gọi khác là FPO; SEV, LEV) được coi là quan điểm, tiêu chí chuẩn, tân cổ điển, bởi nó phù hợp với các lý luận phổ biến trong phân tích kinh tế, bao hàm được nhiều nhất các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người chủ rừng
1.2.2 Các hạn chế khi vận dụng các tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu cổ điển
Các hạn chế của việc vận dụng các tiêu chí trong lý thuyết chu kỳ kinh doanh tối ưu nêu trên vào thực tiễn chủ yếu xuất phát từ các giả thiết mà sử dụng trong các lý thuyết đó có khoảng cách khá xa với thực tiễn Các giả định
- Khả năng tiếp cận thị trường vốn là không hạn chế, người trồng rừng
có thể vay hoặc gửi tiền với lãi suất thị trường với số lượng tùy ý
- Giá đơn vị gỗ rừng trồng (cây đứng) không phụ thuộc vào tuổi rừng khai thác Nghĩa là thu nhập từ rừng trồng/ đơn vị diện tích chỉ phụ thuộc vào sản lượng sản phẩm gỗ khai thác /đơn vị diện tích, mà không phụ thuộc vào chất lượng gỗ ở các cấp tuổi khác nhau
- Sản lượng gỗ rừng trồng là một hàm của 1 biến là thời gian (tuổi rừng trồng) Hầu hết các nghiên cứu ở thời kỳ đầu, như Gaffney (1957), Goundrey (1960), Pearse (1967) Samuelson (1976) đều giả thiết dạng hàm lồi (concave) của hàm sản lượng gỗ với tuổi rừng:
F = V(T) ; với F’ (T) > 0 và F’’ (T) < 0 F’(T) và F’’(T) ký hiệu đạo hàm bậc nhất và bậc hai của F theo T Trong thực
Trang 26tế, hàm tăng trưởng rừng trồng phụ thuộc rất lớn vào phương thức canh tác, nhất là chế độ tỉa thưa được thiết kế theo mục đích kinh doanh (gỗ lớn, gỗ nhỏ) nên giả thiết nói trên là khó có thể đáp ứng được
Các nghiên cứu khác trên thế giới đã hạn chế được một phần các nhược điểm nói trên, chúng tôi trình bày tóm tắt về các nghiên cứu đó ở mục 1.4
“Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu có liên quan” và 1.3 “Cơ sở thực tiễn
về kinh doanh rừng trồng gỗ lớn”
1.3 Cơ sở thực tiễn về kinh doanh rừng trồng gỗ lớn
1.3.1 Tình hình trồng rừng nguyên liệu tại các tỉnh
Theo quyết định số 3322/QĐ-BNN-TCLN ngày 28 tháng 7 năm 2014 về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2013, hiện nay tổng diện tích rừng của nước ta là 13.954.454 ha trong đó có 2.081.790 ha rừng đặc dụng, 4.665.531 ha rừng phòng hộ và 7.001.018 ha rừng sản xuất Diện tích rừng trồng của nước ta tính đến năm 2013 là 3.556.314 ha trong đó có 3.16.314 ha rừng trồng đã khép tán và 395.979 ha rừng trồng chưa khép tán
Diện tích rừng trồng mới đã tăng mạnh từ 1,92 triệu ha năm 2002 lên 3,4 triệu ha năm 2012, bình quân tăng 127.000 ha/năm Tổng trữ lượng rừng trồng 73,5 triệu m3, bình quân tăng 6,2%/năm
Theo thống kê của Tổng cục lâm nghiệp, diện tích rừng trồng lớn nhất nước ta hiện nay là vùng Đông bắc với 1.232.031 ha (35,83%), vùng Bắc Trung Bộ với 712.015 ha (0,71%), Duyên hải Nam Trung Bộ với 545.538 ha (15,87%), Tây Nguyên với 309.950 ha (9,01%), các vùng còn lại có diện tích rừng trồng trên dưới 200.000 ha
Tuy diện tích và sản lượng gỗ rừng trồng đã tăng nhưng chủ yếu là cung cấp gỗ nhỏ làm nguyên liệu giấy, dăm gỗ… giá trị kinh tế thấp; chưa có các giải pháp về kỹ thuật và chính sách phát triển rừng trồng gỗ lớn phục vụ cho sản xuất đồ mộc, gỗ xuất khẩu với giá trị kinh tế cao Mặt khác, sản lượng và
Trang 27chất lượng rừng trồng còn thấp, trung bình chỉ đạt 10 - 13m3/ha/năm (còn khoảng 0,7 triệu ha rừng trồng hàng năm đạt bình quân 7 - 9m3/ha/năm), sản lượng gỗ rừng trồng hàng năm đạt khoảng 15 - 17m3 trong đó có 3 - 3,4 triệu
m3 gỗ lớn (20%) và 12 – 13,6 triệu m3 gỗ nhỏ (80%), chưa đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu gỗ lớn phục vụ chế biến trong nước
