Trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp đã có bước phát triển khá, mức tăng trưởng bình quân đạt từ 7,5- 8,5%/ năm, trong đó có sự đóng góp của kinh tế hộ nông dân, với các mô hình sản x
Trang 1Đặc biệt tôi bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Trần Văn Dư, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn của mình
Để hoàn thành luận văn, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân huyện Lương Sơn; các Phòng: Tài nguyên - Môi trường, Kinh tế - Hạ tầng; Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Lao động thương binh và xã hội; Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện và nhân dân trong địa bàn huyện đã giúp
đỡ, cung cấp số liệu để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những tình cảm cao quý đó
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Lê Minh Long
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH HỘ NÔNG DÂN SẢN XUẤT KINH DOANH GIỎI 4
1.1 Cơ sở lý luận về mô hình hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi 4
1.1.1 Các khái niệm về mô hình sản xuất, mô hình kinh tế hộ nông dân, mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi 4
1.1.2 Các nhân tố trong mô hình nông dân sản xuất kinh doanh giỏi 8
1.1.3 Phân loại mô hình kinh tế hộ nông dân 9
1.1.4 Đặc trưng, tiêu chí của các hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi 11
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi 13
1.1.6 Vai trò của các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi 17
1.1.7 Xu hướng phát triển các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi 18
1.2 Kinh nghiệm phát triển mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi trên thế giới và ở Việt Nam 19
1.2.1 Tình hình phát triển các mô hình kinh tế nông hộ trên thế giới 19
1.2.2 Thực tiễn phát triển các mô hình kinh tế nông hộ sản xuất kinh doanh giỏi ở Việt Nam 21
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
Trang 32.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Lương Sơn 28
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 28
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội - môi trường 32
2.1.3 Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội đến hiệu quả sử dụng đất bền vững trên của huyện Lương Sơn 40
2.2 Phương pháp nghiên cứu 43
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 43
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 45
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 47
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu 47
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
3.1 Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân ở huyện Lương Sơn giai đoạn 2010 – 2012 50
3.1.1 Tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Lương Sơn 50
3.1.2 Các loại hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi ở Lương Sơn 53
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế hộ nông dân huyện Lương Sơn giai đoạn 2010- 2012 54 3.2.1 Thực trạng về điều kiện sản xuất của hộ nông dân huyện Lương Sơn 54
3.2.2 Thực trạng phát triển sản xuất của hộ nông dân huyện Lương Sơn 58
3.3 Thực trạng kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi huyện Lương Sơn qua kết quả điều tra năm 2013 65
3.3.1 Tình hình cơ bản về chủ nông hộ sản xuất kinh giỏi điều tra 65
3.3.2 Thực trạng các yếu tố sản xuất chủ yếu của các mô hình hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi 67
3.3.3 Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh ở các nông hộ điều tra 75
3.3.4 Phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất, đời sống và cách chi tiêu của hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi 82
3.3.5 Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến kết quả sản xuất kinh doanh của các nhóm hộ 86
3.3.6 Những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế hộ sản xuất kinh doanh giỏi 90
Trang 43.4 Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất
kinh doanh giỏi trên địa bàn huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình 94
3.4.1 Quan điểm phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi 94
3.4.2 Mục tiêu phát triển kinh tế 95
3.4.3 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi huyện Lương Sơn 96
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
1 Kết luận 102
2 Khuyến nghị 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Đặc trưng cơ bản về các hình thức sản xuất của hộ nông dân 12 Bảng 1.2 Tổng hợp tiêu chí danh hiệu hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi các cấp 13 Bảng 2.1 Cơ cấu đất đai của huyện Lương Sơn năm 2012 30 Bảng 2.2 Giá trị sản xuất và Cơ cấu kinh tế của giai đoạn 2010 - 2012 33 Bảng 2.3 Cơ cấu Giá trị sản xuất huyện Lương Sơn giai đoạn 2010 – 2012 34 Bảng 2.4 Giá trị sản xuất và cơ cấu Giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp giai đoạn 2010 - 2012 36 Bảng 2.5 Thực trạng diện tích được tưới tiêu trên địa bàn huyện năm 2012 37 Bảng 2.6 Cơ sở vật chất kỹ thuật điện lực của huyện Lương Sơn năm 2012 38 Bảng 2.7 Dân số, lao động huyện Lương Sơn năm 2011 và 2012 39 Bảng 2.8 Mẫu điều tra hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi theo vùng nghiên cứu 44 Bảng 3.1.Tình hình phát triển các hộ nông dân huyện Lương Sơn giai đoạn
2010 – 2012 52 Bảng 3.2 Tình hình phát triển các mô hình sản xuất kinh doanh giỏi 54 Bảng 3.3 Tình hình nhân khẩu và lao động của huyện Lương Sơn năm 2012 55 Bảng 3.4 Tình hình đất đai của các hộ trên địa bàn huyện Lương Sơn năm 2012 56 Bảng 3.5 Vốn và các nguồn vốn của hộ nông dân huyện Lương Sơn năm 2013 57 Bảng 3.6 Một số chỉ số cơ bản trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Lương Sơn giai đoạn 2010- 2012 58 Bảng 3.7 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chủ yếu huyện Lương Sơn giai đoạn 2010- 2012 60 Bảng 3.8 Tình hình phát triển chăn nuôi trên địa bàn huyện Lương Sơn giai đoạn 2010 – 2012 61 Bảng 3.9 Giá trị sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Lương Sơn 63
Trang 7Bảng 3.10 Một số sản phẩm CN-TTCN và dịch vụ thương mại chủ yếu trên địa bàn huyện năm 2010- 2012 64 Bảng 3.11 Tình hình cơ bản về chủ nông hộ sản xuất kinh doanh giỏi điều tra năm 2013 66 Bảng số 3.12 Tình hình lao động trong hộ nông dân SXKD giỏi 67 Bảng 3.13 Tình hình sử dụng đất đai của các mô hình hộ sản xuất kinh doanh giỏi 69 Bảng 3.14 Tình hình sử dụng vốn của nông hộ sản xuất kinh doanh giỏi 70 Bảng 3.15 Tình hình phương tiện thiết bị của nhóm hộ điều tra năm 2013 72 Bảng 3.16 Các hình thức tiêu thụ sản phẩm của các nông hộ điều tra 74 Bảng 3.17 Chi phí trung gian của nhóm hộ thuần nông sản xuất kinh doanh giỏi huyện Lương Sơn 76 Bảng 3.18 Kết quả sản xuất của các mô hình hộ thuần nông sản xuất kinh doanh giỏi huyện Lương Sơn 77 Bảng 3.19 Thu nhập hỗn hợp của các nhóm hộ thuần nông sản xuất kinh doanh giỏi huyện Lương Sơn 78 Bảng 3.20 Chi phí trung gian của nhóm hộ phi nông nghiệp sản xuất kinh doanh giỏi huyện Lương Sơn năm 2013 79 Bảng: 3.21 Kết qủa sản xuất mô hình hộ phi nông nghiệp sản xuất kinh doanh giỏi 80 Bảng 3.22 Thu nhập hỗn hợp của các hộ phi nông nghiệp sản xuất kinh doanh giỏi huyện Lương Sơn 81 Bảng 3.23 Tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hóa của các mô hình hộ điều tra 82 Bảng 3.24 Một số chỉ tiêu hiệu quả sản xuất của các mô hình hộ sản xuất kinh doanh giỏi 83 Bảng 3.25 Tổng thu, chi tiêu và tích lũy của các nhóm hộ sản xuất kinh doanh giỏi huyện Lương Sơn 86 Bảng 3.26 Ảnh hưởng của vốn và lao động đến tổng thu của các nhóm nông hộ 87
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cơ cấu đất đai của huyện Lương Sơn năm 2012 31 Hình 2.2 Giá trị sản xuất một số ngành của huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 33 Hình 2.3 Cơ cấu kinh tế của huyện Lương Sơn giai đoạn 2010 - 2012 34
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chủ trương và quyết sách nhằm giải phóng hộ nông dân khỏi sự trói buộc của cơ chế cũ, để họ làm chủ quá trình sản xuất kinh doanh của mình, trực tiếp đối mặt với cơ chế thị trường Điều này đã trở thành động lực để khơi dậy những tiềm năng trong mỗi hộ nông dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp làm cho bộ mặt nông thôn trong những năm đổi mới có nhiều khởi sắc Như vậy, kinh tế hộ nông dân ở nước ta đã trải qua nhiều bước thăng trầm để xác lập vai trò là một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp và nông thôn
