1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp thúc dẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện yên thủy, tỉnh hòa bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

111 318 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn phát triển hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá là yêu cầu cấp bách và tất yếu để nước ta nhanh

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, toàn bộ nội dung, kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ

nguồn gốc

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Tác giả Luận văn

Trần Văn Phúc

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Khoa Đào tạo sau đại học, Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh; Bộ môn Kinh tế, Bộ môn Quản trị kinh doanh, Bộ môn Tin học, Bộ môn ngoại ngữ… đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến, TS Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Hợi, người thầy đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi

hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn những cá nhân, tập thể đã giúp đỡ tạo điều kiện cung cấp những thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Qua đây, tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu xây dựng luận văn

Xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Tác giả Luận văn

Trần Văn Phúc

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CẦU KINH TẾ, CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 4

1.1 Cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 4

1.1.1 Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 4

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 10 1.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 14

1.2 Cơ sở thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 21

1.2.1 Những kinh nghiệm chủ yếu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số nước trên thế giới 21

1.2.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam 29

1.2.3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình 35

1.2.4 Bài học kinh nghiệm cho huyện Yên Thủy: 38

1.3 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn 38

Trang 4

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA

BÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình 43

2.1.1 Vị trí địa lý 43

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 43

2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội: 48

2.1.4 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình 48

2.3 Phương pháp nghiên cứu 53

2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 53

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 54

2.3.3 Phương pháp xử lý thông tin 54

2.3.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 54

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55

3.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình 55 3.1.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa 3 nhóm ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ) 55

3.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành trong nhóm ngành nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản): 65

3.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp truyền thống: 68

3.1.4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành trong nhóm ngành công nghiệp (bao gồm công nghiệp và xây dựng) 70

3.1.5 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành trong nhóm ngành dịch vụ 72

Trang 5

3.1.6 Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình 733.2 Các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 813.2.1 Định hướng và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình 813.2.2 Các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 85KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TĐBKVN-1995 Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995)

CDCCKT Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

CDCCKTNN Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Một số chỉ số kinh tế cơ bản của huyện Yên Thủy và một số

2.2 Tăng trưởng GTSX huyện Yên Thủy giai đoạn 2010- 2013 46 3.1 Cơ cấu GTSX theo ngành Yên Thủy giai đoạn 2005 – 2010 50 3.2 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2010 – 2013 51 3.3 Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu của Huyện 53 3.4 GTSX ngành TM-DV trên địa bàn huyện (2010-2013) 54 3.5 Cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế huyện Yên Thủy

3.6 Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành nông, lâm nghiệp -thủy sản

3.7 Giá trị sản xuất và cơ cấu nội ngành nông nghiệp huyện Yên

3.8 Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng huyện Yên

Thủy giai đoạn 2010-2013 (theo giá cố định 2010) 63 3.9 Cơ cấu sản phẩm công nghiệp huyện Yên Thủy giai đoạn

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Sự cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề rộng lớn không chỉ ở tầm quốc gia mà trên bình diện quốc tế các nhà nước đều luôn phải tiến hành để đáp ứng yêu cầu phát triển trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể Trong giai đoạn phát triển hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã xác định chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá là yêu cầu cấp bách và tất yếu

để nước ta nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển để trở thành một quốc gia có nền kinh tế giàu đẹp, văn minh và hiện đại Mỗi địa phương đều phải xây dựng cho mình các chủ trương và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách phù hợp với điều kiện thực tiễn

Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, huyện Yên Thủy đã tập trung triển khai nhiều giải pháp phát triển kinh tế - xã hội với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa, về cơ bản đã đạt được một số kết quả: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế hàng năm đều tăng, cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, tạo điều kiện thuận lợi để công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn phát triển, góp phần quan trọng vào sự ổn định

và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của dân

cư ở các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực nông thôn được giữ vững

Mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ, song nhìn chung, cơ cấu kinh tế của huyện Yên Thủy có sự chuyển dịch chậm, tỷ trọng nông nghiệp chiếm trong cơ cấu kinh tế của huyện còn cao, năm 2013 là 41,6% Một số vùng phát triển kinh tế còn mang tính tự phát, chưa gắn với quy hoạch, chất lượng hàng hoá chưa cao, Thực tế đó chưa tương xứng với

Trang 9

tiềm năng của một huyện có điều kiện thuận lợi về đất đai, có 02 tuyến đường quốc lộ chạy cắt giữa huyện hướng tâm tại thị trấn huyện lỵ tạo thành hai trục giao thông nối với các tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình và Thủ đô Hà Nội, nguồn lao động dồi dào… Vì thế, việc đẩy mạnh thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở huyện Yên Thủy là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội; xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống xã hội cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện, từng bước góp phần thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”

Là một người con sinh ra và lớn lên ở huyện Yên Thuỷ, với những kiến thức được tiếp thu ở trường Đại học Lâm nghiệp, cùng sự mong muốn được đóng góp sức lực và kiến thức của mình xây dựng vùng quê Yên Thuỷ ngày càng phát triển, giàu đẹp góp phần nhỏ trong sự phát triển của nền kinh tế

quốc dân, vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hòa Bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm Luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế

huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình năm 2010-2013, những kết quả đạt được và những hạn chế, tồn tại; đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu kinh tế huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hòa Bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

* Mục tiêu cụ thể:

- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu kinh tế và

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Thuỷ, tỉnh

Hoà Bình năm 2010-2013, những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân

Trang 10

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu

kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu

kinh tế huyện Yên Thủy theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi về nội dung: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành của

huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình

+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi huyện Yên Thuỷ,

tỉnh Hoà Bình

+ Phạm vi về thời gian: Từ năm 2010 - 2013

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2010-2013

- Các giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở huyện Yên Thuỷ, tỉnh Hoà Bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CẦU KINH TẾ,

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1.1 Cơ sở lý luận về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.1.1 Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.1.1.1 Cơ cấu kinh tế

Thuật ngữ cơ cấu có nguồn gốc từ chữ la-tinh với nghĩa ban đầu là xây

dựng, được sử dụng trong kiến trúc để phản ánh cách lắp đặt các bộ phận của một nguyên thể Từ xuất phát điểm đó, tùy theo từng góc độ nghiên cứu, thuật

ngữ cơ cấu được hiểu theo nhiều cách khác nhau Dù được định nghĩa theo cách nào thì cơ cấu được hiểu là một tập hợp các yếu tố gắn bó với nhau, tạo

thành một nguyên thể Nguyên thể này có trật tự xác định về chất ổn định, nhưng là ổn định tương đối và tạm thời, thể hiện sự thay đổi các quan hệ giữa các yếu tố có trong nguyên thể

Theo quan điểm hệ thống, khái niệm cơ cấu được sử dụng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành một hệ thống

Cơ cấu được biểu hiện như một tập hợp những mối liên hệ hữu cơ các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định, cơ cấu là thuộc tính của một hệ thống Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống phức tạp, bao gồm nhiều bộ phận cấu thành Các bộ phận đó thường xuyên tác động qua lại hình thành nên một

cơ cấu nhất định CCKT quốc dân có nhiều loại khác nhau và tuỳ theo mục đích quản lý và nghiên cứu mà có thể xem xét ở các góc độ khác nhau Dù thuộc loại nào, CCKT quốc dân cũng là sản phẩm của phân công lao động xã hội

Phân công lao động xã hội là một quá trình liên tục, hình thành và phát

Trang 12

triển cùng với tiến trình lịch sử của nhân loại Nó được biểu hiện cụ thể dưới hai hình thức cơ bản là phân công lao động theo ngành và phân công lao động theo lãnh thổ Hai loại phân công lao động này gắn bó hữu cơ với nhau Cho nên, dù có xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì cũng có thể thấy rằng, cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể những mối quan hệ về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận cấu thành trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Các bộ phận cấu thành nền kinh tế bao gồm các yếu tố kinh tế (tài nguyên, đất đai, lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật …), các lĩnh vực kinh tế (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng …), các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ …), các vùng kinh tế; các thành phần kinh tế (nhà nước, tập thể, tư nhân …)

