Tuy nhiên trên thực tế có nhiều địa phương sau khi cộng đồng được giao đất giao rừng nhiều năm mà vẫn không hề có các biện pháp quản lý bảo vệ hay tác động các biện pháp lâm sinh để phát
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-
CHU VĂN NHẤT
LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG TỈNH ĐĂK NÔNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU TRONG QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG TẠI THÔN PHÚ LỢI, XÃ QUẢNG PHÚ, HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Đồng Nai, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-
CHU VĂN NHẤT
LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG TỈNH ĐĂK NÔNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU TRONG QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG TẠI THÔN PHÚ LỢI, XÃ QUẢNG PHÚ, HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ SỸ VIỆT
Đồng Nai, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Đăk Nông, ngày……tháng năm 2014
Tác giả
Chu Văn Nhất
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện và hoàn thành theo chương trình đào tạo Thạc
sỹ khoa học Lâm nghiệp của Trường Đại học Lâm Nghiệp cơ sở 2 tỉnh Đồng Nai Nhân dịp hoàn thành luận văn, tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Sỹ Việt người đã bồi dưỡng kiến thức quý báu và dành tình cảm tốt đẹp cho tác giả từ khi hình thành, phát triển ý tưởng, xây dựng đề cương, tổ chức triển khai và hoàn thiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Ban Khoa Học Công Nghệ Sau Đại học trường Đại học Lâm nghiệp cơ sở 2 đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Đối với Địa phương, tác giả chân thành cảm ơn thôn Phú Lợi; UBND xã Quảng Phú; UBND huyện Krông Nô; Chi cục lâm nghiệp tỉnh Đăk Nông; cùng bà con các dân tộc ở Địa phương nơi tác giả đã đến thu thập số liệu để thực hiện luận văn Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã khuyến khích, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Mặc dù đã làm việc nghiêm túc với tất cả nỗ lực, nhưng do trình độ và thời gian hạn chế, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các Thầy, Cô giáo, các nhà khoa học cùng bạn bè, đồng nghiệp và xin chân thành tiếp thu các ý kiến đóng góp đó./
Xin trân trọng cảm ơn!
Đăk Nông, tháng năm 2014
Tác giả
Chu Văn Nhất
Trang 5MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Khái niệm về cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng 3
1.1.2 Quá trình phát triển lâm nghiệp cộng đồng trên thế giới 4
1.1.3 Quản lý rừng cộng đồng ở một số quốc gia 5
1.1.4 Những kinh nghiệm và bài học quản lý bền vững rừng cộng đồng trên thế giới 8
1.2 Ở Việt Nam 9
1.2.1 Khái niệm về cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng 9
1.2.2 Quá trình phát triển chính sách lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam 11
1.2.3 Những chương trình, dự án về QLRCĐ ở Việt Nam 14
1.2.4 Những kinh nghiệm và bài học rút ra trong QLRCĐ ở Việt Nam 16
1.3 Một số kết luận rút ra phục vụ đề tài 17
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 19
2.2 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu 19
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
Trang 62.2.3 Giới hạn nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 20
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc các tài liệu liên quan sẵn có 20
2.4.2 Phương pháp, công cụ thu thập số liệu hiện trường 21
2.4.3 Phương pháp lập Kế hoạch QLRCĐ, xây dựng Quy ước và thành lập Quỹ BV&PTR cộng đồng thôn Phú Lợi 21
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Đăk Nông 31
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 31
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 32
3.2 Hiện trạng tài nguyên tỉnh Đăk Nông 34
3.2.1 Tài nguyên đất đai 34
3.2.2 Tài nguyên rừng và tình hình sử dụng đất lâm nghiệp 35
3.2.3 Nhận xét chung về tình hình sản xuất lâm nghiệp hiện nay 39
3.3 Điều kiện cơ bản của xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông 41
3.3.1 Đặc điểm tự nhiên 41
3.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 42
3.4 Một số thông tin tổng quát về thôn Phú Lợi 45
3.4.1 Vị trí địa lý 45
3.4.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội 46
3.4.3 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng 46
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 48
4.1 Tình hình phát triển lâm nghiệp cộng đồng tỉnh Đăk Nông 48
4.1.1 Quá trình thực hiện việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng 49
4.1.2 Kết quả thực hiện công tác giao đất, giao rừng cho cộng đồng 53
4.1.3 Đánh giá chung công tác giao đất, giao rừng cho cộng đồng 58
4.2 Các hoạt động chủ yếu trong QLRCĐ tại thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông 62
Trang 74.2.1 Đánh giá tài nguyên rừng cộng đồng 62
4.2.2 Đánh giá nhu cầu gỗ và LSNG của cộng đồng hàng năm và 5 năm 71
4.2.3 Lập kế hoạch QLRCĐ hàng năm và 5 năm cho thôn Phú Lợi 75
4.2.4 Xây dựng Quy ước bảo vệ và phát triển RCĐ thôn 83
4.2.5 Thành lập Quỹ bảo vệ và phát triên rừng cộng đồng thôn (Quỹ thôn) 89
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Tồn tại 95
3 Khuyến nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 100
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Tiêu chuẩn kỹ thuật khia thác theo Công văn 2324/BNN-LN
ngày 21/8/2007 của Bộ NN & PTNT
3.4 Hiện trạng sử dụng đất của xã Quảng Phú năm 2012 43 3.5 Diện tích và năng suất các loại cây trồng chính của xã
4.5 Kết quả điều tra số cây và trữ lượng của những khu rừng đạt
tiêu chuẩn khai thác - RCĐ thôn Phú Lợi
67
4.6 Kết quả tính số cây và trữ lượng gỗ khai thác Khu rừng già
Đăk Gu 1, trạng thái IIIa3, diện tích 9,9 ha - RCĐ thôn Phú
Lợi
68
4.7 Kết quả tính số cây và trữ lượng gỗ khai thác Khu rừng già
Đăk Gu 2, trạng thái IIIa2-le, diện tích 18,7 ha - RCĐ thôn
Phú Lợi
69
4.8 Kết quả tính số cây và trữ lượng gỗ khai thác Khu rừng già
Đăk Gu 5, trạng thái IIIa2, diện tích 26,9 ha - RCĐ thôn Phú
Lợi
69
Trang 104.9 Kết quả tính số cây và trữ lượng gỗ khai thác Khu rừng non
Đăk Gu 4, trạng thái IIIa1-le, diện tích 137,2 ha - RCĐ thôn
Phú Lợi
70
4.10 Kết quả tính số cây và trữ lượng gỗ khai thác Khu rừng Yok
Mok 1, trạng thái IIIa2, diện tích 207,4 ha - RCĐ thôn Phú
Lợi
70
4.11 Kết quả tính số cây và trữ lượng gỗ khai thác Khu rừng Dih
Dăk Dinh Tu 2, trạng thái IIIa1, diện tích 54,8 ha - RCĐ
thôn Phú Lợi
71
4.12 Bảng đánh giá nhu cầu lâm sản của thôn Phú Lợi 73 4.13 Cân đối cung - cầu gỗ trong 5 năm của CĐ thôn Phú Lợi 74
4.15 Kế hoạch khai thác le, lồ ô thuần loài các khu RCĐ thôn Phú
Lợi
76
4.16 Kế hoạch khai thác lâm sản ngoài gỗ RCĐ thôn Phú Lợi 77
4.20 Dự toán kế hoạch chi cho hoạt động kinh doanh RCĐ thôn
Phú Lợi
93
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Số hiệu
3.1 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất xã Quảng Phú năm 2012 44