Trong những năm gần đây, kinh tế hộ gia đình đã phát triển mạnh và có bước đột phá mới với những mô hình, hình thức đa dạng, phù hợp với điều kiện phát triển của địa phương đã đem lại lợi nhuận đáng kể, cải thiện rõ rệt đời sống người dân Thông qua việc phát triển kinh tế hộ gia đình không chỉ giải quyết được công ăn việc làm tại chỗ cho người dân, đem lại lợi ích cả về gia đình, môi trường và trật tự
an toàn xã hội, mà còn làm cho đời sống người dân được nâng lên đáng kể, việc xoá đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng là vấn đề được toàn xã hội quan tâm hiện nay
Lương sơn là huyện trung du miền núi của tỉnh Hòa Bình, nằm giáp ranh thủ
đô Hà Nội, chuỗi đô thị Hòa Lạc – Xuân Mai – Miếu Môn, với các cụm, khu công nghiệp đang hình thành và phát triển là huyện có tốc độ phát triển kinh tế cao trong tỉnh, được tỉnh xác định là huyện trọng điểm về phát triển kinh tế cả về nông lâm nghiệp, công nghiệp và thương mại - dịch vụ Trong lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp đã có bước phát triển khá, mức tăng trưởng bình quân đạt từ 7,5- 8,5%/ năm, trong đó có sự đóng góp của kinh tế hộ nông dân, với các mô hình sản xuất kinh doanh giỏi theo hướng gia trại đem lại lợi nhuận kinh tế cao Tuy vậy các mô hình
hộ sản xuất kinh doanh giỏi làm giàu chưa nhiều Phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi bước đầu đã đạt được nhiều thành công, nhưng việc đánh giá, phân
Trang 10tích và tổng kết nhằm nhân rộng mô hình sản xuất kinh doanh giỏi đang là những vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu, nhằm đưa ra những cơ sơ lý luận và thực tiễn cho phát triển mô hình hộ sản xuất kinh doanh giỏi trong tiến trình xây dựng nông thôn mới, đưa Nghị quyết của Đảng về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
vào cuộc sống trên địa bàn huyện, em chọn đề tài: “Giải pháp phát triển mô hình kinh tế nông hộ sản xuất, kinh doanh giỏi trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” làm luận văn tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn; đánh giá thực trạng phát triển các
mô hình kinh tế hộ nông dân, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển mô hình kinh tế nông hộ sản xuất kinh doanh giỏi; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển được các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi trên địa bàn huyện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Là mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn,
Trang 11thực trạng mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi; một số nhân tố chủ yếu tác động đến sự phát triển mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi Từ đó góp phần phát triển mô hình kinh tế nông hộ sản xuất, kinh doanh giỏi trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
+ Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu phát triển mô hình hộ nông dân
sản xuất, kinh doanh giỏi trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
+ Phạm vi về thời gian: Số liệu phản ánh về tình hình cơ bản của huyện và kết
quả sản xuất của một số cây con chính trong các mô hình hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi điển hình được thu thập từ năm 2010 - 2012 Số liệu khảo sát, điều tra năm 2013
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH
HỘ NÔNG DÂN SẢN XUẤT KINH DOANH GIỎI
1.1 Cơ sở lý luận về mô hình hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi
1.1.1 Các khái niệm về mô hình sản xuất, mô hình kinh tế hộ nông dân, mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi
1.1.1.1 Mô hình sản xuất
Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, ng uồn lực và sức lao động của chính mình
Trong sản xuất, mô hình sản xuất là một trong các nội dung kinh tế của sản xuất, nó thể hiện được sự tác động qua lại của các yếu tố kinh tế, ngoài những yếu
tố kỹ thuật của sản xuất, do đó mô hình sản xuất là hình mẫu trong sản xuất thể hiện
sự kết hợp của các nguồn lực trong điều kiện sản xuất cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích kinh tế
1.1.1.2 Mô hình kinh tế hộ nông dân
Theo giáo sư Frank Ellis Trường Đại học Tổng hợp Cambridge (1998) cho rằng kinh tế hộ nông dân khác những người làm kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường ở 3 yếu tố là đất đai, lao động và vốn “Hộ là cơ sở hoạt động của xã hội giúp cho các tổ chức xác định, đánh giá kinh tế, cùng chung một nguồn vốn, các thành viên cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập, mọi quyết định được được dựa trên những thành viên (người lớn trong hộ) và kinh tế hộ nông dân là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của kinh tế
xã hội Các nguồn lực đất đai, tư liệu sản xuất, vốn, lao động được góp chung, chung một ngân sách, ngủ chung một mái nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống đều do chủ hộ phát ra”[4]
Như vậy mô hình kinh tế hộ nông dân là hình mẫu sản xuất của nông dân sử dụng những tư liệu sản xuất và sức lao động của gia đánh đề sản xuất ra các sản
Trang 13phẩm nông nghiệp dùng trong tiêu dùng cho gia đình và cho tiêu dùng xã hội
1.1.1.3 Mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi
Mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi là mô phỏng sự kết hợp các nguồn lực bố trí sản xuất một cách hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Chủ
hộ đưa ra quyết định lựa chọn về cơ cấu sản xuất, về các loại mô hình sản xuất cũng như việc đầu tư các yếu tố sản xuất hợp lý để sản xuất ra những sản phẩm không chỉ đáp ứng cho tiêu dùng gia đình mà còn có giá trị trao đổi, sản phẩm mang tính hàng hoá, giá trị kinh tế cao, đa dạng với các sản phẩm tươi, sản phẩm khô, sản phẩm chế biến trên thị trường và xuất khẩu Nhằm đem lại thu nhập cũng như hiệu quả kinh
tế cao nhất.[1]
Kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi là mô hình cơ bản trong phát nông nghiệp, nông thôn Các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi phải được chú trọng và phát triển hơn nữa cả về quy mô, năng suất, sản lượng, chất lượng, có cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý trong một tổng thể thống nhất Những điển hình sản xuất giỏi này là cơ sở để nhân rộng, phát triển được các mô hình hộ nông dân khác học hỏi kinh nghiệm làm giàu theo, giúp cho kinh tế hộ ngày một phát triển và đi lên
Nước ta có trên 13 triệu hộ nông dân, lực lượng này là nền tảng của nền kinh
tế, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, giữ vững an ninh chính trị – xã hội Các
mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi có thể thấy trên các vùng của
cả nước như sau:
Mô hình sản xuất chuyên canh trong nông nghiệp
Chuyên chăn nuôi: Bò sữa; cá, tôm, cua; hươu, trăn, rắn mô hình này đang
phát triển mạnh ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH), ven biển miền Trung
Chuyên trồng trọt: Chè, cà phê, cao su mô hình này chủ yếu ở Trung du miền
Núi phía Bắc, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ Đây là mô hình các hộ kinh tế làm vệ tinh nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến
Trang 14Mô hình hộ gia đình chuyên canh nông nghiệp phù hợp và phổ biến ở gần các đô thị, doanh nghiệp (cao su, chè, cà phê, bông, mía đường hoặc xí nghiệp chế biến giấy) Mô hình kinh tế hộ loại này thường có quy mô lớn, khối lượng hàng hóa nhiều, cho thu nhập ổn định, đời sống người dân được cải thiện Tuy nhiên, dễ gặp rủi ro do giá cả biến động theo thị trường, ảnh hưởng nhiều bởi thời tiết, khí hậu
Mô hình sản xuất lúa nước – nuôi cá nước ngọt – chăn nuôi gia cầm
Phát triển chủ yếu ở vùng ĐBSH và ĐBSCL, các tỉnh vùng trũng trồng một
vụ lúa không chắc ăn Mô hình này thực sự có hiệu quả Doanh thu nhiều hộ hàng năm đạt hàng trăm triệu đồng, thu nhập đạt hàng chục triệu đồng Đây là những nông hộ cung cấp lượng nông sản hàng hóa lớn cho xuất khẩu, tuy nhiên những vấn
đề như dịch bệnh, giá cả bấp bênh và thiếu thông tin về thị trường có ảnh hưởng lớn đến sự bền vững của mô hình
Mô hình hộ liên kết chăn nuôi lợn theo phương thức bán công nghiệp – thâm canh lúa, màu
Mô hình này đã và đang phát triển có hiệu quả ở đồng bằng sông Hồng… Loại mô hình này cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các hộ, giữa hộ với các chủ thể thu gom, chế biến, xuất khẩu Để mô hình phát triển cần đảm bảo quy trình kỹ thuật chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh, chuồng trại hiện đại; có giống lợn và giống lúa tốt Bên cạnh đó các chủ hộ cũng cần xác định quy mô hợp lý, chủ động nguồn thức ăn