Trong “Từ điển bách khoa Việt Nam” Cơ cấu kinh tế (CCKT) được hiểu

là “ Tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữa cơ tương đối ổn định hợp thành” và liệt kê các loại cơ cấu khác nhau: cơ cấu nền kinh

tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị hành chính - lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật mà trước hết là cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ là quan trọng nhất [TĐBKVN- 1995]

Từ những phân tích và quan niệm trên, có thể rút ra kết luận: CCKT là tổng thể hữu cơ các mối quan hệ tương đối ổn định về số lượng và chất lượng giữa các yếu tố, các bộ phận hợp thành nền kinh tế, phản ảnh trình

độ, trạng thái phân công lao động xã hội của các quan hệ sản xuất nhất định

Nền kinh tế của một quốc gia, một địa phương là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế, vận động hướng vào những mục đích nhất định, giữa chúng có những mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại về số lượng cũng như

về chất lượng trong những không gian và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể

Trang 13

Trong thực tiễn phát triển kinh tế của mỗi quốc gia thường tồn tại 3 loại hình CCKT Đó là:

- Cơ cấu ngành kinh tế:

Cơ cấu ngành kinh tế là cơ cấu kinh tế, trong đó mỗi bộ phận hợp thành

là một ngành hay một nhóm ngành kinh tế

Nội dung của cơ cấu kinh tế ngành được thể hiện là:

- Đó là số lượng các ngành được hình thành Số lượng này luôn luôn phát triển theo phân công lao động xã hội

- Mối quan hệ về số lượng thể hiện ở tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng thể

- Mối quan hệ về chất lượng phản ánh vị trí, tầm quan trọng từng ngành, các mối liên kết kinh tế - kỹ thuật, kinh tế - xã hội và tính chất tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng

Nói chung, mối quan hệ của các ngành cả về số lượng và chất lượng đều thường xuyên biến đổi và ngày càng trở nên phức tạp hơn theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế

Ở mức độ khái quát, cơ cấu kinh tế ngành kinh tế ở Việt Nam thường được xem xét theo 3 nhóm ngành chính: nông nghiệp, công nghiệp và dịch

vụ Theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 Hệ thống phân ngành kinh tế của Việt Nam bao gồm 5 cấp Hệ thống ngành cấp I bao gồm

21 ngành được ký hiệu từ A đến U như sau: A: Nông, lâm và thuỷ sản; B: Công nghiệp khai khoáng; C: Công nghiệp chế biến, chế tạo; D: Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; E: Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải; F: Xây dựng; G: Bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác; H: Vận tải và kho bãi; I: Dịch vụ lưu trú và ăn uống; J: Thông tin và truyền thông; K: Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; L: Hoạt động kinh doanh bất động sản; M: Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ; N: Hoạt động

Trang 14

hành chính và dịch vụ hỗ trợ; O: Hoạt động của Đảng, tổ chức chính trị-xã hội, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội bắt buộc; P: Giáo dục và đào tạo; Q: Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội; R: Nghệ thuật, vui chơi

và giải trí; S: Hoạt động dịch vụ khác; T: Hoạt động làm thuê các công việc trong hộ gia đình, sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình; U: Hoạt động của các tổ chức và các cơ quan quốc tế Từng ngành trên có thể được tiếp tục phân chia tiếp thành những ngành chuyên môn hoá hẹp hơn để nghiên cứu chi tiết hơn

- Cơ cấu kinh tế vùng

Cơ cấu kinh tế vùng là cơ cấu kinh tế mà mỗi bộ phận hợp thành là một vùng kinh tế lãnh thổ Việc phân chia các vùng kinh tế của một quốc gia thường căn cứ vào vị trí địa lý, các điều kiện tự nhiên, những lợi thế và trình

độ phát triển kinh tế - xã hội của vùng Trong phạm vi một nước, mỗi vùng có

vị trí địa lý khác nhau, có những tiềm năng, lợi thế khác nhau, có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau… do đó, có những thuận lợi cũng như khó khăn khác nhau trong phát triển kinh tế, đồng thời giữa các vùng lãnh thổ lại có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và có sự liên kết với nhau trong quá trình phát triển

Cơ cấu thành phần kinh tế

Cơ cấu thành phần kinh tế là cơ cấu kinh tế mà mỗi bộ phận hợp thành

là một thành phần kinh tế Cơ cấu thành phần kinh tế có thể được xem xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, hay theo từng ngành kinh tế, từng vùng lãnh thổ

Mục đích của việc nghiên cứu cơ cấu thành phần kinh tế là để đánh giá

vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế trong phát triển đất nước cũng như từng ngành kinh tế, từng vùng lãnh thổ

Ba loại hình cơ cấu kinh tế trên có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình phát triển kinh tế, trong đó cơ cấu ngành kinh tế là tiêu chuẩn

cơ bản để đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia

Trang 15

Đặc trưng cơ bản của cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế mang tính ổn định tương đối trong từng điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tuy nhiên, xét cả quá trình, nó không cố định, luôn vận động mang tính tất yếu khách quan Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) là quá trình làm thay đổi cấu trúc

và các mối quan hệ của hệ thống kinh tế theo một chủ đích và định hướng nhất định, nghĩa là đưa hệ thống kinh tế đến các trạng thái phát triển tối ưu, đạt được hiệu quả tổng hợp mong muốn thông qua các tác động điều khiển có

ý thức, hướng đích của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan

1.1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Nó không cố định mà luôn luôn biến đổi, chuyển dịch phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong nước và quốc tế Trong quá trình phát triển kinh tế không chỉ số lượng các ngành thay đổi mà cả quy mô, trình

độ và các mối liên hệ cũng thay đổi, từ đó vai trò, vị trí của các ngành cũng có

sự biến đổi

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với môi trường và điều kiện phát triển của nền kinh tế Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mỗi quốc gia, hay mỗi một ngành kinh tế, hay mỗi vùng, địa phương có thể đưa vào cơ cấu kinh tế những ngành mới (những sản phẩm mới), hay có thể loại ra khỏi cơ cấu kinh tế những ngành (những sản phẩm) không còn phù hợp, hoặc có thể chuyển dịch theo hướng tăng hay giảm tỷ trọng của một ngành (sản phẩm) nào đó Đó là quá trình chuyển từ cơ cấu kinh tế lạc hậu, bất hợp lý sang cơ cấu kinh tế hợp lý; hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu kinh tế mới hiện đại và phù

Trang 16

hợp hơn Sự thay đổi như vậy không đơn giản chỉ là sự thay đổi số lượng các ngành và tỷ trọng của mỗi ngành, mà còn bao gồm sự thay đổi vị trí, tính chất mối quan hệ trong nội bộ cơ cấu ngành

Yêu cầu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế là phải phát huy tối đa lợi thế so sánh của quốc gia, cũng như từng vùng, địa phương nhằm khai thác tổng hợp mọi tiềm năng; góp phần phát triển và ổn định kinh tế, xã hội, môi trường; kết hợp kinh tế trong và ngoài nước; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội như tạo thêm việc làm, phân phối hợp lý sản phẩm lao động

1.1.1.3 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Quá trình chuyển dịch CCKT có thể được xem xét, đánh giá qua các chỉ tiêu sau đây:

+ Cơ cấu theo Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là hệ thống chỉ tiêu đánh giá chuyển dịch của ngành, của các bộ phận trong ngành Cơ cấu GDP phán ánh rõ nét xu thế chuyển dịch CCKT ngành Cơ cấu GDP thường được