Nhằm khắc phục những hạn chế đó, Tổng cục lâm nghiệp đang triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng và sản phẩm gỗ chế biến
từ rừng trồng, tạo vùng nguyên liệu tập trung, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đồ gỗ xuất khẩu, giảm dần nhập khẩu gỗ nguyên liệu
Mặc dù trong quy hoạch bảo vệ phát triển rừng đến năm 2020 của các tỉnh đã có quy hoạch trồng rừng gỗ lớn, song những năm qua, hầu hết các tỉnh chủ yếu tập trung cho phát triển trồng rừng nguyên liệu gỗ nhỏ phục vụ chế biến bột giấy, băm dăm, gỗ bóc, cung cấp gỗ trụ mỏ, số mô hình trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn ở một số tỉnh còn rất ít, diện tích nhỏ
Các đơn vị, chủ rừng chủ yếu áp dụng phương thức trồng rừng kinh doanh gỗ nhỏ, nguyên liệu giấy, băm dăm với mật độ trồng rừng bình quân 1.660 cây/ha; tùy từng điều kiện cụ thể có thể kéo dài thời gian nuôi dưỡng rừng (trên 10 năm đối với cây Keo, trên 14 năm đối với cây Mỡ,…) để khai thác được sản phẩm gỗ có kích thước đạt tiêu chuẩn gỗ lớn (đường kính ɸ ≥ 15cm)
Diện tích rừng trồng đã được chuyển đổi sang mục đích kinh doanh gỗ lớn tại 19 tỉnh trong 3 vùng Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Nam trung Bộ hiện có khoảng 40.000 ha Diện tích này tập trung chủ yếu ở Công
ty có điều kiện đất đai, thị trường thuận lợi tại tỉnh Quảng Trị và tỉnh Phú Yên Diện tích còn lại chủ yếu được trồng quy mô nhỏ do các dự án ODA tài
Trang 28trợ tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam…
Ngoài diện tích rừng trồng đã được chuyển đổi sang mục đích kinh doanh gỗ lớn như trên, các tỉnh cũng có một số diện tích được trồng từ nguồn vốn của chương trình 327, chương trình 661 mà trước đây được quy hoạch là rừng phòng hộ, nay rà soát chuyển sang rừng sản xuất cũng có thể cung cấp nguyên liệu gỗ lớn
Như vậy, mặc dù chưa có đơn vị (Công ty Lâm nghiệp) nào thực hiện phương thức trồng rừng kinh doanh gỗ lớn từ đầu chu kỳ (với mật độ, loài cây trồng và thực hiện các biện pháp kỹ thuật phù hợp), song trên thực tế đã có sản phẩm gỗ lớn được hình thành từ việc tỉa thưa, nuôi dưỡng một số diện tích rừng nguyên liệu khi kéo dài chu kỳ kinh doanh từ 8 – 12 năm hoặc chuyển đổi sau rà soát quy hoạch 3 loại rừng
Ở tỉnh Tuyên Quang, bắt đầu từ năm 2014, toàn tỉnh đã triển khai thực hiện mô hình trồng rừng kinh doanh gỗ lớn kết hợp với kinh doanh gỗ nguyên liệu giấy tại các công ty lâm nghiệp Điển hình là tại công ty Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Sơn Dương đã trồng được 10,7 ha keo tai tượng, đạt 107% kế hoạch Theo chỉ đạo của UBND tỉnh Tuyên Quang, Sở Nông nghiệp và PTNT, công ty đã đăng ký trồng 10 ha rừng kinh doanh gỗ lớn và
10 ha chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ lớn kết hợp với kinh doanh nguyên liệu giấy Cùng đó, toàn tỉnh Tuyên Quang đã triển khai đến 5 Công ty lâm nghiệp thực hiện, với tổng diện tích gần 40 ha Trong quá trình trồng, áp dụng chế độ thâm canh, không tỉa thưa, tuổi khai thác có thể để từ 12 đến 18 năm Ngoài
ra, các công ty còn thực hiện chuyển hóa rừng gỗ lớn từ rừng nguyên liệu giấy Tuổi rừng thực hiện chuyển hóa rừng trồng từ 3 đến 4 tuổi, mật độ để lại nuôi dưỡng từ 400 đến 600 cây/ha
Trang 29Tại Bắc Giang, từ đầu năm 2014, chi cục lâm nghiệp đã tham mưu, chỉ đạo Ban quản lý rừng phòng hộ: Sơn Động, Cấm Sơn truyên truyền, vận động các hộ gia đình thuộc địa bàn xã Long Sơn huyện Sơn Động; xã Sơn Hải huyện Lục Ngạn xây dựng mô hình trồng rừng gỗ lớn với diện tích 20 ha (mỗi đơn vị 10 ha) với cây trồng chính là Keo tai tượng, thời gian kinh doanh rừng trồng từ 12-14 năm Xây dựng mô hình chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn được thực hiện tại xã Kiên Lao huyện Lục Ngạn với diện tích 10 ha và xã Đồng Tiến huyện Yên Thế với diện tích 10 ha, thuộc công ty TNHH một thành viện lâm nghiệp Lục Ngạn và Yên Thế