và nắm chắc thông tin thị trường tiêu thụ
Mô hình sản xuất cây giống (cây trồng nông, lâm nghiệp), vật nuôi (lợn giống, gia cầm giống và các giống vật nuôi thủy đặc sản)
Đây là mô hình phát triển sản xuất giống cây trồng ở trung du miền núi (giống cà phê, cao su, chè, cây ăn quả các loại); giống vật nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, ven biển (giống tôm, cua, cá ba ba) Mô hình này rất hấp dẫn về các loại giống mới, đặc sản, giống sạch, có chất lượng và sản lượng cao, có giá trị trên thị trường trong nước và xuất khẩu Mô hình này cho lãi cao nhưng chủ hộ phải có vốn lớn, nắm vững khoa học và công nghệ (KH&CN), việc nhân rộng không dễ
Trang 15Mô hình nuôi bò sữa – chế biến – tiêu thụ tại chỗ
Mô hình này được phát triển ở ngoại thành Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hoặc các vùng có khí hậu thuận lợi như Mộc Châu (Sơn La), Vĩnh Phúc, Lâm Đồng Nếu chế biến và marketing tốt, có trang thiết bị hiện đại, tổ chức quản lý tốt, đảm bảo vệ sinh an toàn thì mô hình này sẽ đạt hiệu quả và phát triển bền vững Tuy nhiên, hiện nay mô hình này đang gặp khó khăn do giá cả biến động theo chiều không có lợi cho nông dân
Mô hình chuyên canh rau, hoa, quả xuất khẩu dịch vụ thương mại tại nhà
Mô hình này đang phát triển mạnh tại vùng ven thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), vùng có khí hậu á nhiệt đới: Sa pa (Lao Cai), Lạng Sơn, Cao Bằng, Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Lục Ngạn (Bắc Giang ) Để mô hình này phát triển, các hộ cần nâng cao hơn nữa chất lượng, hình thức, khả năng bảo quản và uy tín trên thị trường
Mô hình nông – lâm kết hợp
Loại mô hình này được phát triển rộng rãi ở vùng trung du và miền núi Cây trồng gồm: Cây rừng, đỗ đậu, cây ăn quả, cây dược liệu, cây công nghiệp, cây đặc sản Vật nuôi gồm trâu, bò, lợn, dê, gia cầm, chim, thú rừng…Hoạt động lâm nghiệp gồm: Bảo vệ, khai thác, trồng, sơ chế, chăm sóc, cải tạo rừng… Phương thức canh tác đặc trưng là canh tác trên đất dốc
Hiện nay, một số nơi đã xuất hiện các nghề như dịch vụ du lịch sinh thái, sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu Mô hình này còn khó khăn về vốn, khả năng ứng dụng KH&CN, hạ tầng cơ sở…
Mô hình sản xuất nông nghiệp kiêm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
Mô hình này thường hoạt động thành làng, gần đây có nơi đã phát triển thành quy mô nhiều làng, xã Dù hoạt động tiểu thủ công nghiệp có phát triển, nhưng đa phần các hộ gia đình đều không quên giữ đất để sản xuất và chăn nuôi nhằm tự túc lương thực, thực phẩm Mô hình này đang có những tồn tại về mặt bằng sản xuất, gây ô nhiễm môi trường, rất cần có quy hoạch lại
Trang 16Mô hình sản xuất – kinh doanh tổng hợp
Mô hình này hình thành ở các thị tam, thị tứ hoặc các trung tâm cụm xã theo đầu mối giao thông Sản xuất nông lâm nghiệp – kinh doanh tổng hợp là mô hình kinh tế hộ ngày càng có hiệu quả ở nhiều địa phương, nhất là ở các tỉnh trung du, miền núi
Xu hướng phát triển các hộ gia đình này sẽ thành các trang trại gia đình hoặc doanh nghiệp tư nhân Đồng thời với quy mô và có vốn lớn, các hộ này còn kinh doanh phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng hoặc thu gom, chế biến sản phẩm
Qua 9 loại mô hình kinh tế hộ gia đình hiện đang nổi lên ở mỗi vùng kinh tế sinh thái, với từng loại cây trồng, vật nuôi và thị trường, nhìn chung các hộ gia đình sản xuất kinh – doanh tổng hợp (gồm cả sản xuất – chế biến – tiêu thụ – dịch vụ đầu vào); hộ gia đình nông – lâm nghiệp kết hợp (gồm cả trồng trọt nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc – thủy sản) đang được phát triển Hướng phát triển các hộ này là tiến tới tích tụ ruộng, đất, vốn để hình thành các trang trại, các doanh nghiệp
tư nhân đủ sức, đủ lực để hợp tác, liên kết, liên doanh, hợp tác với các thành phần kinh tế khác, với các tổ chức/cá nhân đầu tư vốn, KH&CN để sản xuất theo hướng thâm canh, đa canh và đa dạng nguồn thu nhập Các hộ gia đình sản xuất kinh doanh cây/con đặc sản đang có cơ hội thị trường trong nước và xuất khẩu.[3]
1.1.2 Các nhân tố trong mô hình nông dân sản xuất kinh doanh giỏi
1.1.2.1 Chủ thể sản xuất
Chủ thể các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi nói riêng là một chỉnh thể thống nhất, mọi tác động vào mô hình đều có xu hướng tập chung vào chủ thể sản xuất Do vậy, chủ thể sản xuất là bộ phận chính giữ vai trò chủ đạo trong tất cả các hoạt động của mô hình Chủ thể trong các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi là các chủ hộ, nông trại, chủ trang trại và các thành viên làm việc trong các nông hộ, nông trại và trang trại đó Chủ thể là người trực tiếp điều tiết các hoạt động sản xuất và ra các quyết định của mô hình Mô hình sản xuất có thể có một hoặc một số chủ thể, các chủ thể xắp xếp theo một cơ cấu nhất
Trang 17định Cơ cấu này càng hợp lý bao nhiêu thì càng tạo điều kiện để cho hoạt động sản xuất của mô hình đạt được hiệu quả bấy nhiêu Ngược lại, nếu cơ cấu này không hợp lý sẽ cản trở sự phát triển của mô hình
1.1.2.2 Khách thể sản xuất
Khách thể sản xuất là đối tượng tiếp nhận hành động của chủ thể Khách thể
có tác động trở lại đối với chủ thể Tuy tồn tại một cách độc lập với chủ thể nhưng khách thể có tác động nhất định đối với sự tồn tại và phát triển của mô hình Mức
độ tác động của khách thể đối với chủ thể là tuỳ thuộc vào mối quan hệ, mức độ lợi dụng, trình độ cải biến của chủ thể với khách thể Khách thể là nơi trực tiếp làm ra các sản phẩm Mức độ hoàn thiện của khách thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực, tậm chí còn làm thay đổi cả hoạt động của chủ thể Khách thể của mô hình kinh tế
hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi là hệ thống các tư liệu lao động và đối tượng lao động các tư liệu lao động như công cụ sản xuất; thức ăn cho gia súc, gia cầm, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y Đối tượng lao động gồm cây trồng và vật nuôi như lúa, ngô, khoai, gia súc, gia cầm
1.1.3 Phân loại mô hình kinh tế hộ nông dân
Hộ nông dân bao gồm hộ thuần nông và hộ phi nông nghiệp trong nông thôn
Mô hình hộ nông dân được phận loại theo các tiêu chí như: Tính chất của ngành nghề, theo điều kiện kinh tế và theo mục tiêu và cơ chế hoạt động
- Phân theo ngành nghề gồm có hộ thuần nông, hộ nông nghiệp kiêm ngành
nghề và hộ nông nghiệp kiêm buôn bán- dịch vụ
Hộ thuần nông là hộ chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp như sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản
Hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề: sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản - chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp,
Hộ nông nghiệp kiêm buôn bán- dịch vụ: sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và
nuôi trồng thủy sản - dịch vụ nông nghiệp, tiêu thụ sản phẩm
- Phân theo mục tiêu và phương thức hoạt động của hộ, có hộ nông dân
hoàn toàn tự cấp và hộ sản xuất hàng hóa
Trang 18+ Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp
Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm cần thiết để tiêu dùng trong gia đình Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông
hộ phải hoạt động cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự cấp tự túc cho sinh hoạt và không gắn với thị trường
+ Hộ nông dân sản xuất hàng hóa chủ yếu
Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ
có phản ứng gay gắt với thị trường vốn, ruộng đất, lao động
Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho phép, vì vậy sản xuất công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hóa Từ đó làm cho lao động nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hoặc làm cho đối tượng phi nông nghiệp tăng lên [2]
- Phân theo mức thu nhập của nông hộ gồm có: hộ giầu; hộ khá; hộ trung
bình; hộ nghèo; hộ đói
Sự phân biệt này dựa vào quy định chung của cả nước hoặc quy định của địa phương Trong luận văn này để đơn giản cho việc phân loại mô hình hộ hộ nông dân theo thu nhập, tôi chia thành 3 nhóm (giàu, khá; trung bình và nghèo) Tiêu chí phân loại hộ giàu, trung bình và nghèo dựa trên cơ sở Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/1/2011của Thủ tướng Chính phủ về việc chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 -2015 [ 16]
Mô hình kinh tế hộ nông dân: Nông hộ sử dụng tư liệu sản xuất ra nông sản phẩm dùng trong tiêu dùng gia đình và cho tiêu dùng xã hội, mức độ sản xuất hàng hoá thấp