đo lường bằng tỷ lệ phần trăm của giá trị các yếu tố cấu thành cơ cấu ngành

+ Cơ cấu lao động là tỷ trọng lao động trong từng ngành, biểu hiện xu thế chuyển dịch trong quá trình phân công lao động theo ngành Tỷ trọng lao động các ngành nghề trong CCKT mang tính đặc trưng của từng thời kỳ, từng địa phương

+ Cơ cấu đầu tư là tỷ lệ nguồn vốn đầu tư vào từng ngành, từng vùng

và hiệu quả của quá trình đầu tư đó

+ Tỷ lệ (%) các yếu tố đầu vào phân bổ cho từng ngành/ nhóm ngành như: tỷ lệ phân bổ vốn đầu tư; tỷ lệ phân bổ lao động Việc xem xét CCKT qua các tỷ lệ đầu vào sẽ cho phép đánh giá sự phân bổ các yếu tố đầu vào khan hiếm có hợp lý hay không Nó còn giúp xem xét sự tác động của các yếu tố thuộc tổng cung đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 17

(CDCCKT) Ngoài ra, tỷ lệ phân bổ lao động là một chỉ tiêu có ý nghĩa khi xem xét hiệu quả của CCKT và quá trình CDCCKT

+ Tỷ lệ (%) kết quả đầu ra của từng ngành/ nhóm ngành: Việc đo lường các kết quả đầu ra cũng rất đa dạng về chỉ tiêu, trong đó, những chỉ tiêu sau thường được sử dụng phổ biến: Tỷ lệ giá trị sản xuất của từng ngành/ nhóm ngành trong tổng số; Tỷ lệ tổng thu nhập (GDP) của từng ngành/ nhóm ngành trong tổng số

Cách xem xét cơ cấu theo đầu ra cho phép đánh giá tổng hợp các nhân

tố ảnh hưởng đến CCKT và là tiêu chuẩn quyết định để đánh giá hiệu quả của

xu hướng CDCCKT

Khi sử dụng các chỉ tiêu phân tích xu thế chuyển dịch CCKT cần phải

có số lượng từng năm, xem xét sự biến động của giá cả (giá: thường tính theo giá định gốc và hiện hành) Bên cạnh việc phân tích CDCCKT chung cả nước, có thể sử dụng các chỉ tiêu trên để phân tích chuyển dịch CCKT ngành, vùng, địa phương

Mục đích của chuyển dịch CCKT không chỉ là sự thay đổi về tỷ trọng ngành này, ngành khác, mà còn phải đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao, khai thác hiệu quả các nguồn lực, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

và các tầng lớp dân cư Do đó, tính hợp lý về CCKT phải là hiệu quả kinh tế,

xã hội và môi trường do quá trình đó mang lại

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.1.2.1 Khái niệm và nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang

sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng suất lao động xã hội cao Đối với nước ta, đó là một quá tŕnh thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội

Trang 18

nhằm cải biến một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành một xã hội công nghiệp, gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản xuất tiến bộ

Theo Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc, công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong đó một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển một CCKT nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm CCKT này là tiến bộ kỹ thuật và khoa học công nghệ luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất và hàng hoá tiêu dùng và có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao và bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về nền kinh tế xã hội

Chuyển dịch CCKT theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là quá trình chuyển nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển sang nền kinh tế hiện đại, xã hội phát triển và văn minh với mục tiêu bảo đảm sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định, vững chắc, khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước và ngoài nước, làm tăng năng suất lao động xã hội, với nội dung cơ bản

có tính phổ biến là ứng dụng kỹ thuật và công nghệ sản xuất hiện đại vào các ngành kinh tế, mà trước hết là những ngành chiếm vị trí quan trọng nhất Để thực hiện những nội dung và mục tiêu trên cần phải có những bước đi, điều kiện và giải pháp thích hợp

Nội dung và yêu cầu cơ bản của chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) ở nước ta theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng (gọi chung là công nghiệp) và thương mại - dịch vụ (gọi chung là dịch vụ), đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp

và ngư nghiệp (gọi chung là nông nghiệp) Cùng với quá trình chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi kinh tế và xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cơ cấu các vùng kinh tế, các thành phần kinh tế, các lực lượng lao động xã hội, cơ cấu kinh tế đối nội, cơ cấu kinh tế đối ngoại…

Trang 19

Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH ở các nước nông nghiệp chậm phát triển là quá trình làm biến đổi nền kinh tế có cơ cấu chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu sang CCKT công nghiệp - nông nghiệp và dịch vụ hiện đại Đó là quá trình làm tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp

và dịch vụ trong nền kinh tế, gắn liền với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, có hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Quá trình CDCCKT theo hướng CNH, HĐH còn bao hàm chuyển dịch

cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghệ tiến bộ; không chỉ đi từ thủ công sang cơ giới, tự động mà còn phải biết đi tắt, đón đầu; không chỉ áp dụng công nghệ tiên tiến mà phải biết còn tận dụng và hiện đại hóa công nghệ truyền thống

Như vậy, CNH, HĐH nền kinh tế là mục tiêu cần đạt tới của chuyển dịch CCKT Việc dựa trên cơ sở lý luận cũng như học tập, tham khảo kinh nghiệm về thực hiện công nghiệp hóa của các nước đi trước là cần thiết, nhưng phải biết chắt lọc tinh hoa khoa học, đảm bảo đáp ứng tốt nhất các yêu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Ở Việt Nam, chủ trương chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH được khởi nguồn ngay từ khi nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới kinh tế (1986) và ngày càng được đẩy mạnh một cách nhất quán và xuyên suốt cùng với đường lối CNH, HĐH đất nước Đảng ta đã nhận thức và vận dụng lý luận kinh điển thành quan điểm, chủ trương về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII nêu rõ: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự

Trang 20

phát triển của công nghệ và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.[NQHNTW7KVII-30.7.1994 ]

Sau Hội nghị Trung ương 7 khóa VII, chủ trương chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH tiếp tục được các Đại hội Đảng VIII, IX, X và XI đề

ra, trở thành một trong những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới kinh tế của Việt Nam trong những năm vừa qua

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ cùng với quá trình toàn cầu hóa, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng đẩy mạnh CNH, HĐH; phát triển nhanh, bền vững là định hướng phát triển kinh tế đã được Đại hội XI của Đảng khẳng định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong giai đoạn 2011-2020 Tiếp tục chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH ở nước ta trong giai đoạn tới được coi là nhiệm vụ hàng đầu và là đòi hỏi có tính khách quan

1.1.2.2 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Giữa CNH-HĐH và quá trình CDCCKT có mối quan hệ mật thiết với nhau Chuyển dịch CCKT là nội dung quan trọng của quá trình thực hiện CNH, HĐH Chuyển dịch CCKT là quá trình lựa chọn và hình thành các ngành sản xuất, các lĩnh vực hoạt động có hiệu quả cao và phù hợp với tiềm năng, lợi thế của từng vùng địa phương và nhu cầu của thị trường Chính quá trình đó sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện CNH, HĐH CNH, HĐH chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi nền kinh tế chuyển sang sản xuất hàng hóa, hình thành các ngành sản xuất chủ lực, sản xuất tập trung, quy mô lớn mới có điều kiện

để áp dụng công nghệ hiện đại như cơ giới hóa, tự động hóa, điện khí hóa, gắn sản xuất công nghiệp với các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, với các ngành kinh tế khác Một trong những nguyên nhân kìm hãm quá trình CNH, HĐH nền kinh tế là do CCKT chuyển dịch chậm, sản xuất trong nhiều ngành