1.3.2 Sản lượng và giá trị rừng trồng
Tại các tỉnh vùng Đông Bắc Bộ: tuổi khai thác chủ yếu từ 5 -7 năm, nên sản lượng khai thác bình quân chỉ từ 65 – 70 m3/ha, sản lượng bình quân ở đối tượng này khoảng 10 m3/ha/năm Rừng trồng khai thác ở tuổi 5, bán gỗ cây đứng được khoảng 35 triệu đồng/ha, trong khi chi phí đầu tư trồng rừng khoảng 20 triệu đồng/ha; bình quân chỉ thu 3 triệu đồng/ha/năm Khi khai thác rừng trồng ở tuổi 8, đã có một tỷ lệ lợi dụng để bán chế biến đồ mộc (20% số cây có đường kính từ 15cm trở lên); còn lại bán nguyên liệu giấy thì giá trị rừng trồng cao hơn (bán khoảng 80 triệu đồng/ha, với chi phí trồng rừng khoảng 30 triệu đồng/ha thì bình quân thu khoảng 6 triệu đồng/ha/năm) Tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ: tuổi khai thác chủ yếu từ 5 – 8 năm, sản lượng khai thác bình quân dao động từ 70m3/ha đến 180m3/ha, sản lượng bình quân đạt 15 – 25 m3/ha/năm (Công ty lâm nghiệp Sông Hiếu – Nghệ An, Công ty Lâm Nghiệp Quy Nhơn – Bình Định) và giá bán cây đứng đạt được từ 70 – 100 triệu đồng/ha
Giá trị gỗ rừng trồng tăng lên theo cấp đường kính: Nếu bán gỗ dăm hoặc gỗ nguyên liệu giấy giá trị chỉ đạt khoảng 700.000 đồng – 800.000 đồng/tấn, nhưng nếu gỗ chế biến đường kính càng cao thì giá trị càng lớn (đường kính 15cm giá 1.100.000 – 1.200.000 đồng/m3; đường kính 25 – 30cm
Trang 30khoảng 1.800.000 – 2.000.000 đồng/m3; đường kính trên 35 cm khoảng 3.000.000 đồng/m3)
1.3.3 Về giống và kỹ thuật
- Giống cây trồng:
Tại vùng Đông Bắc Bộ: tập đoàn cây trồng rừng sản xuất gồm các loài như Keo tai tượng, Keo lai, Bạch đàn, Bồ đề, Thông, Mỡ, Lát hoa, Trám, Xoan, Giổi, Lim xanh, Vối thuốc… Trong đó, Keo vẫn là loài cây chủ lực được lựa chọn với tỷ lệ gây trồng trên 80% diện tích
Tại vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ: Tập đoàn cây trồng rừng sản xuất gồm các loài cây như Keo tai tượng, Keo lai, Bạch đàn, Thông Caribaea, Mỡ, Lát hoa, Xoan ta, Lim xanh, Huỳnh, Sao đen, Dầu rái, Trong đó, Keo tai tượng và Keo lai cũng là những loài cây chủ lực được lựa chọn với tỷ lệ gây trồng trên 90% diện tích
- Về kỹ thuật:
Trồng rừng sản xuất (Keo, Bạch đàn) hiện nay phổ biến nhất với mật độ bình quân 1.600 cây/ha Chỉ có một số ít diện tích ở Tuyên Quang, Công ty Lâm nghiệp Sông Hiếu (Nghệ An) trồng với mật độ 1.100 cây/ha
Việc đầu tư trồng rừng thâm canh vẫn ở mức độ thấp, việc đào hố đúng kích thước, bón lót và chăm sóc rừng theo quy trình kỹ thuật chỉ được thực hiện ở một số đơn vị trồng rừng lớn, các đơn vị nhỏ lẻ khác và các hộ gia đình chủ yếu trồng quảng canh nên sản lượng rừng thấp
Hiện nay, rừng trồng cung cấp nguyên liệu với chu kỳ ngắn nên việc tỉa thưa để nuôi dưỡng rừng trồng là rất ít, do củi gỗ tận thu không đáng kể và không bù đắp chi phí cho công tác tỉa thưa Vì vậy, hầu hết các đơn vị không thực hiện quy trình này
1.3.4 Về cơ chế chính sách đang áp dụng
Việc phát triển rừng sản xuất hiện nay ở các địa phương đang thực hiện theo quyết định 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 31về một số chính sách phát triển sản xuất giai đoạn 2007 – 2015 Theo đó, mức
hỗ trợ cho trồng rừng gỗ lớn là 3 triệu đồng/ha Từ năm 2012, mức hỗ trợ trồng các loài cây gỗ lớn, cây bản địa tăng từ 3 triệu đồng/ha lên 4,5 triệu đồng/ha theo Quyết định số 66/2011/QĐ-TTg ngày 9/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ Tuy nhiên, do nguồn vốn Ngân sách hàng năm hạn chế và đối tượng hỗ trợ là hộ gia đình nên diện tích được hỗ trợ chưa nhiều