Mô hình kinh tế trang trại: Nông hộ sử dụng tư liệu sản xuất, sức lao động gia đình và đi thuê để sản xuất ra nông sản phẩm hàng hoá nhằm đáp ứng với yêu cầu tiêu dùng của gia đình, của xã hội và xuất khẩu, mức độ sản xuất hàng hoá cao Như vậy, trên cơ sở khoa học theo quan điểm hệ thống và định hướng phát
Trang 19triển các mô hình kinh tế ở các đơn vị kinh tế cơ sở, các ngành, các địa phương để lựa chọn mô hình sản xuất cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cụ thể của mình
1.1.4 Đặc trưng, tiêu chí của các hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi
1.1.4.1 Đặc trưng của các hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi
Qua nghiên cứu phát triển hộ nông dân cho thấy, trong nông thôn vẫn còn tồn tại nhiều loại hình nông hộ ở các mức độ khác nhau: hộ tự cấp, hộ nửa tự cấp, và
hộ sản xuất hàng hoá (hàng hoá nhỏ, hàng hoá trung bình, hàng hoá lớn) Kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi là những hộ sản xuất hàng hoá lớn, được thể hiện bởi những đặc trưng với mức độ cao hơn những loại hộ khác như:
Mục đích sản xuất chủ yếu của hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi là nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá với qui mô lớn, bên cạnh đó, hộ nông dân còn có thể kết hợp việc sản xuất kinh doanh ngành nghề dịch vụ nông nghiệp để đem lại thu nhập cũng như hiệu quả kinh tế cao nhất cho hộ, những hộ nông dân phát triển sản xuất như thế sẽ tổ chức theo mô hình trang trại
Mức độ tập trung và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất cao hơn hẳn so với sản xuất của nông hộ tự cấp, nửa tự cấp
Chủ hộ có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất, nhạy bén trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất có hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội hẳn so với hộ nông dân tự cấp, nửa tự cấp.[2] Trong một số trường hợp trình bày trên đây, đã chỉ ra những đặc trưng, tính chất để giúp xác định rõ hơn khái niệm về hộ nông dân làm giàu Như vậy có thể thấy trong giai đoạn hiện nay, phát triển kinh tế hộ nông dân được thể hiện ở các mức độ khác nhau về qui mô sản xuất như hộ tự cấp, hộ nửa tự cấp, hộ hàng hoá lớn Theo Đỗ Kim Chung, đặc trưng cơ bản về các hình thức sản xuất của hộ nông dân được thể hiện qua bảng 1.1
Kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi là một cấp độ trong quá trình phát triển của kinh tế hộ từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá, nhưng
Trang 20phát triển ở mức độ cao hơn
Bảng 1.1 Đặc trưng cơ bản về các hình thức sản xuất của hộ nông dân
TT Tiêu chí Hộ tự cấp Hộ nửa tự cấp Hộ hàng hóa lớn
(hộ giàu)
1 Mục đích sản xuất Tiêu dùng Tiêu dùng, bán Chủ yếu để bán
6 Phân loại thu nhập Trung bình và nghèo Khá Giàu
Qui mô sản xuất hàng hoá được thể hiện qua tỷ xuất hàng hoá, là một trong những đặc trưng cơ bản của những hộ nông dân làm giàu Kinh tế hộ nông dân làm giàu thực hiện hoạt động sản xuất với qui mô lớn nhờ sự tập trung cao hơn với mức bình quân chung của kinh tế hộ tự cấp, tự túc ở từng vùng về các nguồn lực và điều kiện sản xuất Qui mô của kinh tế hộ nông dân làm giàu lớn hơn nhiều so với mức bình quân của các hộ tiểu nông khác không chỉ được thể hiện bằng quy mô của các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn ) mà cả qui mô về thu nhập Vì mục đích sản xuất của nông hộ giàu là sản xuất hàng hóa với quy mô lớn nên thường phát triển sản xuất theo hướng chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp nhằm tận dụng tối đa ưu thế của vùng và tránh rủi ro Nhu cầu và khả năng áp dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật vào sản xuất của nông hộ giàu lớn hơn các nông hộ tiểu nông nhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và hiệu quả thu được ngày càng cao hơn.[3]
1.1.4.2 Tiêu chí hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi
Để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói, giảm nghèo và làm giàu; phấn đấu đưa phong trào có bước phát triển mới về chất, xuất hiện ngày càng nhiều hộ
Trang 21nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi với các tố chất mới, đáp ứng khả năng cạnh tranh hàng hoá trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế; đoàn kết, chia sẻ kinh nghiệm giúp nhau cùng làm giàu; tạo thêm được nhiều việc làm cho người lao động ở nông thôn, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp –nông thôn Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam quy định tiêu chuẩn hộ nông dân đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi giai đoạn 2011-2016
Theo quy định 18-QĐ/TWHND của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, tiêu chuẩn hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi phải là hộ nông dân sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, đã đăng ký danh hiệu sản xuất kinh doanh giỏi do Hội Nông dân các cấp phát động đạt tiêu chuẩn ngoài các tiêu chuẩn chung, hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi phải đạt các tiêu chí cụ thể theo từng đối tượng: I, II và III
Bảng 1.2 Tổng hợp tiêu chí danh hiệu hộ nông dân
sản xuất kinh doanh giỏi các cấp
(Nguồn: Quy định 18-QĐ/TWHND của BCH Trung ương Hội Nông dân Việt Nam) 1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi
1.1.5.1 Yếu tố thị trường
Thị trường là yếu tố tác động quan trọng trong quá trình sản xuất của hộ Sản xuất những gì, nuôi cây, con gì Phụ thuộc chủ yếu vào giá cả trên thị trường, nhu cầu thị hiếu trên thị trường những sản phẩm nào được giá, thị trường ưa chuộng thì
Trang 22các hộ nông dân chú ý phát triển Vì vậy, nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất với số lượng hàng hoá bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng nào Thực tế cho thấy vùng nào có thị trường thuận lợi nơi đó sản xuất hàng hoá phát triển
1.1.5.2 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý và đất đai
Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đến sự phát triển kinh tế hộ nông dân Các nông hộ gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần trung tâm sẽ có điều kiện phát triển sản xuất giao lưu hàng hoá hơn
Bên cạnh đó thì qui mô đất đai, địa hình và tính chất nông hoá thổ nhưỡng có liên hệ mật thiết tới từng loại nông sản phẩm, tới số lượng và chất lượng của sản phẩm sản xuất ra, tới giá trị sản phẩm và lợi nhuận thu được
* Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái
Thực tế cho thấy những nơi có điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi được thiên nhiên ưu đãi sẽ hạn chế được những bất lợi, những rủi ro do thiên nhiên gây ra và
có cơ hội để phát triển nông nghiệp, tăng lượng nông sản hàng hoá của các hộ nông dân
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nhất là nguồn nước, không khí Nên môi trường sinh thái thuận lợi thì cây trồng, gia súc phát triển tốt, cho năng suất sản phẩm cao Nếu môi trường sinh thái không phù hợp thì sẽ có những tác động ngược lại
1.1.5.3 Nhóm yếu tố về kinh tế và tổ chức quản lý
Người lao động phải có trình độ và kỹ năng lao động để tiếp thu khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong sản xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn, cũng như kinh nghiệm sản xuất của người chủ hộ có vị trí quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công
và thất bại trong sản xuất của chủ hộ
Vốn là điều kiện không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh Nó là
Trang 23một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Nó là một trong những yếu tố quyết định sự hình thành hộ sản xuất hàng hoá Khi có qui mô vốn đủ lớn thì kinh tế hộ tự cấp, tự túc mới chuyển thành hộ hàng hoá lớn, đồng thời sẽ phát triển ở mức độ cao hơn đó là các trang trại gia đình
Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: giao thông thuỷ lợi, điện lưới, điện thoại, trang thiết bị…Đây là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất hàng hoá của hộ
1.1.5.4 Nhóm yếu tố về khoa học kỹ thuật và công nghệ
* Yếu tố kỹ thuật canh tác
Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh
tế hộ nông dân làm giàu
* Yếu tố ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
Qua nghiên cứu cho thấy những hộ nhạy cảm với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, họ giàu lên rất nhanh Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao động, đất đai, máy móc được kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm Như vậy, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, thậm trí có thể làm thay đổi trình độ sản xuất của một vùng Bên cạnh đó thì việc ứng dụng tốt sẽ tạo ra sản phẩm cây trồng, vật nuôi đa dạng và cho hiệu quả cao
