Với tinh thần nêu trên, đứng trước những đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế sâu, rộng như hiện nay, cơ cấu KTNN cả nước, khu vực đồng bằng sông Cửu Long cũng như của tỉnh Long An tro
Trang 1HUỲNH THỊ NGỌC BÁU
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đồng Nai, 2012
Trang 2
HUỲNH THỊ NGỌC BÁU
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN ĐẨY MẠNH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN VĂN HÀ
Đồng Nai, 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Long An, ngày 15 tháng 5 năm 2012
Học viên thực hiện
Huỳnh Thị Ngọc Báu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian 2 năm học ở Trường, em đã được Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp truyền đạt những kiến thức xã hội và kiến thức chuyên môn vô cùng quý giá cả về lý thuyết và thực tiễn Những kiến thức hữu ích đó sẽ luôn hỗ trợ em trong công tác hiện hữu và trong tương lai
Với tất cả lòng tôn kính, em xin gửi đến Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp lòng biết ơn sâu sắc Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn
TS Nguyễn Văn Hà đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tận tình và giúp đỡ
em trong suốt quá trình nghiên cứu để em có thể hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, Tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể Anh, Chị, Em trong Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Sở Kế hoạch - Đầu tư, Cục thống kê tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện, Phòng nông nghiệp, Chi cục thống kê huyện Cần Giuộc đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình
Sau cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn bên cạnh tôi, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn!
Học viên thực hiện
Huỳnh Thị Ngọc Báu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BIỂU viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mu ̣c tiêu nghiên cứu 5
2.1 Mục tiêu tổng quát: 5
2.2 Mục tiêu cụ thể: 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
3.2.1 Phạm vi về nội dung: 5
3.2.2 Phạm vi về không gian: 6
3.2.3 Phạm vi về thời gian: 6
4 Nội dung nghiên cứu: 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 7
1.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu KTNN theo hướng phát triển bền vững 7
1.1.1 Cơ cấu KTNN 8
1.1.2 Các cách tiếp cận cơ cấu KTNN 10
1.1.3 Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu KTNN và phát triển bền vững 15
1.1.3.1 Về chuyển dịch cơ cấu KTNN 15
Trang 61.1.3.2 Phát triển bền vững 16
1.1.4 Nội dung chuyển dịch cơ cấu KTNN 20
1.1.5 Yêu cầu đối với chuyển dịch cơ cấu KTNN theo hướng bền vững 24
1.1.6 Các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu KTNN 28
1.2 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề CD cơ cấu KTNN 34
1.2.1 Trên thế giới 34
1.2.2 Tại Việt Nam 38
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Đặc điểm cơ bản 41
2.1.1 Về tự nhiên 41
2.1.2 Về kinh tế- xã hội 46
2.1.3 Nhận xét chung về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Cần Giuộc 50
2.2 Phương pháp nghiên cứu 53
2.2.1 Phương pha ́ p chọn địa điểm nghiên cứu 53
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 54
2.2.3 Phương pha ́ p xử lý số liệu 54
2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 54
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
3.1 Thực trạng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Cần Giuộc giai đoạn 2005- 2010 56
3.1.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành của huyện Cần Giuộc giai đoạn từ 2005–2010 56
3.1.2 Chuyển dịch cơ cấu KTNN huyện Cần Giuộc giai đoạn 2005-2010 57
Trang 73.1.3 Thực trạng cơ cấu kinh tế theo thành phần và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo thành phần kinh tế trong nông nghiệp 72 3.1.4 Thực trạng cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
vùng sản xuất trong nông nghiệp 73
sản xuất trong nông nghiệp 73 3.1.6 Thực trạng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lao động trong
nông nghiệp 74 3.1.7 Đánh giá chung về chuyển dịch cơ cấu KTNN của huyện 76
3.2 Quan điểm, phương hướng và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu KTNN của huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An trong thời gian tới 82
gian tới 82
Giuộc, tỉnh Long An trong thời gian tới 84
trong những năm tới 88
3.3 Đề xuất các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu KTNN của huyện Cần Giuộc theo hướng phát triển bền vững 90
3.3.1 Các giải pháp có tính then chốt nhằm tác động đến phương hướng sản xuất trong định hướng phát triển bền vững 91
3.3.1.1 Tổ chức quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp 91 3.3.1.2 Hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp 93
quả của sản xuất 95
3.3.2.1 Đảm bảo nguồn vốn để đầy mạnh chuyển dịch cơ cấu KTNN 95
Trang 83.3.2.2 Phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, tăng cường
khuyến nông 96
3.3.2.3 Đẩy mạnh cơ giới hoá nông nghiệp, áp dụng ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp 99
3.3.3 Các giải pháp có tính chủ đạo nhằm tác động đến phương cách phát triển cụ thể của nông nghiệp và nông thôn 101
3.3.3.1 Tổ chức hệ thống cung ứng các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho sản xuất nông nghiệp 101
3.3.3.2 Đổi mới và vận dụng linh hoạt cơ chế chính sách kinh tế liên quan để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu KTNN theo hướng phát triển bền vững 104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
1 Kết luận 107
2 Khuyến nghị 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 9BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 2.2: Cân đối lao động xã hội của huyện Cần Giuộc giai đoạn