1.3.5 Khó khăn, vướng mắc để phát triển trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn
Về đất đai
Hiện nay, quỹ đất lâm nghiệp tập trung quy mô lớn để trồng mới rừng sản xuất không còn Mặc dù các tỉnh có dự kiến diện tích trồng rừng mới, song trên thực tế những nơi có điều kiện đất tốt thì đã trồng rừng; diện tích chưa trồng là ở vùng cao, xa, điều kiện lập địa khó khăn, chỉ có thể phát triển cây bản địa lâu năm
Quy mô, diện tích đất lâm nghiệp của mỗi hộ gia đình nhỏ lẻ (mỗi hộ gia đình chỉ 1 – 2ha), số hộ có diện tích đất lâm nghiệp trên 5ha rất ít Các hộ gia đình chủ yếu là ở vùng miền núi, đời sống khó khăn, thiếu vốn sản xuất nên trồng rừng quảng canh, chu kỳ ngắn để nhanh cho sản phẩm, thu nhập Vì vậy, việc kéo dài thời gian khai thác rừng để kinh doanh gỗ lớn là hết sức khó khăn
Công tác giao đất lâm nghiệp cho các chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân ở một số địa phương còn chậm Nhiều chủ rừng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) để vay vốn, ổn định sản xuất
Các công ty lâm nghiệp đã được cấp sổ đỏ phải trả tiền thuê đất và đóng thuế sử dụng đất theo Luật đất đai, làm tăng chi phí cho trồng rừng Bên cạnh
đó, việc đóng tiền thuê đất phải thực hiện hàng năm trong khi chu kỳ kinh doanh rừng kéo dàu nhiều năm cũng là một trong những khó khăn lớn đối với kinh doanh rừng trồng nguyên liệu gỗ lớn
Về vốn và tín dụng
Trang 32Do kinh doanh gỗ lớn có chu kỳ dài hơn kinh doanh nguyên liệu gỗ nhỏ (bột giấy, băm dăm,…), chi phí đầu tư lớn hơn, trong khi việc vay vốn sản xuất của các Công ty lâm nghiệp, các tổ chức, hộ gia đình rất khó khăn; kinh phí nuôi dưỡng rừng chủ yếu do các chủ rừng tự huy động, do đó chưa có điều kiện phát triển rừng kinh doanh gỗ lớn
Vay vốn từ các ngân hàng thương mại thường có lãi suất cao, điều kiện vay, thủ tục vay hết sức khó khăn (phải có tài sản thế chấp), thời gian cho vay ngắn nên các doanh nghiệp và hộ gia đình khó tiếp cận được nguồn vốn
Trồng rừng có chu kỳ kinh doanh dài và rủi ro cao nên các Ngân hàng thường không muốn cho vay trồng rừng; các hộ gia đình, các nhân càng khó
có cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng để trồng rừng Nếu được vay vốn, Ngân hàng cũng chỉ cho vay tối đa khoảng 50% giá trị đầu tư, với lãi suất thương mại cao nên sau khi trừ chi phí, giá trị thu được thường rất thấp
Về thị trường và cơ sở hạ tầng
Tuy trồng rừng gỗ lớn cho giá trị kinh tế cao hơn, song do nhu cầu nguyên liệu giấy, băm dăm, trụ mỏ tăng mạnh nên chính quyền một số tỉnh chỉ định hướng kinh doanh rừng cung cấp nguyên liệu gỗ nhỏ Do đó việc trồng rừng gỗ lớn sẽ khó phát triển nếu không có chính sách hỗ trợ của Nhà nước
Thị trường giá cả thiếu ổn định, chu kỳ sản xuất kinh doanh dài, chính sách quản lý thu mua còn nhiều bất cập là yếu tố hạn chế tới việc khuyến khích người dân và các nhà đầu tư trong việc liên doanh, liên kết đầu tư trồng rừng kinh doanh gỗ lớn
Hạ tầng lâm nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, đặc biệt là
hệ thống đường lâm nghiệp dẫn đến khó khăn trong công tác đầu tư phát triển rừng gỗ lớn (từ các khâu trồng, tỉa thưa, khai thác, vận chuyển chi phí rất cao)
Về giống và kỹ thuật
Trang 33Công tác quản lý giống cây trồng lâm nghiệp đã có nhiều chuyển biến, song ở nhiều nơi chưa quản lý, giám sát được chất lượng giống, đặc biệt là các cơ sở sản xuất tư nhân, quy mô nhỏ (hộ gia đình)
Các giống mới được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận nhiều nhưng mới dừng lại ở mô hình khảo nghiệm của đề tài mà chưa được nhân giống để chuyển giao, cung cấp cho sản xuất đại trà