1.1.5.5 Nhóm yếu tố thuộc về quản lý vĩ mô của Nhà nước
Ngành nông nghiệp là một bộ phận cấu thành nên nền kinh tế quốc dân được vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
Chính phủ quản lý vĩ mô ngành nông nghiệp bằng cách định ra các mục tiêu chung của nền kinh tế, hệ thống công cụ quản lý nhà nước là toàn bộ phương tiện được nhà nước sử dụng để tác động vào sản xuất kinh doanh nông sản nhằm thúc đẩy phát triển theo hướng nhất định
Trang 24Hệ thống công cụ chính sách kinh tế giúp nhà nước điều khiển hoạt động của các chủ thể kinh tế (doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nông dân ) Nhờ các chính sách kinh
tế mà các chủ thể kinh tế trong ngành nông nghiệp đã hành động phù hợp với lợi ích chung của xã hội, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm nông nghiệp
Nhóm nhân tố này bao gồm chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước như: chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ giá nông sản phẩm, miễn thuế cho sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm, chính sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới Các chính sách này có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế nông hộ và là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp có hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ nông dân phát triển kinh tế [16]
Ngoài ra có thể phân các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ về mặt chủ quan và về mặt khách quan
Về mặt chủ quan đó là: Quy mô về diện tích ruộng đất Diện tích ruộng đất
có su hướng tăng lên do tích tụ ruộng đất theo hướng dồn điền đổi thửa và khuyến khích những hộ giỏi nghề nông làm nghề nông, những người không giỏi nghề nông được chuyển sang các nghề sản xuất phi nông nghiệp; Có sự tác động tích cực và phù hợp trong các chính sách của nhà nước; Có sự phát triển nhất định của cơ sở hạ tầng; Sự hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa; Công nghiệp chế biến; Quá trình hợp tác, liên doanh, liên kết và sự hoạt động của hệ thống khuyến nông từ Trung ương tới cơ sở
Về Nhóm nhân tố chủ quan: Kinh nghiệm sản xuất của người lao động cùng với trình độ học vấn, kỹ năng của họ; Vốn tích tụ được và mức độ trang bị tư liệu sản xuất của các hộ nông dân cũng sẽ quyết định sự thuận lợi hay không trong việc đầu tư sản xuất, chuyển dịch nhanh hay chậm trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hóa
Tóm lại, từ các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân, có thể khẳng định: hộ nông dân sản xuất tự cấp tự túc, muốn phát triển kinh tế cần phải phá
Trang 25vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất với quy mô lớn và chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất
để kinh tế hộ nông dân hoạt động có hiệu quả
1.1.6 Vai trò của các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi
Vai trò kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi trước hết được kể đến
từ vai trò kinh tế hộ nông dân nói chung, từ đó được mở rộng và tăng thêm khi đã trở thành những nông hộ giàu có
Phân tích kết cấu xã hội nông dân nước Nga, Lênin đã lưu ý rằng hộ khai thác triệt để năng lực sản xuất để đáp ứng nhu cầu đa dạng của gia đình và xã hội Lênin coi trọng vai trò kinh tế hộ nông dân thể hiện trong cương lĩnh ruộng đất lần thứ 2 bàn về “chế độ hợp tác”, đặc biệt sau này trong chính sách “kinh tế mới” và nhiều tác phẩm khác [20] Khi tổng kết kinh nghiệm của mô hình trang trại gia đình
ở Mỹ, Italya, Anh, Hà Lan Traianop đã chứng minh sức sống của “kinh tế hộ”, của “kinh tế lao động trên mảnh đất gia đình”
Ở Việt Nam, trải qua những biến động thăng trầm của kinh tế hộ, vị trí, vai trò của nó ngày càng được khẳng định Vai trò kinh tế hộ gia đình đã được Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, chỉ rõ: “Phát huy hơn nữa tiềm năng to lớn và vị trí quan trọng, lâu dài của kinh tế hộ gia đình” [19] nghị quyết 06 NQ/TƯ ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, một lần nữa khẳng định “ Kinh tế hộ gia đình ở nông thôn là loại hình tổ chức sản xuất có hiệu quả về kinh tế - xã hội, tồn tại, phát triển lâu dài, có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và quá trình công nghiệp hoá, hiện đối hoá nông nghiệp, nông thôn " [19]
Từ những căn cứ lý luận và thực tiễn nêu trên, có thể thấy vai trò của kinh tế
hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi được biểu hiện cả về kinh tế và xã hội, rộng hơn nữa còn cả về bảo vệ, phát triển tài nguyên môi trường
Về mặt kinh tế, hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, manh mún, tạo nên những vùng chuyên môn
Trang 26hoá, tập trung hàng hoá và thâm canh cao Mặt khác thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất nông thôn
Như vậy, phát triển các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi không chỉ đem lại cuộc sống ấm no, về vật chất, tinh thần cho từng gia đình mà còn có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của toàn bộ khu vực nông thôn rộng lớn, động thời mở rộng ảnh hưởng đối với toàn xã hội Vai trò tích cực và quan trọng của các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi được thể hiện rõ nét cả về mặt kinh tế - xã hội - môi trường, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh[15]
1.1.7 Xu hướng phát triển các mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi
Sự phát triển kinh tế nông hộ có tính phổ biến không chỉ ở nước ta mà ngay
cả những nước đã và đang phát triển trên thế giới đều vận động theo xu hướng này
Đối với hộ sản xuất, kinh doanh nông nghiệp Phát triển kinh tế hộ sản xuất hàng hoá là loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao
Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, kinh tế hộ sản xuất hàng hoá nói chung và kinh
tế hộ nông dân nói riêng đã có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaixia và đang tiếp tục phát triển hay tác dụng ở nền kinh tế thị trường phát triển cao như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản
Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá, số lượng nông trại nhiều qui mô nhỏ Khi công nghiệp phát triển đạt trình độ cao thì số lượng nông trại giảm, qui mô tăng Kinh tế nông trại, trang trại phát triển theo hướng kinh doanh tổng hợp, sau đó từng bước đi vào sản xuất tập trung chuyên canh
Đối với nước ta, thời kỳ đổi mới kinh tế, từ năm 1988 đến nay kinh tế hộ nông dân đã có tiền đề cơ bản để trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ, ngày càng có nhiều hộ nông dân thoát khỏi tình trạng thuần nông, tự cung tự cấp tiến lên sản xuất hàng hoá Trong nông nghiệp, hình thức kinh tế nông trại cũng đã xuất hiện, nhất là tại các vùng đồi núi, nơi có điều kiện mở rộng qui mô ruộng đất và tại những nơi
Trang 27vùng đồng bằng, gần đô thị qui mô kinh tế của số hộ này đã tăng nhanh [12]
* Phát triển ngành nghề
Những hộ có kinh nghiệm truyền thống, có kỹ thuật tinh sảo sẽ chuyển sang làm nghề chuyên như làm đồ gốm sứ, đan lát, thủ công mỹ nghệ, khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, thủ công mỹ nghệ, chế biến nông lâm thuỷ sản như chế biến bảo quản lương thực, chế biến thực phẩm như chè, thịt, rau, quả, chế biến thức ăn chăn nuôi, gỗ và các lâm sản khác phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu Đây là mầm mống của những hộ hoặc những nhóm hộ sẽ phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp nông thôn[6]
1.2 Kinh nghiệm phát triển mô hình kinh tế hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình phát triển các mô hình kinh tế nông hộ trên thế giới
Ở Châu Á kinh tế nông hộ cũng tồn tại phổ biến khắp các nước, giữ vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế So với các nước châu Âu và Mỹ thì kinh tế nông
hộ ở Châu Á qui mô nhỏ hơn vì mật độ dân cư đông, diện tích đất có hạn, bình quân 1-2 ha/hộ nhưng vẫn đảm bảo năng suất cao nhờ nhạy bén với thị trường và tài nghệ trong chăm sóc và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất
Trung Quốc, từ năm 1982 đã nhanh chóng thực hiện chế độ khoán đến từng
hộ Năm 1984, nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân Đồng thời Chính phủ đưa ra chính sách khuyến khích tích cực việc mở mang ngành nghề