Trang 21

kinh tế về cơ bản vẫn phân tán, manh mún, quy mô nhỏ Với thực trạng đó khó có thể đưa những thành tựu của sản xuất công nghiệp hiện đại vào phục

vụ sản xuất

Ngược lại, CNH, HĐH sẽ tạo ra những điều kiện vật chất – kỹ thuật, khoa học và công nghệ (KHCN) hiện đại và trình độ lao động cao để thực hiện thành công quá trình CDCCKT, thúc đẩy CDCCKT theo hướng ngày càng tiến bộ

Kinh nghiệm thực tiễn về CDCCKT ở nước ta trong những năm qua cho thấy, nhiều địa phương trong quá trình CDCCKT chỉ dừng lại ở việc lựa chọn ngành, sản phẩm và vùng kinh tế cần ưu tiên phát triển, nhưng xem nhẹ việc đầu tư đồng bộ các yếu tố phục vụ quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo hướng hiện đại, đồng bộ, nên hiệu quả thấp, sản phẩm sản xuất ra không có khả năng cạnh tranh và cuối cùng nhiều dự án CDCCKT bị thất bại

Như vậy, CDCCKT và CNH, HĐH muốn thành công phải được tiến hành đồng thời Định hướng CDCCKT phải gắn với định hướng thực hiện CNH, HĐH Hai quá trình này phải gắn liền với nhau trong việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước cũng như từng vùng địa phương Trong quy hoạch phát triển các ngành, các vùng kinh tế theo định hướng CDCCKT phải gắn với quy hoạch thực hiện CNH, HĐH (xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, quy hoạch phát triển hệ thống dịch vụ phục vụ cho phát triển các ngành, các vùng kinh tế theo hướng hiện đại)

1.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Quá trình CDCCKT tế chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau

1.1.3.1 Nhóm nhân tố thuộc về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc rất lớn vào ví trí địa lý, điều kiện

tự nhiên, như: đất đai, khí hậu, nguồn nước, thị trường… Đối tượng của sản

Trang 22

xuất nông nghiệp là những cây trồng, vật nuôi là những cơ thể sống và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, trong khi sản xuất công nghiệp là sản xuất

ra máy móc thiết bị, sản xuất vật liệu, phụ tùng, linh kiện, bán thành phẩm, sản xuất ra thực phẩm, đồ uống Sự tác động của nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên mang tính thường xuyên và có tính quyết định đối với cơ cấu cũng như

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu ngành Trong điều kiện tự nhiên, nhân tố thời tiết khí hậu, nguồn nước có tầm quan trọng đặc biệt, đối với nông nghiệp rất dễ gặp những rủi ro trong quá trình sản xuất

Do phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nên mỗi quốc gia, cũng như mỗi vùng trong quốc gia có CCKT không giống nhau, có quốc gia tỷ trọng nông nghiệp chiếm lớn, công nghiệp có tỷ trọng không đáng kể và sự chuyển dịch

cơ cấu đó có những nét riêng biệt Cũng như cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế cũng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên khá rõ nét Cụ thể là với vị trí địa lý thuận lợi, các tiềm năng tự nhiên phong phú, cơ cấu ngành phát triển làm cho cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh

tế phát triển theo Thông thường, ở những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi thì các thành phần kinh tế cũng phát triển với quy mô lớn hớn và tốc độ cao hơn so với các vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi Sự phát triển của cơ cấu ngành, của cơ cấu thành phần kinh tế nhờ vào điều kiện tự nhiên thuận lợi, đến lượt nó lại tạo điều kiện và nảy sinh nhu cầu ứng dụng KHCN mới, kỹ thuật tiến bộ, đổi mới hình thức tổ chức kinh doanh… điều đó có nghĩa là nó tác động tới cơ cấu kỹ thuật và cơ cấu sản xuất

1.1.3.2 Nhóm nhân tố kinh tế ( bao gồm nhiều nhân tố khác nhau)

Một là, nhân tố lực lượng lao động Trong nhân tố này, số lượng, chất

lượng, cơ cấu của lực lượng lao động có ý nghĩa lớn hơn Người lao động là lực lượng trực tiếp sản xuất ra hàng hóa, chất lượng và cơ cấu lao động là yếu

tố quyết định đến chất lượng công việc, năng suất và hiệu quả Chỉ có đội ngũ

Trang 23

lao động có chất lượng cao với cơ cấu hợp lý mới có khả năng thực hiện cơ giới hoá, hóa học hoá, tin học hóa và áp dụng với những thành tựu khoa học công nghệ cao vào sản xuất hàng hóa chất lượng cao

Hai là, nhân tố cơ sở vật chất kỹ thuật Là nhân tố có tính quyết định

đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung Nó bao gồm kết cấu hạ tầng kỹ thuật kinh tế, chất lượng, số lượng, cơ cấu tư liệu sản xuất Các yếu tố này tác động trực tiếp đối với năng suất, chất lượng, hiệu quả, từ đó tác động đến phân công lao động, bố trí lao động Mọi sự biến đổi về cơ cấu đều bắt nguồn

từ sự biến đổi của cấu tạo kỹ thuật Song thời đại ngày nay với thành tựu của cuộc cách mạng thông tin thì vai trò của yếu tố cơ sở vật chất tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn lớn hơn nhiều

Trong điều kiện ở nước ta cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất còn hạn chế, lạc hậu, kết cấu hạ tầng chưa phát triển, trình độ cơ giới hoá, hoá học hoá, sinh học hoá thấp Từ thực tiễn đó đòi hỏi muốn chuyển dịch cơ cấu kinh

tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải chăm lo và có phương án hiệu quả để phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật

Ba là, nhân tố vốn đầu tư Vốn là nhân tố có tính quyết định cuối cùng

tới việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhờ có vốn đầu tư mới có thể giải quyết được vấn đề tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, áp dụng những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ sản xuất Để có được vốn đầu tư, ngoài nguồn vốn ngân sách cần có chính sách huy động các nguồn vốn để thực hiện các chương trình, đề án chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, chủng loại sản phẩm phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng

Bốn là, nhân tố thị trường Việc xây dựng cơ cấu cũng như chuyển dịch

cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dù ở trình độ nào thì cũng phải quán triệt

Trang 24

các vấn đề cơ bản Đó là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, số lượng và chất lượng phải do thị trường quyết định

Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế, thị trường ngoài nước có vai trò ngày càng tăng lên Yếu tố này chi phối mạnh tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh

tế trong từng quốc gia Việc lựa chọn đúng các lợi thế so sánh của từng quốc gia đóng vai trò quyết định đến thành công của nước đó trong hội nhập kinh

tế quốc tế Vì vậy, cần khai thác nhân tố này để giải quyết đầu ra và đầu vào cho sản xuất Cũng từ đó, lôi cuốn các thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh xuất khẩu, khai thác lợi thế so sánh, sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực của từng vùng, từng địa phương và từng doanh nghiệp

1.1.3.3 Nhóm nhân tố văn hoá - xã hội , chính trị

- Nhân tố văn hoá - xã hội: Đối với nông nghiệp việc chuyển dịch cơ

cấu kinh tế gắn với nông thôn, trong khi đó ở nông thôn còn nhiều phong tục tập quán, lối sống bảo thủ, lạc hậu Do vậy, khi đề ra phương án trồng cây gì, nuôi con gì phải được điều tra kỹ lưỡng về hiệu quả cũng như đầu ra cho sản phẩm, phát huy tiềm năng và phương thức sản xuất truyền thống, tập quán trồng trọt và chăn nuôi của địa phương Đối với công nghiệp việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế giảm dần tỷ trọng nông nghiệp sang công nghiệp sẽ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, ổn định cuộc sống, đảm bảo an sinh xã hội, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

- Về nhân tố chính trị: Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần có sự ổn định chính trị - xã hội Về điểm này, chúng ta có Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chính sách phát triển kinh tế xã hội đúng đắn thông qua việc vận dung sáng tạo lý luận Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm quốc tế vào thực tiễn Việt Nam