Giống và nguồn trồng chưa cụ thể cho trồng rừng gỗ lớn và trồng rừng
gỗ nhỏ, chưa cụ thể cho từng vùng, từng điều kiện lập địa
Trồng rừng chủ yếu vẫn ở mức thâm canh thấp, đào hố nhỏ, không bón phân, chăm sóc ít lần nên rừng sinh trưởng chậm, sản lượng thấp
Chưa có nhiều mô hình rừng trồng kinh doanh gỗ lớn điểm hình tại các vùng làm cơ sở tham quan, tuyên truyền, học tập
Chưa có hướng dẫn kỹ thuật cụ thể đối với việc chuyển hóa rừng trồng kinh doanh gỗ lớn
Rủi ro khi đầu tư trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn
Trồng rừng gỗ lớn có chu kỳ kinh doanh dài nên thường gặp rủi ro như cháy rừng, thiên tai, gió, bão, trong khi chưa có chính sách bảo hiểm đối với rừng trồng
Thị trường tiêu thụ và giá cả thiếu ổn định; mặt khác, giống phục vụ trồng rừng chủ yếu là Keo tai tượng, Keo lai, những loài cây này có nhiều khuyết tật khi kinh doanh gỗ lớn (xẻ) như: rỗng ruột, nhiều mấu, mắt làm giảm giá trị của gỗ
1.4 Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan
1.4.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Về mặt lý thuyết
Các nghiên cứu về chu kỳ khai thác rừng tối ưu trong khoảng 30 năm gần đây chủ yếu hướng vào mở rộng mô hình FPO, thay đổi, bổ sung các biến của mô hình để phản ảnh chính xác hơn thực tế và bao hàm đầy đủ hơn các
Trang 34nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của chủ rừng về luân kỳ khai thác
Chang (1983) và Graham – Tomassi (1983) mở rộng mô hình bằng bổ sung biến thâm canh lâm sinh (silvicultural efforts) vào hàm sản lượng rừng, khi đó, kết quả xác định chu kỳ khai thác tối ưu lại phụ thuộc vào vấn đề hai biến của hàm sản lượng rừng (thời gian và thâm canh) là bổ sung hay thay thế cho nhau, cần các ước lượng thực nghiệm về hàm sản lượng để trả lời câu hỏi này Cũng về hàm sản lượng gỗ, Johansson và Lofgren (1985) khảo sát ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ (qua đó ảnh hưởng đến hàm tăng trưởng sinh học của rừng) đến chu kỳ khai thác tối ưu, kết quả cho thấy, dưới ảnh hưởng của sự gia tăng sản lượng rừng, luân kỳ khai thác sẽ có xu thế giảm trong ngắn hạn và kéo dài trong dài hạn
Mc Connell và các cộng sự (1983) khảo sát ảnh hưởng của thay đổi gía
gỗ và chi phí trồng rừng đến chu kỳ khai thác tối ưu bằng phương pháp giải bài toán tối ưu động, trong đó đặt tình huống trong tương lai, đất trồng rừng
có thể dịch chuyển khỏi khu vực lâm nghiệp và khi đó, chi phí trồng rừng có thể rất cao Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy, nếu giá gỗ tăng với tỷ lệ tăng không đổi, và chi phí trồng rừng tăng nhanh, thì chu kỳ khai thác tối ưu sẽ tăng theo thời gian, còn ngược lại, nếu giá gỗ tăng với tốc độ tăng cao hơn tỷ
lệ tăng của chi phí, thì chu kỳ khai thác tối ưu sẽ giảm theo thời gian Ngoài
ra, tỷ lệ tăng của giá thuần (net price) của gỗ phải nhỏ hơn tỷ lệ chiết khấu, bởi nếu ngược lại, thì việc khai thác rừng sẽ bị trì hoãn đến vô cùng do giá trị hiện tai của thu nhập từ trồng rừng sẽ liên tục tăng theo thời gian (nghĩa là sẽ không có điểm cực đại, mà ở đó, chu kỳ khai thác được coi là tối ưu)
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của rủi ro như cháy rừng và thiên tai đến luân kỳ khai thác tối ưu được đề cập đến trong các nghiên cứu của Martell (1980); Reed (1984), các tác giả này sử dụng các kỹ thuật khác nhau như mô hình Markov với xác suất cháy rừng cố định, hoặc đưa xác suất cháy rừng bình quân vào tỷ lệ chiết khấu, kết quả chung của các nghiên cứu này là mức
Trang 35độ rủi ro cao sẽ dẫn tới rút ngắn chu kỳ khai thác tối ưu Tuy nhiên, khi mô hình hóa rủi ro và tính không chắc chắn theo hướng các quá trình ngẫu nhiên (stochastic process), các nghiên cứu của Motoh (2004), Insley (2002), Insley