Trang 28dịch vụ, khuyến khích sản xuất hàng hoá và khuyến khích các thành phần kinh tế trong nông thôn cùng phát triển Cải cách giá cả thu mua nông sản theo hình thức
“cánh kéo giá cả hợp lý” để bảo trợ sản xuất và thu nhập của nông dân Đẩy mạnh phát triển các xí nghiệp hương trấn với ngành nghề chính như gia công nông phẩm, phát triển công nghiệp, dịch vụ trên cơ sở “li nông bất li hương”, lấy công bù lương
đã tạo điều kiện cho phát triển sản xuất nông nghiệp, hiện đại hoá nông nghiệp và thu hút được số lao động dư thừa trong nông nghiệp Một trong những thành công chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân đó là “kế hoạch đốm lửa” Năm 1985
cả nước có 25 triệu hộ trong tổng số 180 triệu nông hộ, tỷ trọng sản phẩm hàng hoá của các hộ chuyên chiếm tới 50% tổng sản phẩm Chỉ sau 10 năm thực hiện cải cách, bộ mặt nông thôn Trung Quốc đã thay đổi nhanh chóng, bình quân hàng năm giá trị sản lượng trồng trọt tăng 4,6%, chăn nuôi tăng 9%, thu nhập bình quân 1 người dân tăng 10,7% qui mô xí nghiệp hương trấn ngày càng được mở rộng Năm
1978 có 1.524 triệu xí nghiệp hương trấn, năm 1991 có 1.908 triệu xí nghiệp với tổng giá trị sản phẩm là 846,1 tỷ nhân dân tệ, giải quyết việc làm cho 20% lao động
ở nông thôn
Hàn Quốc, số lượng nông trại có xu hướng giảm hàng năm 0,7%, lao động nông nghiệp giảm 0,5%/năm Diện tích bình quân mỗi nông trại có xu hướng tăng 0,9%/năm, qui mô sản xuất mỗi nông trại nhỏ chủ yếu dưới 0,5 ha Chính vì điều kiện đất đai nhỏ hẹp như vậy các nông trại ở đây có xu hướng hợp tác với nhau hình thành các tổ hợp tác xã theo ba cấp: toàn quốc, tỉnh thành phố và xã Đến nay, trong toàn quốc có 1.470 hợp tác xã nông nghiệp đa ngành ở cơ sở với 2,1 triệu hộ
xã viên, thu hút gần 100 % nông trại gia đình Chức năng của hợp tác xã là cung cấp vật tư, thiết bị kỹ thuật nông nghiệp và hàng tiêu dùng cho các hộ dân, chế biến
và tiêu thụ nông sản, đảm bảo dịch vụ tín dụng cho nông dân, bảo hiểm các hoạt động sản xuất kinh doanh, hướng dẫn kỹ thuật nông nghiệp
Thái Lan, từ 1963 đến 1988 xu hướng các nông trại mỗi năm tăng 2%, nên lao động nông nghiệp mỗi năm cũng tăng 2%, diện tích bình quân mỗi nông trại tăng 1% Sản phẩm nông nghiệp Thái Lan được nhiều nước ưa chuộng như gạo, sắn,
Trang 29cao su, đường nhất là mặt hàng rau quả, cây cảnh Chính phủ Thái Lan có các chính sách thoả đáng khuyến khích các nông trại gia đình sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển kịp thời công nghệ chế biến nông sản, gắn nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong quá trình thực hiện chính sách công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn
Ấn Độ là một nước đông dân đứng thứ 2 thế giới sau Trung Quốc, lực lượng lao động là 214,6 triệu người Ruộng đất bình quân 1953 là 3,01ha/hộ đến 1985 là 1,68 ha/hộ Số lượng nông trại có xu hướng mỗi năm tăng 2,5%, lao động nông nghiệp tăng 2%, diện tích bình quân có xu hướng giảm 2,1% mỗi năm Qui mô sản xuất dưới 1 ha của các nông hộ có xu hướng tăng lên và trên 1 ha có xu hướng ngày càng giảm Kinh tế nông hộ ở Ấn Độ đã có những thành tựu phản ánh sự nhảy vọt trong lĩnh vực trồng trọt “cách mạng xanh” và phản ánh sự nhảy vọt về chăn nuôi
“cách mạng trắng”, tạo ra nhiều hàng hoá nông nghiệp cho nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu Có được kết quả trong nông nghiệp chính là nhờ chính phủ Ấn
Độ đã có nhận thức đúng về vai trò của kinh tế nông hộ và ban hành một số chính sách đúng đắn kịp thời về vốn,khoa học công nghiệp, giáo dục, thuế, lãi suất cho vay nông nghiệp nông thôn Từ thực tế phát triển kinh tế nông trại của một số nước trên thế giới, với trình độ phát triển, chế độ chính sách khác nhau cho thấy:
Ở các nước đang phát triển, kinh tế nông nghiệp gia đình ở dạng kinh tế nông
hộ tự cấp, tự túc còn chiếm một bộ phận quan trọng bộ phận kinh tế nông hộ chuyển sang kinh tế nông trại sản xuất hàng hoá ngày một nhiều Sự chuyển dịch này gần như là một bước đi tất yếu, một qui luật khách quan Bước đi nhanh hay chậm là tuỳ thuộc vào trình độ dân trí, tiến bộ khoa học kỹ thuật, thể chế nhà nước và chính sách khuyến khích có hiệu lực.[9]
1.2.2 Thực tiễn phát triển các mô hình kinh tế nông hộ sản xuất kinh doanh giỏi
ở Việt Nam
1.2.2.1 Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế hộ nông dân
Thấy rõ tầm quan trọng và lợi ích kinh tế hộ nông dân Đảng và Nhà nước ta
đã ban hành nhiều sắc lệnh về đất đai, thuế, tín dụng nhằm khuyến khích, thúc đẩy
Trang 30kinh tế hộ đi lên
Khâu đột phá là chỉ thị 100 CT (01/1981) của Ban Bí thư Trung ương, đặc biệt là từ sau nghị quyết số 10- NQ/TƯ của Bộ Chính trị (4/1988) hộ nông dân được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ tiến hành sản xuất hàng hoá hạch toán kinh doanh
và có đầy đủ tư cách pháp nhân và quyền bình đẳng như mọi chủ thể kinh tế khác, kinh tế hộ từng bước được khởi sắc và phát triển Thực hiện việc khoán đến hộ và khuyến khích làm giàu chính đáng
Nghị quyết TW 2 và Nghị quyết TW 5 khoá VII của Đảng, Hội nghị lần thứ
IV Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII) tháng (4/1992) đã ra Nghị quyết về nhiệm vụ và giải pháp ổn định, phát triển kinh tế xã hội cho thời kỳ 1992-1995, đã chính thức trao thêm cho các tổ chức kinh tế, cá nhân người lao động và hội nông dân quyền tự chủ sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
Sau khi có Luật Đất đai 1993, ngày 15/01/1994 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/NĐ- CP về giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp với thời hạn 50 năm
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã đề ra một số chủ trương, chính sách lớn nhằm khuyến khích phát triển kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá tăng thu nhập cho hộ Nghị quyết số 06-NQ/TƯ ngày 10/11/1998 của bộ chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn đã chỉ rõ “ tiếp tục khuyến khích kinh
tế hộ phát triển mạnh mẽ để tạo ra lượng sản phẩm hàng hoá đa dạng có chất lượng, giá trị ngày càng cao, tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho đô thị, công nghiệp và xuất khẩu, đồng thời thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngay từ kinh tế hộ” [3]
Tiếp đến là Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ
về giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
Trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản lý cao hơn, nhằm mở rộng qui mô sản xuất hàng hoá và nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh
Trang 31trong cơ chế thị trường Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 2/2/2000 của chính phủ về kinh tế trang trại đã khẳng định “kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm
mở rộng qui mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông lâm, thuỷ sản”
Tiếp đến là nghị quyết 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 về “một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ nông sản” Đã nêu rõ
về những định hướng và các nội dung để tăng khả năng cạnh tranh của nông lâm sản, mở rộng thị trường
Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 về chính sách “khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng” liên kết theo hợp đồng giữa người sản xuất và các doanh nghiệp nhằm khắc phục tình trạng chia cắt giữa sản xuất, thu mua, chế biến và thị trường Để giúp người sản xuất và các địa phương, các cấp quản lý định hướng rõ vào mục tiêu tăng thu nhập cho người lao động và tăng hiệu quả sản xuất, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phát động và chỉ đạo thực hiện các phong trào “xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha/năm” và phong trào “liên kết bốn nhà” được phát động theo tinh thần quyết định 80 của chính phủ, từng bước xây dựng quan hệ thị trường để gắn kết giữa người sản xuất với người kinh doanh, với khoa học công nghệ và chính sách [11]
Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi một số tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Những chính sách quan trọng trên đây đã tạo ra những cơ sở cực kì quan trọng cho việc hình thành tư liệu sản xuất cơ bản nhất của các nông hộ, đó là tạo ra quỹ đất đai cho hộ Nhờ những chính sách này, tại các địa phương, nhân dân phấn khởi nhận ất, đầu tư vốn, bỏ công sức phát triển sản xuất trên đất đai của mình Nhũng chính sách này là động lực quan trọng giúp cho sự phát triển kinh tế hộ nói
Trang 32chung, đồng thời nông hộ không ngừng vươn lên để trở thành những hộ nông dân giàu có.[10]