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Quản lý tài nguyên rừng và đất rừng dựa vào cộng đồng là một phương thức quản lý rừng dựa vào kiến thức kinh nghiệm truyền thống và nguyện vọng của cộng đồng, hướng đến việc nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp tác chia sẻ kinh nghiệm cho cộng đồng và bên liên quan nhằm quản lý nguồn tài nguyên rừng bền vững và góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá của cộng đồng dân tộc sống trong và gần rừng Xu hướng phát triển rừng cộng đồng là yếu tố quan trọng trong phát triển lâm nghiệp ở nhiều quốc gia nhằm định hướng thu hút sự quan tâm của cộng đồng để đóng góp vào tiến trình quản lý rừng bền vững
Trong những năm qua, ở Việt Nam xu hướng nhận thức về vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã có nhiều thay đổi Rừng cộng đồng
đã tồn tại lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn của cộng đồng sống dựa vào rừng Vài năm gần đây, cộng đồng đã thực sự trở thành người chủ rừng và từ đó nâng cao ý thức bảo vệ rừng, sử dụng rừng hợp lý, góp phần nâng cao đời sống của chính những cộng đồng này
Khái niệm về rừng cộng đồng đã được nhìn nhận một cách rộng rãi và đang phát triển một cách nhanh chóng Thực tế chỉ ra rằng trải qua nhiều thế hệ, những cộng đồng sống trong rừng, phụ thuộc vào các sản phẩm từ rừng đã đúc kết cho mình những kiến thức bản địa, những luật tục truyền thống trong quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên rừng xung quanh họ
Cho đến nay về mặt pháp luật, rừng đã được giao cho cộng đồng, cộng đồng được khẳng định quyền bảo vệ và phát triển rừng, nhưng việc hưởng lợi từ rừng như thế nào vẫn chưa được rõ ràng
Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg về Quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao rừng Nhưng đối tượng trong quyết định này không có cộng đồng dân cư thôn bản
Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN về Ban hành bản hướng dẫn rừng cộng đồng dân cư thôn Quyết định này chưa phân định được rõ và cụ thể việc hưởng lợi giữa các
Trang 13cộng đồng được các dự án hỗ trợ với các cộng đồng không được các dự án hỗ trợ; chưa phân định rõ được việc hưởng lợi giữa các cộng đồng được giao rừng được khai thác
gỗ với các cộng đồng được giao rừng chỉ để bảo vệ và phát triển rừng
Trên địa bàn tỉnh Đăk Nông, bước đầu thực hiện giao rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý nên có nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu để quản lý, giúp đỡ mới mang lại thành công Những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn triển khai dự án lâm nghiệp cộng đồng sẽ giúp ích cho các địa phương thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng trong thời gian tới Thực hiện thành công công tác giao rừng cho cộng đồng là phát triển vốn rừng gắn với đời sống người dân bền vững Tuy nhiên trên thực tế có nhiều địa phương sau khi cộng đồng được giao đất giao rừng nhiều năm mà vẫn không hề có các biện pháp quản lý bảo vệ hay tác động các biện pháp lâm sinh để phát triển rừng hay sử dụng rừng một cách hợp lý theo hướng bền vững Do đó, nguồn tài nguyên rừng vẫn tiếp tục bị suy giảm và chưa trở thành nguồn lực đóng góp cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo tại Địa phương
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này ngoài lý do nội lực của cộng đồng còn hạn chế thì việc thiếu những hướng dẫn quản lý rừng cho cộng đồng sau khi giao, không giúp họ lập được kế hoạch quản lý, xây dựng được quy ước Bảo vệ và phát triển rừng và thiết lập được quỹ Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng của thôn thì cộng đồng dân cư thôn sau khi nhận đất sẽ lúng túng và không thực hiện được mục tiêu giao rừng cho cộng đồng của Nhà nước đó là: Quản lý bền vững tài nguyên rừng và góp phần cải thiện cuộc sống cho người dân
Để góp phần giải quyết những vấn đề trên, đề tài: “Lâm nghiệp cộng đồng tỉnh Đăk Nông và các hoạt động chủ yếu trong quản lý rừng cộng đồng tại thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông” được thực hiện là có
cơ sở và hết sức cần thiết
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
+ Thuật ngữ “cộng đồng” theo FAO (1990) [26] “Cộng đồng là những người sống tại một chỗ trong một tổng thể hoặc là một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”
Theo các định nghĩa này thì trong một cộng đồng (CĐ) thường tồn tại và chia sẽ những đặc điểm chung và có những đặc trưng về văn hóa tín ngưỡng
Khi nghiên cứu về quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ) trên thế giới cần phân biệt 3 khái niệm liên quan đến thuật ngữ cộng đồng là “tập thể”, “cộng đồng” và
“thôn bản” các hình thức “cộng đồng” và “thôn bản” về mặt quản lý đều là những hình thức “tập thể” nhưng giữa chúng có những khác biệt rõ Trong khi từ “cộng đồng” ẩn dụ một nhóm người “tập hợp/tổng thể” sống tại một vị trí hoặc cùng với nhau theo cách nào đó xét trên mối quan hệ là chính, thì từ “thôn bản” đề cập đến tập hợp người/cộng đồng sinh sống trong phạm vi ranh giới trong không gian xác định, tức là xét theo ranh giới hành chính Như vậy trong ranh giới thôn/bản có thể
có một hoặc nhiều cộng đồng sinh sống
1.1.1.2 Quản lý rừng cộng đồng
Là một phương thức nhằm duy trì và phát triển rừng cũng như giải quyết vấn
đề đói nghèo ở vùng cao, một nguyên nhân gốc rễ làm suy giảm tài nguyên rừng (TNR) ở các quốc gia QLRCĐ dựa trên quan điểm “con người trước và lâm nghiệp
Trang 15bền vững sẽ theo sau đó”, nó trao cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm trực tiếp quản lý và hưởng lợi từ TNR (Dern, 2001) [33]
Quan điểm này cho thấy QLRCĐ đề cập đến việc phân cấp quản lý rừng một cách mạnh mẽ trong đó nhấn mạnh đến việc giao quyền quản lý các khu rừng và cơ hội cho người dân cộng đồng có được hưởng lợi từ rừng Khi mà các vấn đề đói nghèo và mất cân bằng trong tiếp cận nguồn tài nguyên được giải quyết thì các cộng đồng thôn, bản sẽ nhận ra trách nhiệm của chính họ trong việc bảo vệ và quản lý rừng, điều này được nhiều chính phủ, tổ chức phi chính phủ nhận thức rõ ràng và từ
đó đã thúc đẩy cho tiến trình này phát triển ở nhiều cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng
Theo quan điểm kinh tế, thể chế nêu trên thì QLRCĐ thực chất là việc quản
lý TNR dưới chế độ sở hữu cộng đồng bởi một cộng đồng hay một nhóm các người
sử dụng cho các lợi ích chung của cộng đồng hoặc nhóm
1.1.2 Quá trình phát triển lâm nghiệp cộng đồng trên thế giới
Tính đến thời điểm hiện nay lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) đã trải qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất: Phần lớn những người bên ngoài cuộc xác định vấn đề
và đề ra quyết định để giải quyết vấn đề đó Kết quả đạt được đều không đáng khích
lệ, sự quan tâm của cộng đồng thường theo thời gian mà lắng xuống Rất ít các cộng đồng tiếp tục các hoạt động sau khi những người ngoài cuộc rút lui và tất nhiên tính bền vững không đạt được