Trang 25

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề có tính then chốt với nền kinh tế

Do vậy, cần phải có vai trò Nhà nước trong việc can thiệp vào quá trình này thông qua hệ thống công cụ quản lý vĩ mô của mình nhằm thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý

1.1.3.4 Nhóm nhân tố khoa học và công nghệ (KHCN)

KHCN có khả năng nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu mới, tiên tiến, hiện đại của thế giới vào các ngành kinh tế, các lĩnh vực của đời sống xã hội; thúc đẩy việc đổi mới, nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của các ngành sản xuất, của các hoạt động quản lý kinh tế, xã hội sẽ nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả sức cạnh tranh của hàng hóa, sản phẩm địa phương Cần phải khuyến khích sáng tạo và gắn ứng dụng khoa học và công nghệ với sản xuất

1.1.3.5 Vai trò của Nhà nước

Quản lý nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH là quá trình Nhà nước xây dựng và vận hành cơ chế quản lý kinh tế phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan để tác động vào hệ thống kinh tế làm biến đổi về lượng, thay đổi mối quan hệ về chất của các bộ phận hợp thành hệ thống kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trước hết, đó là việc xoá bỏ các rào cản, tạo điều kiện cho thị trường

phát triển Đây có thể coi là vai trò quan trọng nhất của quản lý nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta Tuy nhiên, trong nền kinh

tế thị trường, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, không phải chủ thể kinh tế nào cũng luôn có khả năng nắm bắt và hành động theo các quy luật kinh tế thị trường, đó là khó khăn trong việc tiếp cận và khả năng phân tích thông tin; sau đó là các điều kiện để thực hiện các quyết định kinh doanh khi đã nắm chắc được cơ hội Đây là lý do khách quan cần có vai trò của Nhà nước trong việc định hướng, hỗ trợ, điều tiết các chủ thể kinh tế trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đảm bảo phát triển kinh tế bền vững

Trang 26

Thứ hai, Nhà nước định hướng, hỗ trợ quá trình chuyển dịch cơ cấu

kinh tế Định hướng bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội Điều tiết, định hướng các hoạt động của các chủ thể kinh tế thông qua chính sách thuế, chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư…Hỗ trợ các chủ thể kinh tế trong việc tiếp cận thông tin, phân tích xu hướng, nhu cầu của thị trường; trực tiếp hỗ trợ về vốn, dịch vụ khoa học, kỹ thuật, xúc tiến thương mại, hỗ trợ các hoạt động xuất khẩu…

Trực tiếp hỗ trợ, tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế như hệ thống giao thông, thuỷ lợi, cung cấp điện, nước sạch… là một điều kiện quan trọng hàng đầu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đây là những hoạt động đầu tư đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, nhưng lại rất khó thu lợi nhuận trực tiếp, do vậy mặc dù đã có nhiều giải pháp thu hút vốn đầu tư tư nhân, nhưng cho đến nay và cả trong tương lai, Nhà nước vẫn là người đầu tư chính vào lĩnh vực này

Đầu tư của Nhà nước để phát triển các lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, công nghệ, y tế, giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng giữ một vai trò hết sức quan trọng

1.1.3.6 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập quốc tế có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung, cũng như đến từng ngành và từng vùng cụ thể khác nhau nói riêng Tùy theo những cơ hội và thách thức do hội nhập mang lại, mà ngành này, vùng này có cơ hội phát triển hơn, ngược lại, ngành khác, vùng khác lại khó khăn trong phát triển do có hạn chế về nội lực, làm cho năng lực cạnh tranh thấp Chính vì thế, CCKT sẽ có sự chuyển dịch theo những xu hướng khác nhau Nhờ tác động của hội nhập quốc tế mà có điều kiện phát triển mạnh về công nghiệp và dịch vụ trong mỗi vùng, mỗi địa phương, từ đó sẽ thúc đẩy

Trang 27

nhanh qua trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng chuyển lao động nông nghiệp sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ

Cơ hội mà hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho những nước đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đó là khả năng tiếp cận và thu hút các nguồn vốn cho đầu tư phát triển, tiếp cận các tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại, các kinh nghiệm quản lý tiên tiến, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển các hình thức liên kết, hợp tác trong sản xuất kinh doanh

Đối với các địa phương chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, hội nhập kinh

tế quốc tế sẽ tạo ra một thị trường rộng lớn tiêu thụ các sản phẩm từ kinh tế nông thôn, từ đó tạo điều kiện kích thích và phát triển các vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh Mặt khác, hội nhập quốc tế còn giúp cho khu vực nông nghiệp, nông thôn có điều kiện thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào phát triển các ngành mà địa phương có lợi thế, từ đó thúc đẩy quá trình CDCCKT của địa phương

Bên cạnh những cơ hội đó, hội nhập quốc tế ngày càng có nhiều thách thức đối với nước ta trong phát triển kinh tế đất nước, cũng như trong CDCCKT Đó là cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, trong lúc khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trong nước còn rất hạn chế Thách thức này đòi hỏi các ngành trong kinh tế phải chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa hiện đại để có khả năng cạnh tranh, nhất là cạnh tranh quốc tế

Tóm lại, các nhóm nhân tố trên có mối quan hệ tác động lẫn nhau Trong

mối quan hệ tương tác đó, mỗi nhân tố có vị trí khác nhau, tác động theo những hướng không giống nhau, nhưng cùng tác động đối với việc hình thành

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các nhân tố đó chỉ có thể phát huy tác dụng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nếu như có sự can thiệp có hiệu quả của Nhà nước thông qua cơ chế chính sách, pháp luật

Trang 28

1.2 Cơ sở thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công

nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2.1 Những kinh nghiệm chủ yếu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một

số nước trên thế giới

Để có cơ sở rút ra bài học kinh nghiệm nước ngoài vào quá trình CDCCKT, đề tài nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước và vùng lãnh thổ trong khu vực châu Á, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia

* Nhật Bản:

Sau đại chiến thế giới lần thứ 2, Nhật Bản là nước bại trận, nền kinh tế Nhật Bản bắt đầu phát triển từ đống đổ nát Song chỉ sau mấy chục năm khôi phục và phát triển, Nhật Bản đã bỏ qua các nước TBCN có nền công nghiệp phát triển nhất của châu Âu và trở thành cường quốc thứ 2, sau Mỹ Từ nghiên cứu quá trình CDCCKT qua các giai đoạn công nghiệp hóa của Nhật Bản cho thấy để thúc đẩy quá trình CDCCKT cần quan tâm giải quyết các vấn

đề sau:

- Gia tăng nguồn vốn đầu tư bằng cách duy trì tỷ lệ tích lũy cao so với tống sản phẩm xã hội (từ 21,8% năm 1955 và tăng lên 39,7% vào năm 1968)

Tỷ lệ tích lũy tư bản cố định trong tổng sản phẩm xã hội bình quân giai đoạn

1955 – 1968 là 29,2%, lớn hơn 2 lần so với Mỹ và gần bằng 2 lần so với Anh

- Đa dạng hóa cơ cấu sản xuất: Nếu ở giai đoạn 1 (từ cách mạng Minh trị 1868 đến Đại chiến thế giới lần thứ nhất): giai đoạn thúc đẩy công nghiệp thì tỷ trọng ngành công nghiệp tăng lên, trong đó công nghiệp nhẹ truyền thống chiếm ưu thế và giai đoạn 2 (từ Đại chiến thế giới lần thứ nhất đến Đại chiến thế giới lần thứ 2): giai đoạn phát triển và hợp lý hóa công nghiệp Ở giai đoạn này có sự thay đổi vị trí giữa công nghiệp và nông nghiệp, trong đó những sản phẩm công nghiệp nặng, cơ bản dần chiếm ưu thế Đến giai đoạn 3 (từ Đại chiến thế giới lần thứ 2 đến khủng hoảng kinh tế thế giới giữa thập kỷ