1.2.2.2 Kết quả các mô hình kinh tế nông hộ sản xuất kinh doanh giỏi ở một số địa phương
Từ khi các chính sách trên đi vào cuộc sống đã mang đến cho nông nghiệp
và nông thôn nước ta một luồng sinh khí phát triển mới Chính sự phát triển đó được gắn liền với sự đổi mới và phát triển từng bước của kinh tế hộ Sau những năm đổi mới kinh tế hộ nông dân đã có sự tích luỹ cao cả về năng lực sản xuất “vốn”, kỹ năng sản xuất và sự tiếp cận thị trường Xuất hiện ngày càng nhiều mô hình kinh tế
hộ, trang trại gia đình sản xuất hàng hoá lớn có hiệu quả cao, đang là những nhân tố tích cực trong đóổi mới và phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Nhìn lại những năm đổi mới, lấy năm 2010 so với năm 1990, nông nghiệp nước ta tăng trưởng liên tục với tốc độ cao Giá trị sản xuất (theo giá so sánh năm 1994) nông nghiệp tăng 2,15 lần trong đó trồng trọt tăng 2,15 lần, chăn nuôi tăng 2,78 lần, dịch vụ tăng 1,57 lần, giá trị sản xuất thuỷ sản tăng 4,18 lần, trong đó giá trị nuôi trồng tăng 7,37 lần, giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng 1,23 lần Sản xuất hàng hoá gắn với chế biến và thị trường
Tăng trưởng lương thực từ chỗ tổng sản lượng lương thực có hạt trước Chỉ thị
100 của Ban bí thư Trung ương Đảng chỉ có 14,4 triệu tấn, trước Nghị quyết 10 của
Bộ Chính trị chỉ mới có 17,6 triệu tấn đến năm 2010 đã đạt 39,32 triệu tấn, tăng 2,23 lần so với trước nghị quyết 10 và tăng 2,73 so với trước Chỉ thị 100 sản xuất lương thực tăng đã đưa bình quân lương thực theo đầu người đạt 479,4 kg/năm Năm 2010 tăng 47,96% so với năm 1990 Đi đôi với tăng trưởng lương thực các ngành khác trong nông nghiệp cũng đều tăng trưởng đáng kể, năm 2010 so với năm 2000 sản lượng cây công nghiệp hàng năm tăng nhiều, mức tăng bông ổi 57,4%, cói 44,5%, lạc 27%, đậu tương 62%
Chăn nuôi trong 20 năm qua (1990 - 2010) cũng tăng rõ tính theo số đầu con thì dê, cừu tăng 174,7%, lợn tăng 113,2%, gia cầm tăng 103,16%, bò tăng 57,4% Sản lượng lâm nghiệp tiếp tục phát triển, trong khó khăn nhiều mặt nhưng vẫn đạt
Trang 33được kết quả và tiến bộ nhất định trong cả 2 lĩnh vực trồng rừng và khai thác gỗ, lâm sản Diện tích rừng trồng năm 1999 đạt 200 nghìn ha so với 100 nghìn ha năm
1990, góp phần quan trọng giảm bớt diện tích đất trống đồi núi trọc và tăng tỷ lệ che phủ đất rừng từ 28,4% năm 1990 lên 33,2% năm 2003 [8], 35% năm 2001 lên gần 38% năm 2011 [18]
Rất nhiều sản phẩm nông nghiệp đã xuất hiện sang gần 100 nước và vùng lãnh thổ, mức tăng liên tục với tỷ lệ cao Năm 2010 so với năm 2000, sản lượng xuất khẩu có mức tăng gạo 16,7% cà phê 32,8%, cao su 87,7%, hạt tiêu 207%, hạt điều nhân 7% Giá trị xuất khẩu đạt 26.504 triệu USD, tăng 83%, trong đó các ngành hàng tăng nhiều là thuỷ sản, gạo, cà phê, cao su, hạt điều nhân
Thành tựu trong nông nghiệp đạt được như trên là có đường lối đổi mới chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước, quyết tâm thực hiện các ngành, các cấp
và nỗ lực vượt bậc của nông dân trên khắp mọi miền của đất nước Thành tựu đó đã làm cho kinh tế hộ nông dân tăng trưởng nhanh chóng, đóng góp rất lớn vào phát triển nông nghiệp đất nước
Năm 2010, thu nhập bình quân theo đầu người/tháng trên cả nước đạt 484.000 đồng, tăng 36% so với năm 2000 và tăng 135% so với năm 1995 Riêng khu vực nông thôn đạt 376.500 đồng, tăng 36,86% so với năm 2000 và tăng 118,2%
so với năm 1995 (tính theo giá thực tế) Thu nhập và đời sống được cải thiện nên số
hộ khá, giàu tăng đáng kể, hộ đói quanh năm không còn, số hộ nghèo giảm nhanh,
hộ nghèo về lương thực, thực phẩm năm 2010 chỉ còn 9,18% so với 17,185% năm
2000
Kinh tế hộ nông dân phát triển nhanh đã làm cho cuộc sống nông thôn tưng bừng, phấn chấn kinh tế hộ nông dân phát triển đã có nhiều hộ nông dân tiêu biểu trong sản xuất kinh doanh Hơn 10 năm qua, đã có gần 10 triệu lượt hộ nông dân đạt danh hiệu sản xuất, kinh doanh giỏi vượt trội so với bình quân trên địa bàn, số hộ có thu nhập 50 - 100 triệu đồng/năm không còn là điều xa lạ Đã có nhiều nông dân được phong tặng danh hiệu cao quí như 2 Anh hùng lao động, 11 huân chương lao động, 3 chiến sỹ thi đua toàn quốc, 59 bằng khen của thủ tướng chính phủ, 124 bằng
Trang 34khen của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam và hàng ngàn bằng khen của trung ương hội nông dân Việt Nam và hàng ngàn bằng khen của uỷ ban nhân dân các tỉnh, huyện Tại Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ VII, đầu tháng 10/2011, trong số 81 anh hùng và 241 tập thể anh hùng được tuyên dương thì có 21 cá nhân và 17 nông dân là chiến sỹ thi đua toàn quốc [19]
Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng được Hội Nông dân huyện Cư Kuin triển khai sâu rộng, có sức lan tỏa mạnh mẽ trong hội viên nông dân và đạt được những kết quả đáng khích lệ Chỉ tính riêng trong năm 2013, toàn huyện có 5.951
hộ đăng ký hộ sản xuất kinh doanh giỏi Qua phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi đã từng bước tạo được sự chuyển biến về nếp nghĩ, cách làm của người nông dân phù hợp với cơ chế thị trường Nhiều điển hình tiên tiến về sản xuất, kinh doanh giỏi và có mức thu nhập cao vài trăm triệu đồng/năm như các hộ: ông Ngô Đắc Minh, ông Ngô Văn Thuật ở xã Dray Bhăng; ông Phùng Bá Công, ông Phùng Bá Vân, ông Nguyễn Quang Danh ở xã Ea Ktua; ông Ngô Bá Vẽ, ông
Đỗ Đức Thạnh ở xã Hòa Hiệp… Bên cạnh đó các cấp hội đã giúp 678 hộ hội viên thoát nghèo; tổ chức thăm hỏi, động viên thân nhân, hội viên ốm đau, hoạn nạn được 650 trường hợp; vận động hội viên ủng hộ xây nhà "Tiết kiệm làm theo lời Bác" do Huyện ủy Cư Kuin phát động được 58 triệu đồng Ngoài ra Hội đã được Ban chỉ đạo của huyện hỗ trợ xây 2 căn nhà đại đoàn kết cho 2 hội viên nghèo, khó khăn về nhà ở tại xã Ea Hu và xã Cư Êwi với trị giá 55 triệu đồng/nhà
Những năm qua, phong trào nông dân sản xuất kinh doanh giỏi ở huyện Sơn Tịnh ngày càng có sức lan tỏa và thu hút nhiều nông dân tham gia Cũng từ phong trào này mà cuộc sống của người nông dân đã có nhiều đổi thay Nhiều mô hình kinh tế đem lại hiệu quả cao Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đến nay, toàn huyện có 13.305 hộ đạt danh hiệu nông dân sản xuất kinh doanh giỏi các cấp Trong đó, cấp Trung ương 1 hộ, cấp tỉnh 95 hộ, cấp huyện 1.157 hộ, cấp
xã, thị trấn 12.052 hộ Nhiều xã có tỷ lệ cao như Tịnh Hà, Tịnh Giang, Tịnh Sơn, Tịnh Châu, Tịnh Phong, Tịnh Long, Tịnh Minh, Tịnh Kỳ,… Nhờ sự nhạy bén, năng
Trang 35động, sáng tạo của nông dân trong cách nghĩ, cách làm, chủ động ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên đã có nhiều mô hình sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần đưa ngành nông nghiệp của huyện phát triển khá toàn diện Tiêu biểu trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp có ông Nguyễn Tấn Sinh, xã Tịnh ấn Tây sản xuất mây tre đan, thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm và giải quyết việc làm cho 20 lao động thường xuyên, 40 lao động thời vụ Hộ ông Nguyễn Ngọc Nhi, xã Tịnh Giang chăn nuôi vịt kết hợp trồng trọt, vận tải, thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm Hộ ông Nguyễn Hóa, xã Tịnh ấn Tây chăn nuôi gà, bò, hàng năm thu lãi trên 100 triệu đồng, giải quyết việc làm cho 2 lao động thường xuyên và 40 lao động thời vụ với mức lương từ 2,5triệu đến 3 triệu đồng/tháng Hộ ông Phạm Trí Thức, xã Tịnh Kỳ với nghề đánh bắt hải sản xa bờ, thu nhập hàng năm trên 300 triệu đồng và giải quyết 10 việc làm cho lao động thường xuyên, với mức lương từ
4 đến 5 triệu đồng/người/tháng và được cử đi dự hội nghị biểu dương nông dân sản xuất kinh doanh giỏi toàn quốc
Trong 5 năm (2007- 2012), huyện Lạc Thuỷ tỉnh Hòa Bình có 27.350 lượt hộ hội viên nông dân đăng ký phấn đấu sản xuất- kinh doanh (SXKD) các cấp, kết quả
có 15.481 lượt hộ đạt tiêu chuẩn, trong đó có 1.075 lượt hộ đạt cấp tỉnh, 2.862 lượt
hộ đạt cấp huyện, 11.544 lượt hộ đạt cấp cơ sở Riêng năm 2012, toàn huyện có 2.949 hộ đạt SXKD giỏi các cấp
Đến nay, dư nợ của nông dân vay vốn phát triển kinh tế đạt trên 71 tỉ đồng Hiện, trên địa bàn toàn huyện có 274 trang trại (trong đó có 39 trang trại đạt tiêu chí) tạo việc làm và thu nhập ổn định cho khoảng 1.000 lao động địa phương; thu nhập bình quân của các trang trại đạt tiêu chí khoảng 350 triệu đồng/trang trại/năm Những kết quả trên cho thấy, Nông dân huyện Lạc Thuỷ đã khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong phong trào xây dựng và phát triển nông thôn mới Tính đến hết năm 2012, toàn huyện có trên 300 lượt hộ thoát nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng Từ phong trào này, người nông dân đã thể hiện được ý chí vượt qua khó khăn, thi đua lao động sản xuất làm giàu cho gia đình và xã hội, góp phần thiết thực trong công cuộc HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trang 36Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Lương Sơn