- Giai đoạn thứ hai: Những người ngoài cuộc xác định vấn đề và đề ra phần lớn quyết định, nhưng họ đã bắt đầu tham khảo ý kiến của những người trong cộng đồng, thông qua các cuộc phỏng vấn Kết quả là những người ngoài cuộc đã bắt đầu nhận thức được rằng những người trong cộng đồng có khá nhiều hiểu biết và thường có cách giải quyết vấn đề phù hợp và hiệu quả hơn
- Giai đoạn thứ ba: Những người ngoài cuộc chỉ là những người hỗ trợ và thúc đẩy, còn những người trong cộng đồng là những những tích cực xác định vấn
đề và đề ra các giải pháp Cách làm này đã mang lại những kết quả đáng khuyến
Trang 16khích làm cho người dân trong cộng đồng tự nhận thức được vấn đề và chủ động trong việc đề ra các giải pháp mà họ có thể thực hiện được Thực tế trên thế giới cho thấy đã có rất nhiều các nghiên cứu về các khía cạnh cải tiến chính sách, thể chế, cách tiếp cận, áp dụng công nghệ trên cơ sở kiến thức bản địa để phát triển quản lý rừng cộng đồng Đây là những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng vào điều kiện của từng quốc gia
1.1.3 Quản lý rừng cộng đồng ở một số quốc gia
QLRCĐ trên thế giới đã có từ lâu đời, với nhiều hình thức và thể chế quản lý khác nhau ở mỗi nước Phần này trình bày ở một số nước thuộc khu vực châu á, nơi
mà QLRCĐ đã đạt được những thành tựu khá nổi trội, có nhiều nét tương đồng và gần gửi với QLRCĐ ở Việt Nam
Ấn Độ
Năm 1951, Ấn Độ tiến hành quốc hữu hóa các TNR và thực hiện luật cải cách ruộng đất Vào đầu những năm 1970, chính phủ ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích phát triển trên đất lâm nghiệp Do các chương trình lâm nghiệp
xã hội (LNXH) không mang lại kết quả như mong đợi Năm 1988, chính phủ ban hành chính sách mới về đồng quản lý rừng (JFM) trên đất lâm nghiệp Mục tiêu cơ bản là lôi kéo và khuyến khích người dân và cộng đồng của họ tham gia vào quá trình quản lý tài nguyên rừng trên đất lâm nghiệp của Nhà nước Người dân và các cộng đồng của họ được hưởng các sản phẩm sản phụ và một phần sản phẩm gỗ tùy theo điều kiện của các bang (Arnot et al.,1987) [30]
Chương trình LNXH được thực hiện trên đất của làng, bản và tư nhân Mục tiêu của chương trình nhằm giảm sức ép đối với của các khu rừng công nghiệp do chính phủ quản lý Chính phủ huy động nông dân, trường học và các tổ chức xã hội tham gia vào trồng rừng gỗ nhiên liệu Chương trình JFM do chính phủ và cộng đồng cùng quản lý các khu rừng trên đất lâm nghiệp của nhà nước Hiện nay đã có tới 100.000 làng bản tham gia theo chương trình JFM và hiện đang quản lý khoảng
22 triệu ha rừng (khoảng 28% tổng diện tích rừng của Ấn Độ) đối với tất cả các loại rừng (trừ khu bảo tồn thì không được khai thác)
Trang 17Theo các quy định pháp luật ban hành, người dân được sử dụng 100% sản phẩm phụ từ rừng như gỗ củi, lâm sản ngoài gỗ, gỗ nhỏ từ tỉa thưa để sửa chữa nhà cửa và 10-25% giá trị sản phẩm gỗ từ khai thác chính (tỷ lệ này khác nhau theo các bang) (Basu, 1987) [31]
Nêpal
Năm 1957, Chính phủ quốc hữu hóa rừng Hệ thống lập pháp và chính sách những năm 60 chủ yếu nhằm bảo vệ rừng và tập trung hóa quyền quản lý rừng cho nhà nước QLRCĐ được thực hiện trên cơ sở các hệ thống quản lý rừng bản địa trên các vùng đối núi ở Nêpal Những năm 1970 đã được coi là những biểu tượng và hình mẫu về quản lý rừng trên thế giới Đến năm 2000 đã có khoảng trên 12.000 nhóm sử dụng rừng (FGUs) (NSCFP, 2001) [35] đã được đăng ký ở Nêpal Năm
1978, chính sách lâm nghiệp cộng đồng được ban hành, trong đó quy định các cộng đồng được quyền quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vị trí lãnh thổ của
họ nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng (Agrawal và Ostrom, 2001) [29] Luật pháp quy định chức năng, nhiệm vụ cho các nhóm sử dụng như sau:
Giao hoàn toàn các khu rừng có thể phân cho nhóm sử dụng (Forest User Groups - FUGs) không kể biên giới hành chính, tăng quyền hạn và ưu tiên đào tạo
để quản lý rừng nhằm phục vụ nhu cầu từ rừng của họ
Theo Duhugen, Shrestha, Pokharel (2010) (dẫn theo NSCFP, 2011) [35], các nhóm sử dụng rừng được bầu chọn và thay đổi ban điều hành bất kể thời gian nào
và có quyền trừng phạt những thành viên không tuân thủ quy ước Phòng lâm nghiệp huyện là cơ quan phê duyệt kế hoạch quản lý rừng cộng quản có quyền thu hồi rừng nếu nhóm hoạt động sai với kế hoạch được phê duyệt Về mặt cơ chế chia
sẻ lợi ích, các nhóm được hưởng tất cả các khoản thu nhập từ nguồn tài nguyên Các nhóm sử dụng rừng có quyền tạo quỹ từ việc bán các sản rừng theo giá của thị trường tự do, tự lập tài khoản và quản lý quỹ Hàng năm được tiến hành khai thác
gỗ và lâm sản ngoài gỗ (LSNG) theo kế hoạch được phê duyệt
Trang 18Thái Lan
Từ năm 1986, chính phủ ban hành chính sách khuyến khích người dân định canh, đinh cư trên những vùng đất bị tàn phá nặng nề do đốt nương, làm rẫy và khai thác gỗ Chính sách lâm nghiệp năm 1985 đã chỉ rõ:
- Các cộng đồng, tổ chức và cá nhân phải cùng nhau phát triển và quản lý các vùng lâm nghiệp
- Nhà nước phát triên một chương trình khuyến lâm để nâng cao nhận thức
và hỗ trợ nông dân phát triển lâm nghiệp
- Khuyến khích phát triển mọi hoạt động LNCĐ
- Phát triển hệ thống khuyến khích trồng rừng do các cá nhân và hộ gia đình (HGĐ) đảm nhận
Năm 1989, Cục lâm nghiệp Hoàng gia đã đưa ra chính sách về phát triển LNCĐ Năm 1992, Cục lâm nghiệp Hoàng gia lại đưa ra Chỉ thị và hướng dẫn mới quy định phân quyền nhiều hơn cho các cấp tỉnh và huyện, chức năng khuyến lâm được nhấn mạnh hơn là chức năng bảo vệ thuần túy (ICLARM, 1991) [34]
Thời kỳ những năm 1980, chính phủ phát triển các chương trình LNCĐ và hình thành hệ thống khuyến lâm trong toàn quốc Năm 1990, chình phủ ban hành kế hoạch phát triển lâm nghiệp dài hạn Trong giai đoạn 1954-1967, các tổ chức công nghiệp rừng đã hình thành các chương trình làng lâm nghiệp trên cơ sở giao đất giao rừng của Nhà nước, các tổ chức lâm nghiệp hỗ trợ xây dựng các làng lâm nghiệp Các tổ chức quốc tế đầu tư vào phát triển LNCĐ của SDC Thụy Sỹ, dự án bảo tồn thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng của Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới
Xét về mặt cơ chế hưởng lợi và các lợi ích trực tiếp trong QLRCĐ, cộng đồng được hưởng các loại LSNG như: Củi, rau, nấm, cây dược liệu, hoa quả,…Tuy nhiên, không được khai thác gỗ do quy định cấm khai thác gỗ ban hành năm 1989 Các lợi ích gián tiếp mà cộng đồng có thể được hưởng từ lợi ích du lịch sinh thái (Brinhkman, 1988) [32]
Trang 191.1.4 Những kinh nghiệm và bài học quản lý bền vững rừng cộng đồng trên thế giới
Từ nghiên cứu tổng quan các vấn đề QLRCĐ ở một số nước trên thế giới, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm để quản lý bền vững rừng cộng đồng (QLBVRCĐ) như sau:
- Các cấp chính quyền cần nhìn nhận việc phát triển QLRCĐ như là một hoạt động quan trọng trong phát triển nông thôn, do vậy cần có chiến lược phát triển kinh tế xã hội để tạo cơ sở quan trọng cho việc QLRCĐ nhằm đạt được mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) và xóa đói giảm nghèo
- Chính phủ cần có các chính sách riêng về QLRCĐ nằm trong chiến lược phát triển lâm nghiệp, coi cộng đồng như một chủ thể hợp pháp trong quản lý rừng
- Chính sách hỗ trợ cho các cộng đồng và được cụ thể hóa bằng chính sách chia sẻ lợi ích; chính sách hưởng lợi phải được cụ thể hóa cho từng loại rừng, tạo điều kiện cho các cộng đồng tạo được nguồn thu tối thiểu để bù đắp chi phí cho công tác bảo vệ và phát triển rừng; đa dạng hóa các nguồn lợi cho cộng đồng trong việc bảo vệ và phát triển rừng
- Cần có sự hỗ trợ kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực cho cộng đồng về quản
lý (lập kế hoạch quản lý rừng, tài chính,…) và kỹ thuật lâm sinh (trồng rừng, chăm sóc, khai thác,…), thông tin về thị trường lâm sản, các hướng dẫn cần đơn giản phù hợp với trình độ cộng đồng
- Việc thiết lập quy chế QLRCĐ tại địa phương là cần thiết; hơn nữa, các quy chế cần phải được điều chỉnh sao cho phù hợp với các quy định của Nhà nước, đồng thời phải phù hợp và thích ứng với điều kiện địa phương
- Quản lý rừng bền vững (QLRBV) là một xu thế, hợp lý cần đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đơn giản để đánh giá việc quản lý rừng và coi đó như một công cụ để các cơ quan chức năng thực hiện việc giám sát đánh giá cũng như để cộng đồng tự đánh giá và điều chỉnh nhằm hướng tới QLRBV
Trang 201.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Khái niệm về cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng
1.2.1.1 Cộng đồng
Theo các nhà xã hội học, nhân chủng học ở Việt Nam Xét về mặt ngôn ngữ
“cộng đồng” là sự kết hợp hai từ “cộng” và “đồng” Từ “cộng” được hiểu là cộng vào, gộp vào, thêm vào, còn từ “đồng” có nghĩa là cùng, cùng nhau, chung nhau về
một số đặc điểm; Nhân chủng học, lãnh thổ, phong tục tập quán, sở thích,…Từ ý
nghĩa trên “cộng đồng” được hiểu “toàn thể những người sống thành tập thể hay một xã hội mà có những đặc điểm giống nhau, gắn bó với nhau thành một khối và giữa họ có sự liên hệ, hợp tác với nhau để cùng nhau hoạt động, cùng nhau thực hiện những lợi ích của mình và lợi ích chung của toàn xã hội” (Bảo Huy, 2006)
[13], (Trần Kim Thanh, 2000) [24]
Trong ngành lâm nghiệp, ở lĩnh vực hoạt động quản lý tài nguyên rừng cộng
đồng (QLTNRCĐ) thì khái niệm “cộng đồng” được hiểu:
- Nguyễn Hồng Quân (2001) [17] đã phân biệt cộng đồng ra làm hai loại: Cộng đồng dân tộc và cộng đồng làng bản
+ Cộng đồng dân tộc: Hiện nước ta có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những đặc điểm riêng về văn hoá, tổ chức xã hội, tiếng nói, tập quán truyền thống và hệ thống sản xuất
+ Cộng đồng làng bản: Hiện nay nước ta có khoảng 50.000 làng, bản tập hợp lại trong khoảng 9.000 xã Từ xưa mỗi làng bản được coi là một tổ chức cộng đồng chặt chẽ với những đặc điểm rất riêng như làng xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng lâu đời được hình thành trên cơ sở của phương thức canh tác lúa nước, trong khi thôn bản ở miền núi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở quan hệ sắc tộc, nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, ít đầu tư và sử dụng các sản phẩm tự nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến quản lý bảo vệ và phát triển rừng
Theo thống kê và từ những đặc điểm nêu trên cho thấy khái niệm “cộng đồng” sử dụng trong QLRCĐ ở nước ta là “cộng đồng thôn bản”
Trang 21- Phạm Xuân Phương (2001) [16] “Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội có những điểm tương đồng về mặt văn hoá, truyền thống, có mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau, thường có ranh giới không gian trong một làng bản”
- Điều 9, Luật đất đai (2003) [18] “Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất”
Có rất nhiều khái niệm về cộng đồng nhưng phần lớn các tác giả đều cho rằng thuật ngữ “cộng đồng” được dùng trong quản lý rừng chính là nói đến cộng
đồng dân cư thôn, làng, bản, buôn, phum, ấp, sóc… (gọi tắt là cộng đồng thôn bản) Cho nên khái niệm “cộng đồng” trong đề tài được hiểu là: “Cộng đồng là cộng đồng dân cư thôn, bản Cộng đồng dân cư thôn, bản là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp… hoặc một đơn vị tương đương”
1.2.1.2 Quản lý rừng cộng đồng
Thuật ngữ QLRCĐ là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản
lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng
Hình thức quản lý này bao gồm các đối tượng sau:
- Cộng đồng trực tiếp quản lý những diện tích rừng hoặc những đám cây gỗ của họ có từ lâu đời
- Cộng đồng trực tiếp quản lý những khu rừng được Nhà nước giao
- Các hoạt động mang tính chất lâm nghiệp khác do cộng đồng tổ chức phục
vụ lợi ích trực tiếp của cộng đồng
QLRCĐ là cộng đồng quản lý rừng thuộc quyền sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sở hữu chung của cộng đồng Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản được quản lý theo truyền thống trước đây, rừng trồng của các hợp tác xã trước đây mà sau khi chuyển đổi hoặc giải thể hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý
Trang 22Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) (2006) [1] QLRCĐ là một hình thức quản lý rừng trong đó cộng đồng với tư cách là chủ rừng tham gia các hoạt động giao rừng, lập kế hoạch quản lý rừng và thực hiện kế hoạch đó, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi, giám sát, đánh giá rừng do Nhà nước giao cho cộng đồng
Tóm lại: Những khái niệm cơ bản về cộng đồng và QLRCĐ trên đây là
những căn cứ khoa học quan trọng, giúp cho tác giả một phần trong nghiên cứu cơ
sở khoa học cho QLRCĐ
1.2.2 Quá trình phát triển chính sách lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam
- Trước năm 1954: Thừa nhận sự tồn tại của rừng cộng đồng
Lâm nghiệp thuộc địa, phong kiến thừa nhận rừng cộng đồng truyền thống QLRCĐ dựa trên các hương ước và luật tục truyền thống
- Giai đoạn 1954-1975:
Không quan tâm đến rừng cộng đồng nhưng tôn trọng cộng đồng đang quản
lý những khu rừng theo truyền thống
Miền Bắc, thực hiện chính sách cải cách ruộng đất và hợp tác hóa, tập trung phát triển lâm nghiệp quốc doanh (Lâm trường quốc doanh) và lâm nghiệp tập thể (Hợp tác xã nông - lâm nghiệp) Mặc dù không quan tâm lâm nghiệp HGĐ và LNCĐ, nhưng về cơ bản, Nhà nước vẫn tôn trọng cộng đồng vùng cao quản lý rừng theo phong tục truyền thống, lâm nghiệp HGĐ được xác định là kinh tế phụ Trong khi đó, ở Miền Nam, giống thời kỳ trước năm 1954
Trang 23Quyết định 184 của Hội đồng Bộ trưởng năm 1982 và Chỉ thị 29 của Ban bí thư năm 1983 [22], [10] về giao đất, giao rừng cho các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể, bắt đầu chú ý đến hợp đồng khoán rừng cho HGĐ
Luật đất đai (sửa đổi) năm 1993 và Nghị định 163/CP năm 1999 [21], [14]