Trang 29

70 thế kỷ 20): giai đoạn bắt đầu kỹ thuật tiên tiến thì công nghiệp giữ vị trí áp đảo, trong đó những ngành sản xuất bằng kỹ thuật hiện đại nhất được tập trung phát triển như xi măng, sản phẩm hóa chất, tàu biển, xe máy, máy ảnh, máy thu thanh, tivi

- Đẩy mạnh ứng dụng và nghiên cứu khoa học – kỹ thuật Một trong những chính sách phát triển khoa học – kỹ thuật mà chính phủ Nhật Bản áp dụng là tăng cường nhập các bằng phát minh sáng chế Về số lượng bằng phát minh nhập khẩu, Nhật Bản đứng đầu thế giới Nhật Bản đã dành nguồn kinh phí rất lớn để nhập khẩu bằng phát minh sáng chế (năm 1970 so với nam 1956 chi phí nhập khẩu kỹ thuật tăng 1 lần) Trong số kỹ thuật nhập khẩu, khoảng 80% là hàng máy móc và hóa chất

- Tăng cường vai trò quản lý và điều tiết của nhà nước: So với Mỹ và các nước châu Âu, Nhật Bản đầu tư cho nghiên cứu khoa học thấp hơn nhiều, nhưng do có sự điều tiết của nhà nước về đầu tư, chính sách giá cả, thuế quan mà đã kìm bớt hiện tượng tăng trưởng nóng hoặc giảm nhẹ mức độ suy thoái trong những thời điểm đình trệ

- Mở rộng thị trường: Ngoài việc quan tâm mở rộng thị trường trong nước, Nhật Bản đặc biệt quan tâm đến thị trường quốc tế Nhật Bản là nước đầu tiên của mô hình “công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu” Trong vòng 20 năm (1953 – 1973) giá trị xuất khẩu của Nhật tăng 20 lần, đưa hàng hóa Nhật Bản ở thị trường nước ngoài từ chỗ chỉ chiếm 1,3% tổng số của các nước TBCN năm 1050 lên 8% vào thập niên 1970

Trang 30

- Giai đoạn 3 từ thập kỷ 1980 đến nay

Từ thực tiễn CDCCKT qua 3 giai đoạn cho thấy kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc là:

- Lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế đúng đắn

Chiến lược phát triển kỉnh tế đất nước được đưa ra từ năm 1958 là tập trung tái thiết đất nước với mục tiêu tự cung, tự cấp đầy đủ thông qua việc

sử dụng nguồn lực sẵn có trong nước kết hợp với viện trợ nước ngoài Song

kế hoạch chưa hoàn thành thì Chính phủ Lư Thừa Văn bị lật đổ

Năm 1961, Hội đồng phát triển kinh tế đề xuất kế hoạch 5 năm với chiến lược là tiến hành công nghiệp hóa để đạt tốc độ tăng trưởng cao và tự cấp đầy đủ Hướng đột phá của chiến lược là đẩy mạnh tốc độ phát triển công nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến Hàn Quốc đặc biệt chú trọng phát triển ngành công nghiệp nhẹ hướng vào xuất khẩu Bên cạnh đó là tập trung cải thiện cơ sở hạ tầng và phát triển một số ngành công nghiệp nặng then chốt Như vậy, chiến lược CCKT hướng về xuất khẩu đã ra đời ngay từ đầu thập niên 1960 Tuy nhiên, phát triển theo hướng xuất khẩu đã làm cho các ngành công nghiệp chế biến bỏ xa các ngành khác về tốc độ phát triển tới 4 -

5 lần Vì vậy, trong chiến lược phát triển có điều chỉnh theo hướng từ “mất cân đối” sang “cân đối” Kết quả là đưa Hàn Quốc trở thành một nước có nền công nghiệp và nông nghiệp phát triển và chiến lược hướng về xuất khẩu vẫn giữ vị trí định hướng cho hoạt động của nền kinh tế

- Có chính sách tạo nguồn vốn: Ngay từ khi bắt đầu thực hiện chiến lược phát triển kinh tế từ đầu những năm 1960, Hàn Quốc đã đưa ra chính sách đầu tư với 3 điểm chính:

+ Khuyến khích đầu tư làm tăng việc sử dụng nguyên liệu trong công nghiệp

+Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Hàn Quốc

Trang 31

+ Khuyến khích du nhập kỹ thuật mới

Để tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển, Chính phủ Hàn Quốc đã

đề ra nhiều chính sách để tăng nguồn tích lũy, như chính sách thuế, chính sách tiết kiệm và hệ thống tín dụng ngân hàng

- Chính sách lao động, tiền lương: Đứng trước tình trạng thừa lao động, Chính phủ Hàn Quốc rất quan tâm đến chính sách kiềm chế mức tăng dân và giải quyết việc làm bằng cách tạo ra nhiều chỗ làm việc mới Cùng với việc tạo thêm nhiều việc làm mới Chính phủ Hàn Quốc rất qua tâm đến đào tạo nâng cao chất lượng lao động bằng nhiều cách, như: Thi hành chính sách giáo dục bắt buộc; khuyến khích tư bản nước ngoài đầu tư kỹ thuật mới và đào tạo công nhân Về chính sách tiền lương, Chính phủ Hàn Quốc cũng rất chú trọng chính sách tiền lương, đảm bảo tăng cả tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế Mặc dù tốc độ tăng tiền lương khá cao, nhiều khi cao hơn tốc độ tăng năng suất lao động nhưng chế độ tiền lương của Hàn Quốc vẫn có sức hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài bởi giá trị của nó rất thấp

- Chính sách kỹ thuật Để nâng cao trình độ công nghệ, chính phủ Hàn Quốc đã đi theo 3 hướng:

+ Tổ chức lực lượng cán bộ khoa học để nghiên cứu các bằng phát minh của nước ngoài nhập về

+ Tăng cường tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật từ nước ngoài

+ Áp dụng hình thức chuyển giao toàn bộ (cả gói) hay còn gọi là “chìa khóa trao tay”

- Chính sách mở rộng thị trường theo hướng mở rộng thị trường thế giới theo hướng đa dạng hóa, đồng thời chú ý thị trường nội địa

* Malaysia:

Malaysia là nước có nhiều tiềm năng và lợi thế trong phát triển nông nghiệp, nhất là khả năng mở rộng diện tích Malaysia có nhiều loại tài nguyên

Trang 32

phong phú với trữ lượng lớn như thiếc, dầu mỏ khí đốt, quặng sát, đồng, bô xít, cao lanh.v.v

Malaysia dành được độc lập từ một nền kinh tế đặc trưng của một thuộc địa thực dân cũ điển hình Đó là kinh tế phụ thuộc, kém phát triển, cơ cấu ngành què quặt, chuyên cung cấp nông sản và khoáng sản cho các nước công nghiệp phát triển

Là nước xuất phát từ nền nông nghiệp độc canh, hướng về xuất khẩu, công nghiệp chủ yếu là công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến còn rất yếu ớt, chủ yếu là các cơ sở sơ chế nông sản quy mô nhỏ

Những biến đổi về CCKT của Malaysia diễn ra qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn từ 1957 đến những năm 1960 (chiến lược thay thế nhập khẩu) Chiến lược thay thế nhập khẩu của Malaysia là nhằm đa dạng hóa nền kinh tế bằng cách phát triển nông nghiệp và xây dựng các ngành công nghiệp chế biến mới, trong khi vẫn duy trì và mở rộng những ngành truyền thống Trọng tâm của phát triển kinh tế giai đoạn này là đa dạng hóa cơ cấu kinh tế Trong giai đoạn này nông nghiệp là lĩnh vực được chú trọng hàng đầu Trong thời gian từ 1966 – 1970, 26,3% vốn đầu tư của nhà nước dành cho nông nghiệp, trong lúc công nghiệp chỉ được đầu tư 4,3%, vận tải 12,7%, bưu điện 4,6% Đối với sản xuất nông nghiệp tập trung vào những cây trồng nhiệt đới có triển vọng xuất khẩu, như cọ dầu, dứa, hạt tiêu, ca cao