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Lương Sơn là cửa ngõ của tỉnh miền núi Hoà Bình và miền Τây Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40 km, biên giới liền kề với khu công nghệ cao Hoà Lạc, khu đô thị Phú Cát, Miếu Môn, Đại học Quốc gia, Làng văn hoá các dân tộc
Huyện Lương Sơn nằm ở phần phía nam của dãy núi Ba Vì, nơi có một phần của Vườn quốc gia Ba Vì Phía tây giáp huyện Kỳ Sơn Phía nam giáp các huyện Kim Bôi và Lạc Thủy Phía đông giáp các huyện Mỹ Đức, Chương Mỹ Phía bắc giáp huyện Quốc Oai
Lương Sơn là một huyện vùng thấp bán sơn địa của tỉnh Hoà Bình, có địa hình phổ biến là núi thấp và đồng bằng, có vị trí địa lý từ 20017 – 20038 vĩ độ Bắc
và 105029 – 105040 kinh độ Đông
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Lương sơn là một huyện vùng thấp của tỉnh Hòa Bình, có địa hình phổ biến
là núi thấp và đồng bằng Độ cao trung bình của toàn huyện so với mực nước biển
là 251m, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ tây xuống đông nam Đặc điểm nổi bặt của địa hình nơi đây là những dãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi đã vôi với những hang động
2.1.1.3 Thời tiết khí hậu
Huyện Lương Sơn nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu nên cũng như các huyện khác trong tỉnh, khí hậu của huyện Lương Sơn mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa
Trong năm có hai mùa rõ rệt: mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 4 đến tháng 10
và mùa lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 3
Trang 37- Nhiệt độ không khí trung bình năm: 230c
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình năm 1.769 mm
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm trung bình hàng năm là 84,5%, trung bình cao là 97,7%, trung bình thấp là 46,4%
Qua các yếu tố khí hậu thời tiết huyện Lương Sơn nói chung là thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và gia súc phát triển có khả năng cho năng suất cao Song cần
bố trí cây trồng thích hợp để tránh lũ quét, mua bão xói mòn rửa trôi đất để trồng cây đạt năng suất cao
2.1.1.4 Điều kiện thủy văn
Trong huyện Lương Sơn không có sông lớn mà chỉ có 2 con sông nhỏ thực chất là suối) là sông Bùi với chiều dài 12 km bắt nguồn từ dãy núi cao Trường Sơn chảy qua Cao Răm, Tân Vinh, Thị trấn, Nhuận Trạch và chảy ra huyện Chương Mỹ
- Hà Nội Lưu lượng kiệt hàng năm là 900l/s Đây là con sông nhỏ, ngắn và dốc nên thường gây ra lũ quét hàng năm; Sông Cò bắt nguồn từ xã Yên Quang chảy qua Yên Trung, Yên Bình và đổ ra đập Đông Mô, Ngải Sơn, lưu lượng kiệt hàng năm là 400l/s
Ngoài sông suối, trên địa bàn Lương Sơn còn có hệ thống hồ đập cũng góp phần cung cấp nước phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân (20 hồ đập lớn nhỏ)
2.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
Theo kết quả thống kê đất năm 2012, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Lương Sơn: 37.707,79ha với ba nhóm đất chính: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng
Về cơ sử dụng đất, qua bảng 2.1 cho thấy, đất nông nghiệp của Huyện là 25.569.76 ha, chiếm 67,81% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp 6.290,93 ha = 18,68% so với tổng diện tích tự nhiên và bằng 24,60% so với tổng diện tích đất nông nghiệp
Tổng diện tích đất sản xuất lâm nghiệp có 18.976,04 ha chiếm 50,32% so với tổng diện tích tự nhiên và bằng 74,21% so với tổng diện tích đất nông nghiệp
Trang 38Bảng 2.1 Cơ cấu đất đai của huyện Lương Sơn năm 2012
(Nguồn: Phòng tài nguyên và môi trường huyện Lương Sơn năm 2012)
Nhóm đất phi nông nghiệp: Tổng diện tích đất phi nông nghiệp có 7.331,11
ha chiếm 19,44% so với tổng diện tích tự nhiên
Nhóm đất chưa sử dụng: Tổng diện tích đất chưa sử dụng 4.806,92 ha chiếm 12,75% so với tổng diện tích tự nhiên
Diện tích đất chưa sử dụng vẫn còn khá nhiều, trong đó chủ yếu là đất đồi núi (chiếm 63% diện tích đất chưa sử dụng) Điều này cho phép huyện có thể tăng cường sử dụng đất nhiều hơn nữa, đặc biệt là cho nhu cầu phát triển chăn nuôi và các ngành phi nông nghiệp trên địa bàn mà không cần phải giảm đất nông nghiệp và lâm nghiệp
Cơ cấu đất đai huyện Lương Sơn thể hiện qua hình 2.1
Về tính chất đất, Lương Sơn được chia làm nhiều loại có nguồn gốc phát sinh khác nhau, trong đó, các loại chính là, đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa Loại đất này chiếm tỷ trọng cao nhất và phân bố ở khắp các xã trong huyện
Đất đồng bằng, đất phù sa sông Bùi, sông Cò và các con suối nhỏ; đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ Loại đất này chủ yếu tập trung ở vùng thấp phía Bắc, Nam Loại đất này thích hợp trồng lúa, rau và hoa mầu
Trang 39Cơ cấu sử dụng đất huyện Lương Sơn năm 2012
67,81%
19,44%
Đất phi NN Đất chưa SD
Hình 2.1 Cơ cấu đất đai của huyện Lương Sơn năm 2012
Đất sói mòn trơ sỏi đá do hậu quả của chặt phá rừng trước đây, chủ yếu tập trung các xã vùng Tây Nam, Đông Nam Loại đất này tầng canh tác mỏng, khó khai thác để sản xuất nông nghiệp Tuy không có khả năng khai thác để phát triển sản xuất nông nghiệp nhưng có thể sử dụng cải tạo để trồng cỏ, phục vụ cho phát triển chăn nuôi đại gia súc
Tài nguyên nước
Tài nguyên nước được cung cấp chủ yếu bằng 3 nguồn chính: nước ngầm, nước mặt, và nước mưa tự nhiên
- Nước ngầm: Theo điều tra, chất lượng nước ngầm của huyện phần lớn là nước ngọt mềm, chưa bị ô nhiễm Đây là nguồn tài nguyên quan trọng cần được bảo
vệ và khai thác hợp lý để cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân và nước cho sản xuất nông nghiệp
- Nước mặt: có nguồn chính từ con sông Bùi, sông cò và nhiều con suối chạy qua địa bàn huyện Tuy nhiên sông Bùi và suối ở huyện Lương Sơn thường ngắn, nhỏ và có độ dốc cao, vì vậy thường ít nước vào mùa khô và úng lụt vào mùa nước lớn Hiện tại sông Bùi có trạm thuỷ luân nhưng đã được xây dựng từ thời Pháp, nên hiệu quả sử dụng hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp
Trang 40- Hệ thống hồ đập: Trên địa bàn huyện hiện có 6 hồ đập, trong đó có 2 hồ đập lớn thuộc hai xã Nhuận Trạch (hồ Đồng Chanh, diện tích 247ha), và Tiến Sơn (hồ Suối Ong, diện tích 169 ha), ngoài ra các hồ đập nhỏ nằm ở các xã: Tiến Sơn, Liên Sơn, Hoà Sơn và Cư Yên Hệ thống hồ đập đóng vai trò là nguồn nước quan trọng bảo đảm nước tưới tiêu phục vụ sản xuất
- Nước mưa: Với lượng nước mưa trung bình 1.769,5mm trong năm, đây là nguồn nước bổ sung cho các ao, hồ, đầm và cho các sinh hoạt khác của nhân dân Nước mưa là nguồn cung cấp chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đặc biệt là đối với các cây trồng lâu năm và rừng có diện tích lớn, địa hình phức tạp
Như vậy, trên góc độ phân bố tài nguyên nước, ngoài hệ thống nước ngầm, nước mưa có thể khai thác ở khắp các vùng trên địa bàn huyện, còn có tài nguyên nước mặt, bao gồm sông, suối, hồ đập nhưng được phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng phía Bắc huyện Sông suối lại ngắn và nhỏ, khả năng dự trữ nước rất hạn chế, ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo đảm nhu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các xã vùng Tây Nam của huyện
Tài nguyên rừng
Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 18.978,04 ha, chiếm 50,32% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó có: đất rừng phòng hộ (chiếm xấp xỉ 12,16%), đất rừng sản xuất (chiếm 36,18%) Độ che phủ rừng đạt 45%, xấp xỉ bằng con số của toàn tỉnh (45,5%), rừng không chỉ góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữ nước đầu nguồn, cải thiện cảnh quan khu vực, và ngăn cản lũ lụt mà nó còn góp phần làm giầu cho nền kinh tế của huyện, nhất là các xã thuộc vùng Tây Nam huyện, không
có khả năng phát triển những ngành kinh tế khác
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội - môi trường
2.1.2.1 Giá trị sản xuất và cơ cấu Giá trị sản xuất của huyện Lương Sơn giai đoạn
2010 - 2012
- Về giá trị sản xuất
Qua bảng 2.2 cho thấy, Giá trị sản xuất của huyện Lương Sơn năm 2010 là 756,51 tỷ đồng, năm 2012 lên 950,11 tỷ đồng (tăng 193,60 tỷ đồng) Từ 2010 đến