về giao đất lâm nghiệp đều không quy định rõ ràng cho đối tượng cộng đồng Luật Dân sự năm 1995 không quy định cộng đồng dân cư là một chủ thể kinh tế có tư cách pháp nhân Trong giai đoạn này nhiều địa phương đã vận dụng một số văn bản của Nhà nước và của Ngành cho phát triển LNCĐ như Nghị định 01/CP năm 1995
về giáo khoán đất lâm nghiệp, Nghị định số 29/CP năm 1998 về Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Quyết định 245/1998/QĐ-TTg về việc thực hiện trách nhiệm của Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp, Thông tư 56/TT năm 1999 của Bộ
Trang 24NN&PTNT về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ phát triển rừng trong cộng đồng, Quyết định 08/2001/QĐ-TTg năm 2001 về quy chế quản lý 3 loại rừng, Quyết định 178/2001/QĐ-TTg năm 2001 về quyền hưởng lợi và nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng
- Từ 2003 đến nay: Hình thành khung pháp lý cơ bản cho LNCĐ
Luật Đất đai năm 2003, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp với tư cách là người sử dụng đất (Luật Đất đai năm 2003) [18]
Luật BV&PTR năm 2004 quy định: Nhà nước giao rừng phòng hộ, rừng sản xuất không thu tiền sử dụng đất cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài với
tư cách là chủ rừng Việc cộng đồng dân cư thôn được công nhận là một chủ thể pháp lý hợp pháp trong việc quản lý rừng và đất rừng đã tạo ra một hành lang pháp
lý đảm bảo cho hoạt động quản lý và bảo vệ rừng (Luật BV&PTR năm 2004) [19]
Luật Dân sự năm 2005 thừa nhận khái niệm sở hữu chung của cộng đồng Theo đó, cộng đồng dân cư thôn có quyền sở hữu đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên trong cộng đồng đóng góp và cùng quản lý,
sử dụng theo thoả thuận vì lợi ích của cộng đồng (Luật dân sự năm 2005) [20]
- Các Quyết định, Nghị định và thông tư của Bộ NN&PTNT:
+ Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN của Bộ NN&PTNT về việc ban hành bản hướng dẫn QLRCĐ dân cư thôn [1]
+ Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 24/5/2007 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho các tổ chức, HGĐ, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn [25]
+ Công văn số 2324/BNN-LN ngày 21/8/2007 của Cục Lâm nghiệp về hướng dẫn các chỉ tiêu kỹ thuật và thủ tục khai thác rừng cộng đồng [2]
+ Quyết định số 434/QĐ-QLR ngày 11/4/2007 của Cục trưởng Cục Lâm nghiệp ban hành bản hướng dẫn xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp
xã và Hướng dẫn giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư thôn [7]
Trang 25Như vậy, đến nay Việt Nam đã có khung pháp lý và chính sách cơ bản cho QLRCĐ, được thể hiện trong 2 Bộ Luật lớn, đó là Luật Đất đai năm 2003, Luật BV&PTR năm 2004 và các văn bản chính sách khác Cộng đồng được hưởng các quyền khi tham gia quản lý rừng theo quy định của pháp luật như: Được công nhận quyền sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng; được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho thành viên trong cộng đồng; được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp; được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừng được giao; được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước
để BV&PTR và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại; được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng Cộng đồng thực hiện nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng theo quy định của pháp luật như: Xây dựng quy ước BV&PTR; tổ chức BV&PTR, định kỳ báo cáo cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về diễn biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng; thực hiện nghĩa vụ tài chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật; giao lại rừng khi Nhà nước có quyết định thu hồi rừng hoặc khi hết thời hạn giao rừng; không được phân chia rừng cho các thành viên trong cộng đồng dân cư thôn; không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừng được giao
Nhìn chung các cơ sở pháp lý trên đây đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với việc QLRCĐ tại Việt Nam Các cơ sở pháp lý trên đã góp phần rất tích cực trong việc hỗ trợ và tạo ra một hành lang pháp lý đảm bảo cho các hoạt động QLRCĐ
1.2.3 Những chương trình, dự án về QLRCĐ ở Việt Nam
- Bộ NN&PTNT năm 1990 đã cho biên dịch tài liệu về LNCĐ và Sổ tay cẩm nang của LNCĐ do tổ chức Nông lương liên hợp quốc (FAO-UNDP) xuất bản về các vấn đề cơ bản có liên quan đến LNCĐ (Bộ NN&PTNT, 2008) [26], như: “Khái niệm, phương pháp, công cụ phục vụ luận chứng, kiểm tra, đánh giá có sự tham gia
Trang 26của người dân trong LNCĐ”; “Thẩm định nhanh quyền hưởng dụng đất và cây rừng của cộng đồng”,… rất hữu ích cho việc nghiên cứu phát triển LNCĐ ở Việt Nam trong giai đoạn tiền phát triển (FAO, 1989) [27] Theo các tài liệu này thì LNCĐ là mọi hoạt động lâm nghiệp được những cá nhân trong cộng đồng thực hiện nhằm tăng các lợi ích mà họ cho là có giá trị
- Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam - Thụy Điển đã cho xuất bản các tài liệu rất hữu ích cho QLRCĐ như: “Điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia của nông dân, xây dựng kế hoạch ở thôn bản”, “ Phát triển Quỹ thôn bản” và tổng quan đào tạo về: “Lập kế hoạch cấp thôn/bản và HGĐ”
- Dự án lâm nghiệp xã hội sông Đà [11], [12], [28], chương trình hợp tác với Cộng hòa liên bang Đức trong tài liệu giới thiệu về “lâm nghiệp cộng đồng” có đề cập đến hưởng dụng đất và cây rừng ở cấp cộng đồng được xác định rằng “trong quản lý LNCĐ, hưởng dụng là một nhân tố quan trọng vì nó điều tiết sự kiểm soát
và sự tiếp cận với tài nguyên rừng”
- Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp và đối tác xuất bản tài liệu “Cẩm nang ngành Lâm nghiệp - Chương trình LNCĐ” (Bộ NN&PTNT, 2006) [3], [4]
- Dự án chương trình thí điểm LNCĐ năm 2008 đã xuất bản hai tài liệu: Hướng dẫn kỹ thuật QLRCĐ và hướng dẫn tập huấn tiểu giáo viên (ToT) về LNCĐ [8] Các tài liệu này đã giúp cho các dự án khác có liên quan đến hỗ trợ QLRCĐ xây dựng các nội dung hướng dẫn và tập huấn cho cộng đồng [9]
- Dự án “Chương trình thí điểm Lâm nghiệp cộng đồng” do Cục Lâm nghiệp chủ trì đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp lý hỗ trợ 40 xã thuộc vùng dự án trong QLRCĐ Bên cạnh đó cũng đã biên soạn nhiều tài liệu tập huấn và tổ chức các lớp tập huấn với các cấp độ khác nhau nhằm thúc đẩy nhanh và có chất lượng các hoạt động QLRBV cho 90 thôn bản thuộc vùng dự án phát triển như: Tài liệu đào tạo tiểu giáo viên về QLRCĐ; tài liệu tập huấn hiện trường về QLRCĐ và tài liệu Sổ tay hướng dẫn QLRCĐ Các tài liệu này đang phát huy được giá trị của nó trong việc hỗ trợ và thúc đẩy các cộng đồng xây dựng các hoạt động trong quản lý rừng của mình sau khi được giao rừng; đồng thời các tài liệu này cũng đã đóng góp
Trang 27lớn trong việc nâng cao kiến thức và kỹ năng cho các cán bộ quản lý lâm nghiệp địa phương cũng như cán bộ xã, thôn về xây dựng các hoạt động QLRCĐ