Trong lĩnh vực công nghiệp, công cuộc cải tổ cơ cấu nhằm thay đổi tương quan giữa các ngành khai thác và chế biến, tạo ra những ngành mới có khả năng thay thế nhập khẩu bằng sản phẩm trong nước Chính phủ Malaysia đã

có nhiều chính sách ưu đãi đối với các nhà đầu tư vào những ngành thay thế nhập khẩu, như miễn thuế thu nhập từ 2 – 5 năm cho các doanh nghiệp ở các ngành sản xuất hiện kém phát triển nhưng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế đất nước, có triển vọng thuận lợi để phát triển, đáp ứng những yêu cầu phát

Trang 33

triển xã hội Thời gian miễn thuế phụ thuộc vào quy mô đâu tư, quy mô đầu

tư càng lớn được ưu đãi càng nhiều Nhờ vậy ngành công nghiệp của Malaysia trong thời kỳ 1960 – 1970 tăng từ 5,5 – 10,2%/ năm

Tuy nhiên, xu hướng công nghiệp hóa “thay thế nhập khẩu” chủ yếu là hàng tiêu dùng có nhiều nhược điểm Số ngoại tế tiết kiệm được không nhiều

vì phải phải tăng nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thiết bị, phụ tùng Trong xuất khẩu chủ yếu là nguyên liệu, tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến chưa đáng kể

- Giai đoạn những năm 1970 (chiến lược hướng về xuất khẩu)

Trong giai đoạn này bắt đầu quá trình công nghiệp hóa theo mô hình hướng về xuất khẩu, dẫn đến những thay đổi căn bản trong CCKT và ngoại thương

Chiến lược này được kết hợp trong “chính sách kinh tế mới” mà mục tiêu

là đến năm 1990 tư sản gốc Mã Lai kiểm soát ít nhất 30% hoạt động kinh doanh Biện pháp cốt lõi trong chính sách kinh tế của Malaysia là tiếp tục thu hút vốn đầu tư nước ngoài và kích thích đầu tư đối với tư bản trong nước Chính sách đa dạng hóa cơ cấu sản xuất vẫn tiếp tục đẩy mạnh và có sự thay đổi căn bản là công nghiệp tăng trưởng nhanh và phát triển của nhiều ngành sản xuất mới

Từ những năm 1968 – 1973, với 1/3 vốn đầu tư hướng vào sản xuất hàng xuất khẩu, vì thế hướng xuất khẩu trở nên mạnh hơn nhiều Nếu như đầu thập niên 1970, cao su, gỗ tròn, thiếc là mặt hàng xuất khẩu chủ lực thì đến cuối thập niên, dầu mỏ và các sản phẩm công nghiệp chế biến trở thành mặt hàng chính, chiếm 46% xuất khẩu Sản phẩm xuất khẩu tăng 9,6 lần, còn tỷ trọng trong xuất khẩu từ 11,9% năm 1970 lên 21% năm 1980 Các sản phẩm xuất khẩu mới như điện tử là ngành tăng nhanh nhất, nhóm hàng dệt, may, giày dép đứng thứ 2 trong công nghiệp chế biến.v.v

Trang 34

Nhịp độ phát triển công nghiệp chế biến thời kỳ này đạt mức cao nhất: 12,55%/ năm Tỷ trọng của nó trong GDP tăng từ 13,4% lên 18,6% Trong 10 năm chỉ số phát triển tăng gần gấp 3 lần

Như vậy, sau 2 kế hoạch 5 năm (1971 – 1975 và 1976 – 1980) , cơ cấu kinh tế Malaysia đã có những thay đổi quan trọng Công nghiệp đã trở thành khu vực kinh tế chủ yếu của nền kinh tế Tỷ trọng của nó trong tổng sản phẩm quốc dân tăng từ 19,7% năm 1970 lên tới 23% năm 1980

- Giai đoạn từ những năm 1980 đến nay

Bước sang thập niên 1980, nền kinh tế Malaysia đứng trước đòi hỏi phải

có những chuyển biến mới trong chiến lược phát triển

Về cơ cấu, việc sớm chú trọng nông nghiệp và công nghiệp nhẹ đã góp phần quan trọng vào ổn định xã hội, thu hút lao động và giảm bớt sự phụ thuộc quá mức vào nhập khẩu Chiến lược hướng vào xuất khẩu tiếp tục mở thêm cơ sở công nghiệp, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho dân cư Tuy nhiên, phần lớn hoạt động mới của tư bản tư nhân tập trung vào chế biến nguyên liệu nhập khẩu (hóa chất, dệt, may ), lắp ráp cấu kiện nhập khẩu (điện tử, ô tô ) Điều đó dẫn đến tình trạng phần giá trị gia tăng vẫn chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng sản phẩm Những ngành công nghiệp cơ bản chưa được phát triển đúng mức Trong khi đó nền kinh tế đòi hỏi ngày càng nhiều hóa chất, sắt thép, thiết bị máy móc, vật liệu Cơ cấu kinh tế hình thành vào thập niên 1970 mang tính rời rạc Các ngành sản xuất trong nước ít gắn bó chặt chẽ với nhau mà lại liên kết với chu trình sản xuất của các công ty độc quyền xuyên quốc gia nước ngoài

Vì vậy, đến thập kỷ 1980, Malaysia nhấn mạnh trở lại mô hình công nghiệp hóa “thay thế nhập khẩu”, như là thay thế nhập khẩu một số loại tư liệu sản xuất trong công nghiệp hóa

Chiến lược phát triển kinh tế của Malaysia trong giai đoạn này là xây dựng nền kinh tế dựa trên công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn và kỹ thuật cao

Trang 35

Chủ trương coi trọng hơn công nghiệp nặng của Malaysia trong thập niên

1980 cũng giống như chuyển hướng gần đây của nhiều nước đang phát triển,

từ chiến lược hướng về xuất khẩu sang chiến lược tự cân đối nhằm đảm bảo vững chắc hơn các cân đối cần thiết trong nền kinh tế

Với chiến lược trên, cơ cấu kinh tế của Malaysia đã có sự thay đổi theo hướng tỷ trọng công nghiệp tăng, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần, các ngành dịch vụ ngày càng tăng Cụ thể tỷ trọng công nghiệp tăng từ 19,7% năm 1970 lên 29,3% năm 1985, tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 22,8% năm 1980 xuống 20,3% năm 1985.v.v

Trải qua mấy thập niên phát triển đến nay kinh tế Malaysia đã có nhiều thay đổi quan trọng Những thay đổi trong cơ cấu kinh tế là diễn ra theo hướng đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, phát huy khả năng tiềm tàng của đất nước về khoáng sản phong phú với trữ lượng lớn và ưu thế của nông nghiệp nhiệt đới và giá nhân công thấp so với các nước phát triển Nhờ những biến đổi trong cơ cấu kinh tế đã làm cho công nghiệp trở thành ngành kinh tế chủ yếu, nhiều ngành công nghiệp có trình độ công nghệ cao có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của các nước phát triển

Từ nghiên cứu kinh nghiệm của các nước có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm để vận dụng vào quá trình CDCCKT ở Việt Nam nói chung và huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình nói riêng nhý sau:

- Một là, các nước đều quan tâm xây dựng chiến lược phát triển kinh tế

và có chính sách ưu đãi đối với những ngành cần ưu tiên phát triển phù hợp với từng giai đoạn