và Rollins (2005) đã sử dụng các quy luật phân phối ngẫu nhiên khác nhau của giá cả và sản lượng gỗ, bổ sung vào mô hình FPO và giải bài toán tối ưu xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu, nhưng các kết quả là không thóng nhất, thậm chí là trái ngược nhau, lý do chủ yếu được giải thích là các yếu tố ngẫu nhiên được đưa vào mô hình phụ thuộc rất lớn vào các điều kiện đặc thù của thị trường
Một số lượng đáng kể các nghiên cứu về chu kỳ kinh doanh rừng tối ưu cũng được tập trung vào việc tính đến các lợi ích ngoài gỗ, nhất là các ngoại ứng tích cực như cảnh quan, phòng hộ, cố định cacbon… của rừng trồng Hartman (1976) là người đầu tiên bổ sung vào công thức Faustmann lợi ích ngoài gỗ của rừng trồng và giải bài toán tối ưu, kết quả cho thấy ảnh hưởng của lợi ích ngoài gỗ sẽ làm kéo dài hay rút ngắn luân kỳ khai thác tối ưu tùy thuộc vào các lợi ích ngoài gỗ đó đó tăng hay giảm theo tuổi rừng Calish và các cộng sự (1978) đã kiểm định các công thức là kết quả của Hartman, sử dụng các phương trình sản lượng của 7 loại lợi ích ngoài gỗ của vùng trồng
gỗ linh sam, kết quả kiểm định khẳng định kết quả nghiên cứu của Hartman
về ảnh hưởng của các lợi ích ngoài gỗ đến luân kỳ khai thác tối ưu Tuy nhiên, ngoài tính phức tạp của lượng hóa lợi ích ngoài gỗ của rừng trồng thì tính chất công cộng của các lợi ích này dẫn tới việc xác định mức độ ảnh hưởng của lợi ích này đến quyết định chu kỳ kinh doanh của các cá nhân chủ rừng (Amacher, 2013)
Về mặt thực tiễn (xác định chu kỳ khai thác tối ưu cho các loài cây cụ thể)
Do tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh luôn là tối đa hóa lợi ích của người trồng rừng, mà tiêu chí này chỉ tính toán được khi có số liệu đáng tin cậy về thu nhập và chi phí, đến lượt mình, thu nhập và chi phí lại phụ thuộc
Trang 36toàn bộ vào quy trình kỹ thuật, tăng trưởng, sản lượng, sản lượng và chi phí
trồng rừng gắn rất chặt với kỹ thuật
1.4.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Về lý thuyết xác định chu kỳ kinh doanh rừng
Các tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu được trình bày trong các giáo trình kinh tế lâm nghiệp, kinh tế tài nguyên, đề cập đến các tiêu chí chung, tham khảo các học giả nước ngoài Trong đó, ba tiêu chí được giới thiệu phổ biến là: tối đa hóa sản lượng rừng bình quân, tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập ròng từ 1 luân kỳ trồng rừng, tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập ròng từ vô số các luân kỳ (Nguyễn Quang Hà, 2001, Nguyễn Văn
Đệ, 2004, Nguyễn Văn Song, 2009, 2013)
Tuy nhiên, trong thực tiễn nghiên cứu hiệu quả rừng trồng, hầu hết các nghiên cứu đánh giá hiệu quả trồng rừng đều sử dụng các chỉ tiêu liên quan đến giá trị hiện tại của thu nhập ròng (NPV) từ trồng rừng, với giả định chu
kỳ kinh doanh đã được xác định trước, để so sánh lựa chọn các mô hình trồng rừng trên góc độ loài cây, kỹ thuật chứ không phải lựa chọn chu kỳ kinh doanh tối ưu Các nghiên cứu thuộc thể loại này rất nhiều, có thể kể đến một vài nghiên cứu có phạm vi (không gian) rộng như Lương văn Tiến (2010): Nghiên cứu hiệu quả một số loại cây rừng làm cơ sở đề xuất định hướng phát triển cây trồng chủ lực phục vụ cho sản xuất hàng hoá lâm sản ở Việt Nam” ; Trần Duy Rương (2013): Đánh giá hiệu quả rừng trồng keo lai tại một số vùng sinh thái tại Việt nam; Đoàn Hoài Nam (2006): Đánh giá hiệu quả kinh