Các chương trình, dự án trên được coi là các cơ sở kỹ thuật quan trọng trong việc hướng dẫn QLRCĐ tại Việt Nam
Tóm lại, những cơ sở pháp lý và cơ sở kỹ thuật về QLRCĐ ở Việt Nam ở trên có vai trò hết sức quan trọng trong việc QLRCĐ nhằm mục tiêu bền vững
1.2.4 Những kinh nghiệm và bài học rút ra trong QLRCĐ ở Việt Nam
- QLRCĐ được hình thành và tổ chức theo dòng tộc, dòng họ là hình thức các hoạt động sinh hoạt; tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, công tác quản lý bảo vệ rừng gắn với tập quán truyền thống và hệ thống tư tưởng của cộng đồng, vai trò của người tộc trưởng hoặc già làng rất quan trọng Hầu hết các công việc quản lý rừng của họ đều có sự phân công các thành viên thực hiện tự giác và nghiêm túc Rừng và đất rừng do cộng đồng được tổ chức theo dòng tộc quản lý phổ biến có diện tích nhỏ, do họ tự thừa nhận hoặc mặc nhiên công nhận từ các thế hệ trước Những khu rừng này thường gắn liền với nơi cư trú thường xuyên của cộng đồng như: Khu rừng thiêng, rừng ma,…
- QLRCĐ được tổ chức theo thôn, bản, làng, buôn, bon, ấp,…(gọi chung là thôn) là hình thức tổ chức dựa trên cơ sở địa lý và khu vực người dân sinh sống, thường thì mỗi thôn có một dòng họ thuộc dân tộc chủ yếu, ngoài ra còn có những người thuộc các dòng tộc khác, dân tộc khác cùng sinh sống Phương thức quản lý của cộng đồng thông qua sự thống nhất của hội nghị các thành viên, dưới sự chủ trì của trưởng thôn Trưởng thôn điều hành các công việc chung của cộng đồng
Từ những kinh nghiệm trên, có thể rút ra một số bài học trong QLRCĐ ở Việt Nam như sau:
- Nhà nước cần giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý và thừa nhận quyền sử dụng đất và rừng của họ Đặc biệt là những khu rừng xa khu dân cư, địa hình phức tạp, rừng ma, rừng thiêng, rừng già diện tích nhỏ không thể giao cho các
hộ Bởi vì, họ có truyền thống QLRCĐ, gắn bó trực tiếp với rừng, có tổ chức chặt chẽ,…
Trang 28- Nhà nước cần xây dựng những cơ chế, chính sách hưởng lợi cho cộng đồng;
hỗ trợ cộng đồng xây dựng quy ước bảo vệ và sử dụng rừng
- QLRCĐ có tính chất phi tập trung, cộng đồng là người ra quyết định về QLRCĐ, thành viên cộng đồng tự nguyện tham gia và chấp hành quy ước của cộng đồng
để đúc kết kinh nghiệm, bổ sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng
- Xu hướng phát triển phương thức QLRCĐ là khách quan trong phát triển Lâm nghiệp ở nhiều quốc gia nhằm định hướng thu hút sự tham gia của cộng đồng
- Phương pháp tiếp cận có sự tham gia đã được khẳng định như một công cụ bắt buộc, thúc đẩy hỗ trợ của cộng đồng, tổ chức quản lý rừng dựa vào kinh nghiệm
và kiến thức bản địa
Trang 29- Phương pháp lập kế hoạch QLRCĐ trong một số năm gần đây đã có những bước phát triển và được ứng dụng vào một số dự án LNCĐ tại Việt Nam Tuy nhiên mỗi phương pháp lại có những ưu và khuyết điểm riêng
- Đánh giá TNR cộng đồng nhằm mục đích cung cấp số liệu cho lập kế hoạch QLRCĐ Với trình độ hiểu biết và năng lực của người dân còn hạn chế thì đây là công việc tương đối phức tạp Trên thực tế, cộng đồng thôn kiểm kê và quản
lý TNR cộng đồng của mình bằng số cây có trong từng lô rừng vì cách tính này đơn giản Tuy nhiên, khi xác định các lô rừng đạt tiêu chuẩn khai thác và lập kế hoạch khai thác thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét và phê duyệt kế hoạch khai thác lại căn cứ vào số trữ lượng gỗ có trong lâm phần
Trang 30Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, GIỚI HẠN, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Góp phần xây dựng các căn cứ khoa học hỗ trợ cộng
đồng thôn nói chung và cộng đồng thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú, huyện Krông Nô tỉnh Đăk Nông nói riêng QLBVTNR được giao và cải thiện sinh kế của người dân sau khi nhận đất, nhận rừng
- Mục tiêu cụ thể:
+ Đánh giá tình hình phát triển lâm nghiệp cộng đồng tỉnh Đăk Nông
+ Đánh giá các hoạt động chủ yếu trong QLRCĐ tại thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông
2.2 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các tài liệu có liên quan đến tình hình phát triển LNCĐ tỉnh Đăk Nông
- TNR cộng đồng và nhu cầu lâm sản của thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú
- Các văn bản và tài liệu có liên quan đến QLRCĐ thôn nói chung và cộng đồng thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú nói riêng
- Truyền thống và kiến thức bản địa của cộng đồng thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú trong quản lý và sử dụng TNR
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành trên phạm vi diện tích rừng và đất rừng đã giao cho thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú (Không bao gồm toàn bộ diện tích rừng và đất rừng của thôn mà
đã giao cho HGĐ)
2.2.3 Giới hạn nghiên cứu
* Về không gian: Tiến hành trên phạm vi diện tích rừng và đất rừng đã giao
cho thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú (Không bao gồm toàn bộ diện tích rừng và đất rừng của thôn mà đã giao cho hộ gia đình)
Trang 31* Về thời gian: Từ khi triển khai thực hiện đến khi hoàn thành nộp đề tài là
06 tháng Do vậy, đề tài chỉ tiến hành điều tra hiện trạng những khu rừng của cộng đồng đạt tiêu chuẩn khai thác; đánh giá nhu cầu lâm sản của người dân chỉ bao gồm
gỗ gia dụng không bao gồm mục đích thương mại
* Các giải pháp: QLRCĐ chỉ tập trung vào các hoạt động quản lý rừng theo
kế hoạch và thiết lập được các thỏa thuận về quyền lợi, trách nhiệm của cộng đồng thôn khi thực hiện các hoạt động trong quản lý rừng Cụ thể gồm có các hoạt động sau: Lập Kế hoạch QLRCĐ; xây dựng Quy ước BV&PTR và thành lập Quỹ và xây dựng cơ chế BV&PTR hàng năm, 5 năm cho thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đặt ra về lý luận cũng như thực tiễn, đề tài tập trung nghiên cứu theo các nội dung sau:
1) Tình hình phát triển lâm nghiệp cộng đồng tỉnh Đăk Nông
2) Các hoạt động chủ yếu trong QLRCĐ tại thôn Phú Lợi, xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông giai đoạn (2013-2017)
- Đánh giá TNR của cộng đồng
- Đánh giá nhu cầu gỗ và LSNG
- Lập kế hoạch QLRCĐ thôn Phú Lợi
- Xây dựng Quy ước BV&PTR cộng đồng thôn
- Thành lập Quỹ BV&PTR cộng đồng thôn (Quỹ thôn)
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc các tài liệu liên quan sẵn có
- Luật: Luật Dân sự năm 1995, Luật Đất đai năm 2003, Luật BV&PTR năm
2004
- Các văn bản dưới Luật liên quan, Nghị định 163/CP, Nghị định 01/CP, Quyết định 08/2001/QĐ-TTg, Quyết định 178/2001/QĐ-TTg, Thông tư Liên tịch số 80/2003/TTLT/BTC/BNN&PTNT và các văn bản liên quan khác
- Nghiên cứu các báo cáo tham luận và tài liệu trong hội thảo về LNCĐ nói chung và đối với tỉnh Đăk Nông nói riêng
Trang 32- Các tài liệu kế thừa như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện,
xã và thôn; các văn bản liên quan đến việc giao đất giao rừng cho cộng đồng thôn, các loại bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng TNR,