- Hai là, để thúc đẩy nhanh quá trình CDCCKT các nước đều quan tâm

phát triển khoa học và công nghệ, trong đó những năm đầu khi nền kinh tế còn kém phát triển thì coi trọng nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài

Trang 36

- Ba là, quan tâm đến chính sách tạo vốn cho đầu tư phát triển các

ngành theo định hướng chiến lược bằng nhiều cách khác nhau

- Bốn là, các nước đều thực hiện chính sách thu hút đầu tư nước ngoài

vào phát triển các ngành trong chiến lược ưu tiên và trong nước chưa có khả năng

- Năm là, quan tâm đến mở rộng thị trường, cả thị trường trong nước và

thị trường nước ngoài

- Sáu là, tăng cường vai trò của nhà nước trong quá trình thực hiện

chiến lược CDCCKT

1.2.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại

Thực hiện định hướng cơ bản trên đây của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sau gần 30 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng sau đây:

Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực Đó là tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm 1995; 24,5% năm 2000 và đến năm 2012

là 21,5% Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%; năm 1995 tăng lên 28,8%; năm 2000: 36,7% và đến năm 2012 tăng lên 40,7% Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, những năm gần đây có xu hướng giảm, năm 1990 là 38,6%; năm 1995: 44,0%; năm 2000: 38,7% và đến năm 2012 là 37,7%

Trang 37

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo

xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ lệ lao động trong các ngành công nghiệp tăng từ 13,1% năm 2000 lên 21,0% năm 2012 và dịch vụ tăng từ 21,8% năm 2000 lên 31% năm 2012, trong khi đó tỷ lệ lao động ngành nông nghiệp ngày càng giảm, từ 65,1% năm 2000 xuống còn 48,0% năm 2012 Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng đã có sự chuyển dịch ngày càng tích cực hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ 17,3% năm 2001 lên 19,3% năm 2007 Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần tuý giảm dần Tỷ lệ hộ nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp) đã giảm 9,87%; tỷ lệ hộ công nghiệp tăng lên 8,78% Năm 2007, số hộ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn có 3,6 triệu

hộ, tăng 62% so với năm 2000

Trong cơ cấu các thành phần kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế

Về cơ cấu vùng kinh tế, trong những năm vừa qua cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế Trên bình diện quốc gia, đã hình thành 6 vùng kinh tế: vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, có 3 vùng kinh tế trọng điểm là vùng động lực cho tăng trưởng kinh

tế cả nước

Trang 38

Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xây dựng các khu công nghiệp tập trung, hình thành các vùng chuyên canh cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, hình thành các vùng sản xuất hàng hoá trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng Điều này tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến, góp phần tạo nên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất hàng hoá, hướng về xuất khẩu

Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội nhập vào kinh tế toàn cầu, thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu/GDP (XK/GDP) ngày càng tăng Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép, hải sản đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới Các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn FDI đã có bước phát triển tích cực, tăng mạnh từ năm 2004 đến nay

Giai đoạn 5 năm 2001-2005, chiếm 1/4 tổng vốn FDI vào Việt Nam trong suốt hơn 20 năm vừa qua

Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đã được triển khai rộng khắp trên nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế Các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều dự án đầu tư ra nước ngoài như khai thác dầu khí, viễn thông, xây dựng, trồng cao su v.v

Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau gần 30 năm đổi mới là một trong những nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất đưa đến các kết quả, thành tựu tăng trưởng kinh tế khả quan, tạo ra những tiền đề vật chất trực tiếp để chúng

ta giữ được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu chi ngân sách, vốn tích luỹ, cán cân thanh toán quốc tế , góp phần bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững Các chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo, chương trình về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -

Trang 39

xã hội cho các vùng khó khăn, các chương trình tín dụng cho người nghèo và chính sách hỗ trợ trực tiếp đã mang lại kết quả rõ rệt Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm

từ 17,2% năm 2006 xuống còn 14,7% năm 2007, và năm 2008 còn 13,1%, đến năm 2013 chỉ còn 7,8%

Tuy nhiên, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công

nghiệp hóa, hiện đại hóa vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế:

So với yêu cầu đặt ra, tốc độ chuyển dịch CCKT còn chậm và chất lượng chưa cao Ngành công nghiệp tuy có tốc độ tăng trưởng cao, nhưng yếu tố hiện đại trong toàn ngành chưa được quan tâm đúng mức, trình độ kỹ thuật công nghệ nhìn chung, vẫn ở mức trung bình Công nghiệp chế biến, đặc biệt

là những ngành công nghệ cao chưa phát triển Tỷ trọng dịch vụ trong GDP giảm liên tục trong những năm gần đây Những ngành dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao như dịch vụ tài chính - tín dụng, dịch vụ tư vấn chậm phát triển Tình trạng độc quyền, dẫn tới giá cả dịch vụ cao, chất lượng dịch vụ thấp còn tồn tại ở nhiều ngành như điện lực, viễn thông, đường sắt Một số ngành có tính chất động lực như giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, tính chất xã hội hoá còn thấp, chủ yếu dựa vào nguồn vốn của Nhà nước

Qua tổng kết thực tiễn CDCCKT ở Việt Nam những năm qua chưa đạt mục tiêu đạt ra, chuyển dịch còn chậm và chất lượng chưa cao là do nhiều nguyên nhân khác nhau Ngoài những nguyên nhân khách quan do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, do phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, thì nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu Đó là:

- Một là, về phía nhà nước việc chỉ đạo các bộ ngành có liên quan

trong việc xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội cũng như từng ngành kinh tế, từng lĩnh vực và từng vùng địa phương còn nhiều hạn chế, yếu kém Nhiều chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được ra

Trang 40

thiếu cơ sở thực hiện, nhiều quy hoạch bị phá vỡ, hoặc quy hoạch tràn lan dẫn đến lãng phí về đất đai, vốn của nhà nước và nhân dân, nhất là quy hoạch các khu công nghiệp, đô thị, sân gôn, cảng biển, sân bay.v.v Đối với nông nghiệp chủ trương quy hoạch 1 triệu ha ở đồng bằng sông Cửu Long và 300 ngàn ha

ở đồng bằng sông Hồng trồng lúa xuất khẩu cho đến nay vẫn chưa thực hiện được.v.v

- Hai là, hệ thống luật pháp, chính sách mặc dầu đã được xây dựng

khá đồng bộ nhưng vẫn còn nhiều bất cập ảnh hưởng đến sự phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực, cũng như từng địa phương theo định hướng CDCCKT Từ đó dẫn đến nhiều hiện tượng sai lầm trong phát triển kinh tế, nhất là gây lãng phí rất lớn vốn nhà nýớc ở các tập ðoàn, tổng công ty nhà nýớc (Vinashin, Vinaline ) Tình trạng vi pháp luật đất đai, khoáng sản, bảo

vệ rừng.v.v đang rất bức xúc hiện nay gây tổn thất rất lớn cho nhà nước, làm tài nguyên bị cạn kiệt và mất cân bằng sinh thái nhưng chưa giải quyết được.v.v

- Ba là, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu

CDCCKT theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở cửa hội nhập kinh

tế thế giới, nhất là hệ thống giao thông, cảng sông, cảng biển Đây là một trong những điểm nghẽn đối với phát triển kinh tế đất nước theo hướng hội nhập hiện nay

- Bốn là, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu

CDCCKT theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở cửa hội nhập kinh

tế thế giới Tình trạng đào tạo chạy theo số lượng, không quan tâm đến chất lượng, đến nhu cầu xã hội đang là phổ biến ở các trường thuộc hệ thống giáo dục đào tạo ở Việt Nam hiện nay Vì vậy, nhiều lĩnh vực đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao phải thuê chuyên gia nước ngoài, lao động trong nước không đảm nhận được Đội ngũ lãnh đạo và quản lý các cấp trong hệ thống

Ngày đăng: 29/08/2017, 09:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w