tế của rừng trồng thâm canh keo lai tại một số vùng sản xuất kin tế lâm nghiệp… Tất cả các dự án đầu tư về trồng rừng, từ các nguồn vốn, đều sử dụng các chỉ tiêu NPV, IRR, BCR để đánh giá tài chính, đánh giá kinh tế (trước và sau) dự án Do giả định trước về chu kỳ kinh doanh rồi mới tính hiệu quả kinh tế, nên có thể nói hiệu quả kinh tế không được sử dụng để xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu, mà ngược lai, chu kỳ kinh doanh (mặc định
Trang 37trước) được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế
Theo hướng sử dụng hiệu quả kinh tế để xác định chu kỳ kinh doanh tối
ưu cũng đã có một số ít nghiên cứu được thực hiện, nhưng ở phạm vi hẹp Nguyễn Quang Hà (2001) ứng dụng mô hình FPO để xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu cho hai loài cây rừng trồng nguyên liệu (bồ đề và mỡ) Tuy nhiên, nghiên cứu này giữu nguyên toàn bộ các giả định của mô hình FPO, trong đó có giả định giá gỗ rừng trồng không phụ thuộc vào cấp tuổi, nên chỉ
có thể ứng dụng, tham khảo cho trồng rừng nguyên liệu giấy Đỗ Anh Tuân (2013) sử dụng phương pháp so sánh các chỉ tiêu tổng NPV, NPV/năm theo các chu kỳ kinh doanh khác nhau (5-9 năm), để đề xuất chu kỳ kinh doanh tối
ưu Trong việc tính toán xác định chi phí, thu nhập, nghiên cứu này sử dụng giá cả thực tế của các sản phẩm thương phẩm theo cấp tuổi của rừng trồng keo, nên đảm bảo độ tin cậy về phương pháp Tuy nhiên, một trong các hạn chế của tiêu chí sử dụng trong nghiên cứu này là chỉ dừng lại ở cấp tuổi 9, trong khi giá trị của tổng NPV và NPV/năm đều tăng theo cấp tuổi Hơn nữa việc sử dụng chỉ tiêu NPV cho 1 luân kỳ, thay vì nhiều luân kỳ (ít nhất là trong phạm vi số năm thuộc thời hạn giao đất) là kém thuyết phục
Bên cạnh các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, các nghiên cứu về hiệu quả rừng trồng, đánh giá dự án rừng trồng cũng thường đề cập đến hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường, sử dụng các chỉ tiêu như số việc làm được tạo ra, sự tham gia của phụ nữ, tỷ lệ che phủ, hạn chế xói mòn, hấp thụ carbon… Các tiêu chí đánh giá này có mức độ định lượng thấp hơn (ngoại trừ tác dụng hấp thụ cac bon được nghiên cứu định lượng khá đầy đủ và bải bản), ví dụ: Phan Minh Sang và Lưu Cảnh Trung, 2006; Vũ Tấn Phương 2006; Võ Đại Hải,
2009, 2014…) và cũng tương tự như các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế, không được sử dụng để xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu, hoặc nếu có, thì cũng chỉ là các phân tích, nhận định mang tính định tính là: các tác động tích cực về môi trường, cảnh quan tỷ lệ thuận với độ dài của chu kỳ kinh doanh
Trang 38(Ví dụ: Bộ Nông nghiệp, Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp, Quyết định 774)
Tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh rừng trồng được các nhà kỹ thuật lâm nghiệp quan tâm là tối đa hóa tăng trưởng rừng bình quân năm (trong cả chu kỳ), tức tiêu chí CMAI được trình bày trên đây Đây là điều tự nhiên bởi
về mặt kỹ thuật lâm sinh, thì tiêu chí đặt ra luôn là tạo ra sản lượng cao nhất, hay sản lượng gõ bình quân năm cao nhất trong cả luân kỳ trồng rừng Tuy nhiên, trên thục tế, kể cá trong các khuyến cáo hay văn bản pháp quy (hiện hành là Quy chế Khai thác gỗ và lâm sản ban hành theo Quyết định số 40/2005-BNN) thì tuổi khai thác rừng trồng là rừng sản xuất được xác định chủ yêu theo tuổi thành thục công nghệ theo mục đích kinh doanh và do chủ rừng quyết định Hay nói cách khác, trên thực tế, độ tuổi khai thác của rừng trồng là rừng sản xuất đang được xác định theo kinh nghiệm, thói quen của chủ rừng, và tiêu chí phổ biến mà các chủ rừng lựa chọn thường là sớm nhất