- Các số liệu, tài liệu kế thừa phải đảm bảo được các yêu cầu sau: Chính thống, cập nhật và đầy đủ cũng như độ chính xác theo yêu cầu của chủ đề nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp, công cụ thu thập số liệu hiện trường
và dự báo cho 5 năm tới
- Phỏng vấn hộ gia đình: Phỏng vấn 30 hộ; trong đó: Hộ khá 10 hộ, hộ trung
bình 10 hộ và hộ nghèo 10 hộ ( Theo tiêu chí phân loại của địa phương )
2.4.3 Phương pháp lập Kế hoạch QLRCĐ, xây dựng Quy ước và thành lập Quỹ BV&PTR cộng đồng thôn Phú Lợi
2.4.3.1 Phương pháp Lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng
Đánh giá TNRCĐ để cung cấp số liệu cho lập kế hoạch QLRCĐ Với trình
độ hiểu biết và năng lực của người dân còn hạn chế thì đây là công việc tương đối phức tạp
Trên thực tế, cộng đồng thôn kiểm kê và quản lý TNRCĐ của mình bằng số cây có trong từng lô rừng vì cách tính này đơn giản Tuy nhiên, khi xác định các lô rừng đạt tiêu chuẩn khai thác và lập kế hoạch khai thác thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét và phê duyệt kế hoạch khai thác lại căn cứ vào số trữ lượng gỗ
có trong lâm phần
Trang 33Xuất phát từ thực tế như vậy, phương pháp điều tra đánh giá TNRCĐ bằng ô tiêu chuẩn điển hình đơn vị tính là bằng số cây và trữ lượng được đánh giá là khắc phục được nhược điểm của 2 phương pháp trên Trong phương pháp này số cây trong mô hình rừng mong muốn được xác định là số cây ở mức gần với số cây của
lô rừng thực tế nhất Căn cứ vào số cây trong mô hình rừng mong muốn (được xây dựng ở sổ tay hướng dẫn lập kế hoạch QLRCĐ), so sánh với mô hình rừng thực tế, tính số cây chênh lệch ở từng cỡ kính Số cây khai thác được xác định bằng từ 1/2
số cây dư ra trong mô hình rừng mong muốn vì số cây dư ra còn lại là số cây để bù cho số cây bị thiếu hụt ở cỡ kính bên cạnh Tra biểu thể tích một nhân tố cho các cỡ đường kính có số cây dư, từ đó tính toán trữ lượng khai thác cho tất cả các cấp kính trên héc ta và từ đó tính được tổng trữ lượng khai thác
Xác định lượng khai thác căn cứ nhu cầu gỗ và lâm sản của cộng đồng và lượng khai thác vừa được tính toán xong Lượng khai thác được xác định là lượng
gỗ đáp ứng được tối đa nhu cầu của cộng đồng và là cơ sở để điều chỉnh sản lượng của mô hình rừng thực tế nhanh chóng tiếp cận với mô hình rừng mong muốn Như vậy lượng khai thác được xác định được tính trên cả hai đơn vị là số cây và trữ lượng Cụ thể phương pháp như sau:
Bước 1: Nhận biết lô rừng ngoài hiện trường, làm mốc lô và mô tả lô
- Sử dụng bản đồ giao rừng cho thôn, tới hiện trường rừng xác định ranh giới của các lô rừng giao cho cộng đồng, đối chiếu với lô rừng trên bản đồ để nhận biết ranh giới và vị trí lô trên thực địa và trên bản đồ
- Khi đã xác định được từng lô rừng trên bản đồ và trên thực địa, tiến hành làm mốc phân biệt các lô ở cạnh nhau ngoài hiện trường
- Mô tả lô: Sử dụng phương pháp mô tả lô theo tuyến, trên bản đồ giao rừng cùng với người dân thiết kế các tuyến đi mô tả lô
Bước 2: Xác định các lô rừng gỗ đạt tiêu chuẩn khai thác
Chỉ áp dụng đối với các lô rừng có cây đạt cấp kính khai thác (đường kính khai thác tối thiểu ≥ 30 cm )
Trang 34Sử dụng công tác điều tra truyền thống tiến hành điều tra cây gỗ rừng bằng Ô tiêu chuẩn (OTC), mỗi OTC có kích thước 25 m x 20 m (500 m2), tiến hành đo đếm tất cả các cây gỗ có đường kính từ 6 cm trở lên (Chu vi tương đương 20 cm) tại vị trí chiều cao ngang ngực (D1.3), dung lượng mẫu giữa 2%, phân chia trạng thái dựa trên kết quả đánh giá tổng hợp của các chỉ tiêu: Tổng tiết diện ngang (hay trữ lượng), để xác định lô rừng đó có đạt tiêu chuẩn khai thác hay không
- Căn cứ “Công văn số 2324/BNN-LN ngày 21/8/2007 của Bộ NN & PTNT
về Hướng dẫn các chỉ tiêu kỹ thuật và thủ tục khai thác rừng cộng đồng”
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn kỹ thuật khia thác theo Công văn 2324/BNN-LN ngày 21/8/2007 của Bộ NN & PTNT
Vùng Tổng diện ngang nhỏ nhất/ha
(∑GTT/ha)
Trữ lượng tối thiểu/ha (MTT/ha)
Đường kính khai thác tối thiểu (DKT min) Vùng Núi phía Bắc ≥ 7m2/ha ≥ 50m3/ha ≥ 26 cm Vùng Bắc Trung Bộ ≥ 8m2/ha ≥ 60m3/ha ≥ 30 cm Duyên hải Nam Trung
Bộ và Tây Nguyên ≥ 9m2/ha ≥ 70m3/ha ≥ 30 cm
- Từ đó xác định lô rừng đạt tiêu chuẩn khai thác Cụ thể: Lô rừng đạt tiêu chuẩn khai thác phải có số cây và trữ lượng nhiều hơn số cây và trữ lượng trong mô hình mong muốn
Bước 3: Điều tra rừng đối với các lô rừng gỗ đạt tiêu chuẩn khai thác và điều
tra rừng tre nứa
- Điều tra rừng gỗ
+ Lập các tuyến hệ thống trên lô, bố trí các ô đo đếm trên tuyến và tiến hành
đo đếm trên các ô đo đếm Tuyến hệ thống được đặt cách đều nhau và chạy từ cạnh trên xuống cạnh dưới
+ Khi xác định các lô rừng đạt tiêu chuẩn khai thác bố trí các ô đo đếm trên các tuyến điều tra Ô đo đếm có diện tích 500m2, dạng hình chữ nhật có cạnh 20m x 25m Đo đường kính cây gỗ, sử dụng thước dây ghi cm để đo chu vi thân cây tại vị trí ở độ cao 1.3m và chỉ đo các cây có đường kính bằng 6cm trở lên Thước dây sử
Trang 35dụng là thước đã được quy đổi chu vi ra đường kính Khi đo đường kính cây cần
xác định tên cây và căn cứ vào đường kính đo được tiến hành ghi vào các cỡ đường
kính trong biểu điều tra cây đứng, cỡ đường kính ghi trong biểu đo đếm là 8cm
- Điều tra rừng tre, nứa, luồng, lồ ô (không điều tra rừng nứa tép)
Đối với rừng tre, nứa, luồng… tiến hành đo đếm trên ô có diện tích là 100m2,
mỗi lô lập 3 ô đo đếm Đếm số cây trên ô và tính số cây/ ha Đối với tre nứa mọc
bụi tiến hành điều tra khi gặp bụi thứ 5 và đo cự ly của 6 bụi liền kề Đếm số cây có
đường kính lớn hơn 2cm trong mỗi bụi Tiến hành tính cự ly trung bình của 6 bụi
Tính số bụi/ ha và số cây/ ha
Bước 4: Xác định số mức số cây trong mô hình rừng mong muốn; Tính toán
số cây chênh lệnh; Xác định số cây khai thác trong từng cỡ kính, tính toán và xác
định lượng khai thác
- Dựa vào mô hình mong muốn trong Công văn số: 787 /CV-LNCĐ ( Phụ
lục 05), Ngày 23 tháng 6 năm 2008 của Cục Lâm nghiệp, xác định trạng thái rừng
và mức số cây trong từng cỡ kính Từ đó xác định mô hình rừng thực tế gần với
mức của mô hình rừng mong muốn nhất
Bảng 2.2: Mức số cây theo cỡ đường kính trong mô hình rừng mong muốn
(Nguồn Cục lâm nghiệp, 2008)
- So sánh mô hình rừng thực tế với mô hình mong muốn, tính toán được số
cây chênh lệch trong từng cỡ kính
- Số cây khai thác là số cây dư ra khi so sánh với mô hình rừng mong muốn
Số lượng cây khai thác được xác định bằng 1/2 đến 2/3 lượng cây dư ra trong từng
cỡ, tra biểu thể tích một nhân tố áp dụng cho vùng Bắc Trung bộ có được thể tích
trung bình của một cây cho từng cỡ kính Lượng khai thác được tính toán là số cây
Trang 36khai thác ở từng cỡ nhân với thể tích bình quân của một cây trong cỡ đó Lượng khai thác được xác định bao gồm số cây khai thác và trữ lượng gỗ trong từng cỡ kính, nhằm điều chỉnh sản lượng đưa mô hình rừng thực tế nhanh chóng tiếp cận
mô hình rừng mong muốn
Bước 5: Đánh giá nhu cầu lâm sản của cộng đồng hàng năm và 5 năm
Sử dụng phương pháp phỏng vấn HGĐ để xác định nhu cầu lâm sản và tiến hành cân đối cung - cầu lâm sản cho cộng đồng theo cả đơn vị là số cây và số m3
(nếu có thiết kế khai thác)
Bước 6: Lập kế hoạch khai thác hàng năm và 5 năm
- Kế hoạch khai thác gỗ:
Tính toán lượng khai thác, địa điểm khai thác, phương thức khai thác cho từng năm và 5 năm theo số cây và số trữ lượng (m3) gỗ (nếu có thiết kế khai thác)
- Kế hoạch khai thác tre nứa:
Căn cứ vào kết quả điều tra tre nứa và nhu cầu tre nứa tiến hành lập kế hoạch khai thác tre nứa Nếu tre nứa khai thác hàng năm thì sản lượng lấy ra chỉ nên bằng 1/5 tổng số cây tre, nứa trong lô Nếu luân kỳ khai thác 2 năm thì sản lượng được phép lấy ra là từ 1/3 đến 1/2 tổng số cây của rừng nứa và từ 1/5 đến 1/4 tổng số cây của rừng tre Nếu luân kỳ khai thác 3 năm thì sản lượng được phép lấy ra là từ 1/2 đến 2/3 tổng số cây của rừng nứa và từ 1/5 đến 1/4 tổng số cây của rừng tre
- Kế hoạch khai thác LSNG:
Căn cứ vào kết quả khảo sát LSNG được thể hiện trong Biểu mô tả lô đất trống và Biểu mô tả lô rừng, tiến hành bố trí khai thác LSNG hàng năm
Bước 7: Lập kế hoạch trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh (KNXTTS)
kết hợp trồng bổ sung, nuôi dưỡng rừng (NDR), bảo vệ rừng và bố trí thời gian, địa điểm thực hiện kế hoạch
Căn cứ vào hiện trạng TNRCĐ, căn cứ vào kết quả cân đối cung cầu lâm sản của cộng đồng, tiến hành lập kế hoạch trồng rừng, KNXTTS kết hợp trồng bổ sung, NDR, bảo vệ rừng cho các lô rừng cộng đồng đã điều tra
Trang 372.4.3.2 Phương pháp Xây dựng Quy ước BV&PTR cộng đồng
Sử dụng phương pháp có tham gia của người dân, cán bộ lâm nghiệp địa phương là người hỗ trợ, thúc đẩy và cộng đồng thôn là người xây dựng Quy ước
Trình tự các bước xây dựng và tổ chức thực hiện Quy ước BV&PTR của thôn được thể hiện qua bảng 2.3 sau:
Bảng 2.3: Tiến trình xây dựng và tổ chức thực hiện Quy ước BV&PTR thôn
Khái quát về tiến trình các bước xây dựng và tổ chức thực hiện Quy ước BV&PTR
Bước 1: Chuẩn bị Bước 2: Họp thôn - thảo luận nội dung của Quy ước BV&PTR Bước 3: Dự thảo, hoàn thiện và phê duyệt Quy ước BV&PTR
Bước 4: Phổ biến, giám sát, đánh giá thực hiện Quy ước BV&PTR
Bước 1: Chuẩn bị
Tổ chức họp xã =>Họp cán bộ chủ chốt (cuộc họp 1) => Thu thập và nghiên cứu tài liệu liên quan => Kết quả họp
Bước 2: Họp thôn (cuộc họp 2): Tập trung họp toàn thôn =>Thảo luận nhóm
=>Tập trung họp toàn thôn => Thông qua kết quả thảo luận
Nội dung thảo luận: Mục tiêu xây dựng Quy ước; Các vấn đề khó khăn trong BV&PTR; Các quy định về bảo vệ rừng của cộng đồng và của các đối tượng khác và thành lập tổ hoặc nhóm hay HGĐ bảo vệ rừng; Lợi ích của cộng đồng và chia sẻ lợi ích; Việc phổ biến Quy ước để đảm bảo Quy ước của dân; Các nội dung giám sát, đánh giá thực hiện Quy ước
Bước 3: Dự thảo, hoàn chỉnh và phê duyệt Quy ước
Căn cứ vào biên bản của cuộc họp đại diện thôn (bước 2) và thực tế của cộng đồng dân cư thôn, trưởng ban quản lý bảo vệ rừng thảo luận với thành viên trong ban quản lý rừng, cán bộ hỗ trợ, tiến hành dự thảo Quy ước và báo cáo trưởng thôn sau khi dự thảo Quy ước cơ bản được hoàn chỉnh Tổ chức cuộc họp toàn thôn (cuộc họp 3) để thông qua dự thảo Quy ước
Trang 38Bước 4: Phổ biến , giám sát, đánh giá thực hiện Quy ước
Tổ chức cuộc họp toàn thôn (cuộc họp 4) để phổ biến Quy ước
- Phổ biến Quy ước: Trưởng thôn tổ chức họp toàn thể nhân dân trong cộng đồng dân cư thôn để thông báo Quyết định công nhận Quy ước của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, phổ biến toàn thể nội dung Quy ước
- Giám sát thực hiện Quy ước: Các nội dung giám sát gồm: Tình trạng vi phạm Quy ước; việc xử lý vi phạm; việc chia sẻ lợi ích,…
- Đánh giá thực hiện Quy ước: Tiến hành định kỳ hàng năm, xem xét toàn diện về tính phù hợp và hiệu quả của các quy định trong Quy ước
2.4.3.3 Phương pháp Thành lập Quỹ BV&PTR cộng đồng thôn (Quỹ thôn)
Quỹ BV&PTR do cộng đồng tự thành lập nhằm mục đích chủ yếu là phục vụ cho các hoạt động về lâm nghiệp của cộng đồng như: Quản lý và bảo vệ rừng, trồng rừng, chăm sóc rừng, KNXTTS rừng, làm giàu rừng, khai thác gỗ và lâm sản khác,
Cộng đồng thôn sẽ tự bầu ra một ban quản lý để quản lý Quỹ Ban QLRCĐ
có thể làm cả nhiệm vụ của ban quản lý Quỹ; trường hợp nguồn vốn trong quỹ lớn
có thể thành lập ban quản lý Quỹ riêng
a) Trình tự các bước thành lập Quỹ thôn
Bầu ban quản lý Quỹ thôn và Tổ kiểm soát Quỹ thôn => Dự thảo Quy chế quản lý Quỹ thôn => Tổ chức họp thôn thông qua quy chế quản lý Quỹ thôn => Công khai quy chế
b) Xây dựng kế hoạch thu chi quỹ thôn hàng năm
Xem xét Kế hoạch QLRCĐ, Quy ước BV&PTR để xác định các mức thu, chi => Tổ chức họp thôn trao đổi góp ý => Hoàn chỉnh kế hoạch thu chi quỹ thôn hàng năm gửi Ban quản lý Quỹ xã xem xét thông qua hay phê duyệt => Công bố công khai Kế hoạch thu chi quỹ thôn hàng năm
c) Công tác kế toán tại Ban quản lý Quỹ thôn
Các nguồn thu cho Quỹ thôn trong đó có khoản hỗ trợ của dự án theo phân
bổ của Quỹ xã được coi là một phần của Quỹ thôn, do vậy công tác kế toán Quỹ
Trang 39thôn của Ban quản lý Quỹ thôn thực hiện bằng việc ghi chép các loại sổ sách, mẫu biểu sau: Sổ ghi biên bản họp Ban quản lý Quỹ thôn, Sổ nhật ký hoạt động, Sổ theo dõi thu chi Quỹ thôn
Định kỳ cuối tháng, quý, 6 tháng và năm Ban quản lý Quỹ thôn tổng hợp và báo cáo kế hoạch thu chi Quỹ thôn, báo cáo tình hình theo dõi thu chi Quỹ thôn cho Quỹ xã Công khai Quỹ thôn
d) Giám sát và Báo cáo
- Ban quản lý Quỹ thôn: định kỳ theo quý, 6 tháng và năm Ban quản lý Quỹ thôn có báo cáo bằng văn bản gửi cho: Ban Phát triển rừng xã, Cộng đồng thôn bản
- Tổ kiểm soát Quỹ thôn: Hàng tháng, Tổ kiểm soát Quỹ thôn phân công tiến hành giám sát thường xuyên các hoạt động của Quỹ thôn như: Các tổ, nhóm, hộ được giao thực hiện nhiệm vụ có ghi chép Sổ nhật ký ghi chép hoạt động hay không, nội dung ghi chép có cụ thể không; Các hoạt động khai thác lâm sản; Những người được hỗ trợ có nhận được đủ mức hỗ trợ không, Sổ sách ghi chép các khoản thu chi Quỹ thôn có rõ ràng không Hàng tháng tổ kiểm soát Quỹ thôn có báo cáo hàng tháng bằng văn bản công khai kết quả kiểm soát
Trang 40Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức Quỹ BV&PTR cộng đồng
* Ghi chú:
Các khoản đóng góp: Các khoản chi hỗ trợ:
Tài khoản Quĩ BV&PTRCĐ xã tại Ngân hàng NN&PTNT
Quỹ BV&PTR cộng đồng của thôn (Quỹ thôn)
Ban quản lý Quỹ thôn
Trưởng ban
Kế toán Thủ quỹ Thành viên khác
Nguồn kinh phí
do thôn thu và quản lý
Kế hoạch và
đề xuất Quỹ
xã hỗ trợ
Bồi thường vi
phạm Quy
chế QL RCĐ
Quỹ BV&PTR cộng đồng cấp xã (Quỹ xã)
Trưởng ban
Kế toán Thủ quỹ Các thành viên khác
Các nguồn hỗ
trợ khác từ bên ngoài
(ngân sách,
dự án, doanh
nghiệp, nhà tài trợ…) cho
Quỹ xã hay cho Quỹ thôn
Người dân tham gia các hoạt động QLRCĐ: hưởng lợi từ rừng
cộng đồng, và đóng góp xây dựng quỹ