có thể khi sản phẩm khai thác đáp ứng được tiêu chuẩn nguyên liệu của người mua Các tính toán, cân nhắc về lợi ích, thu nhập để đưa ra quyết định giữa khai thác hay để lại chưa khai thác rất ít khi được các chủ rừng, kể cả các chủ rừng lớn như công ty lâm nghiệp thực hiện
Do vậy, có thể khái quát các vấn đề đặt ra đối với các nghiên cứu xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu đối với rừng trồng ở Việt nam là:
Chu kỳ kinh doanh (hay tuổi/luân kỳ khai thác) rừng trồng không được xác định trên quan điểm kinh tế, mà chủ yếu là trên quan điểm kỹ thuật hoăc kinh nghiệm của chủ rừng Hiệu quả kinh tế không được sử dụng để xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu, mà ngược lại, chu kỳ kinh doanh nào đó được xác định trước, được sử dụng để tính toán hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế được tính, do vậy, là không chính xác bởi sử dụng một tham số quan trọng nhưng không chính xác là chu kỳ kinh doanh rừng
Quan điểm tính hiệu quả kinh tế: lợi ích thu được từ trồng rừng được xác
Trang 39định theo dự án, một luân kỳ: không tính đến giá trị đất trống sau trồng rừng, trong khi trên thực tế, giá trị thu được từ các luân kỳ tiếp theo rất được người trồng rừng quan tâm và đó là một trong những lý do chính của xu thế rút ngắn luân kỳ khai thác
Tuy các tiêu chí về môi trường, xã hội cũng thường được đề cập, nhưng được tính một cách riêng rẽ, không có liên hệ với chỉ tiêu kinh tế, và chỉ có ý nghĩa tham khảo, định tính trong các quyết định hỗ trợ trồng rừng
Về khía cạnh kỹ thuật
Các vấn đề tăng trưởng, sản lượng, sản lượng, tuổi thành thục công nghệ của rừng trồng tuy về mặt lý thuyết là khá hoàn chỉnh, nhưng các biểu sản lượng, hàm tăng trưởng cho các loại cây trồng, các vùng sinh thái mới chỉ được ứng dụng, xây dựng cho một số loài, ở một số địa phương riêng lẻ, một
số biểu sản lượng rừng trồng được công bố chính thức cũng hạn chế về khả năng ứng dụng, tra cứu do sự thay đổi trên thực tế về giống cây, kỹ thuật canh tác Trong thực tế kinh doanh, các chủ rừng cũng không quan tâm (hoặc không có điều kiện để thực hiện) đến lựa chọn tuổi khai thác rừng theo tiêu chí định trước nào đó, mà phổ biến là “tiêu chí”: khai thác ở năm sớm nhất
mà sản phẩm gỗ có thể bán
Với những hạn chế đó, có thể nói trên thực tế, ở Việt nam chưa có các nghiên cứu, xác định chu kỳ kinh doanh rừng trồng có cơ sở khoa học, được tính toán, thực hiện bài bản Các hạn chế, khó khăn trong lựa chọn tiêu chí và tính toán xác định chu kỳ kinh doanh rừng trồng của thế giới như: Xác định
và sử dụng các dạng hàm tăng trưởng phù hợp với từng loài cây trồng; Xử lý ảnh hưởng của rủi ro, tính không chắc chắn về cả giá cả chi phí và sản lượng, Thiết lập và Giải bài toán tối ưu (tối đa hóa thu nhập ròng từ vô số các luân kỳ trồng rừng) khi giá gỗ theo cấp tuổi là không đồng nhất, Có hay không và nếu
có, thì tính đến các lợi ích xã hội (cảnh quan, môi trường) khi xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu… cũng là các vấn đề đặt ra với Việt nam
Trang 40Như vậy, các kết luận có thể rút ra từ nghiên cứu tổng quan nói trên đối với xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu là:
Về lý thuyết, tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu có sức thuyết phục, được thừa nhận rộng rãi, chính thống là: tối đa hóa lợi ích của người trồng rừng (cụ thể là tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập ròng của người trồng rừng, từ tất cả các luân kỳ trồng rừng trên đất được giao)
Tuy nhiên, các vấn đề, các khó khăn chủ yếu khi áp dụng mô hình lý thuyết FPO này vào thực tiễn là:
- Xác định và sử dụng các dạng hàm tăng trưởng phù hợp với từng loài cây trồng
- Xử lý ảnh hưởng của rủi ro, tính không chắc chắn về cả giá cả chi phí