Biểu 3.1: Tình hình sử dụng đất huyện Cần Giuộc 56 Biểu 3.2: Giá trị - tỷ trọng sản xuất ngành nông nghiệp 59 Biểu 3.3: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt 61 Biểu 3.4a: Diện tích, năng suất, sản lượng cây lương thực
Biểu 3.4b: Diện tích, năng suất, sản lượng cây màu thực phẩm của
Biểu 3.5: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi 65 Biểu 3.6: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành thủy sản 67 Biểu 3.7: Số lượng, sản lượng thịt gia súc, gia cầm của huyện Cần
Biểu 3.9: Giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác 70 Biểu 3.10: Lao động và cơ cấu lao động của huyện Cần Giuộc 80
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội đối với tất cả các quốc gia trên thế giới Nó càng quan trọng hơn đối với các quốc gia đang phát triển trong xu thế hội nhập hiện nay Vì thế, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nhà kinh tế học vẫn tiếp tục quan tâm nghiên cứu về vai trò của nông nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu KTNN như thế nào để cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia vận động hợp lý và theo cơ chế thị trường
Hòa nhập với xu thế đổi mới, nông nghiệp nước ta đã có những chuyển biến mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, từng bước thích ứng với cơ chế thị trường, bước đầu gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp Tuy nhiên, nông nghiệp Việt Nam vẫn còn đứng trước những thử thách lớn trong tiến trình chuyển đổi và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Thứ nhất, cơ cấu KTNN chuyển dịch chậm, không cân đối, quy mô sản xuất vừa nhỏ bé vừa chưa theo sát yêu cầu thị trường Thứ hai, cơ sở vật chất, kỹ thuật của nông nghiệp (đường giao thông, thủy lợi tưới tiêu, điện…) còn thấp kém đã làm hạn chế việc tiếp cận thị trường Thứ ba, lao động thủ công còn phổ biến, cơ giới nông nghiệp hóa chưa đồng bộ dẫn đến năng suất lao động nông nghiệp còn thấp Thứ tư, hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi ngành nông nghiệp phải cạnh tranh với các nước trong khu vực có trình độ phát triển cao hơn, có lợi thế so sánh về các mặt hàng nông sản tương tự như Việt Nam
“Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng,
coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức” (VKĐHĐB TQ lần thứ
XI TR 98-99 ) đây là quan điểm phát triển nhanh bền vững với phát triển bền vững,
Trang 12phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020
Để thực hiện mục tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường thì phải đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, xây dựng cơ cấu kinh tế
công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả Trong “Nông nghiệp
có bước phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm
có giá trị cao.” (VKĐHĐB TQ lần thứ XI Tr 104 ) thúc đẩy sản xuất nông nghiệp
phát triển, đạt hiệu quả cao và bền vững, việc hoàn thiện và xác định một cơ cấu KTNN hợp lý, phù hợp với xu hướng phát triển chung của nền kinh tế không chỉ là yêu cầu có tính khách quan, mà còn là một trong những nội dung chủ yếu của quá trình xây dựng đất nước
Quan điểm quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của huyện Cần Giuộc đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 nhằm tìm ra con đường phát triển hiệu quả, phù hợp điều kiện bên trong và bên ngoài, đạt được các mục tiêu tăng trưởng và bền vững, nâng cao mức sống dân cư, xây dựng xã hội văn minh, hiện đại, dựa trên
những quan điểm cơ bản: Xây dựng nền kinh tế mở, đa dạng theo cơ chế thị
trường có sự quản lý Nhà nước, liên kết chặt chẽ với thị trường của thành phố
Hồ Chí Minh Phát huy và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng và nguồn nhân lực của huyện, tranh thủ nguồn hỗ trợ của Chính phủ, của vùng, của tỉnh nhằm tạo đà cho bước đi ban đầu Xây dựng và phát triển kinh tế hợp tác trên tinh thần tự nguyện của người lao động Chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ kinh
tế hộ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VII) Phát triển kinh tế cá thể, giúp họ làm giàu chính đáng theo pháp luật Kết hợp hài hòa nội lực và ngoại lực, đầu tư có trọng điểm, đầu tư tập trung những nơi hội tụ được các yếu
tố phát triển nhanh Khai thác các lợi thế về vị trí địa lý, khai thác hợp lý tài
Trang 13nguyên đất, nước, tăng cường năng lực xuất khẩu Lấy hiệu quả kinh tế và chất lượng cuộc sống làm tiêu chuẩn phát triển Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên mọi lĩnh vực, phấn đấu tốc độ tăng trưởng cao và bền vững Chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và hiệu quả, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Xây dựng xã hội công bằng văn minh, thu ngắn khoản cách về điều kiện sống, sinh hoạt và học tập giữa vùng vùng Hạ và vùng Thượng, giữa Cần Giuộc và các huyện khác trong tỉnh, quan tâm hơn nữa các mặt phúc lợi công cộng Phát triển nguồn nhân lực, nâng cao mặt bằng dân trí đảm bảo quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo tinh thần Nghị quyết 18 của Tỉnh ủy Long An Phát triển kinh tế kết hợp bảo vệ và làm giàu môi trường sinh thái Phối hợp với thành phố Hồ Chí Minh khắc phục tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt do ảnh hưởng của yếu tố ngoại lai
Với tinh thần nêu trên, đứng trước những đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế sâu, rộng như hiện nay, cơ cấu KTNN cả nước, khu vực đồng bằng sông Cửu Long cũng như của tỉnh Long An trong thời gian qua nhìn chung chuyển dịch còn chậm; quy mô, địa bàn sản xuất của hầu hết các nông sản hàng hóa chủ lực còn phân tán, phát triển theo chiều rộng là chính, hàm lượng khoa học và công nghệ đưa vào sản phẩm còn ít, dẫn đến năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế yếu
Cần Giuộc, là một trong 14 huyện, thành phố của tỉnh Long An, thuộc vùng hạ nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Long An Cần Giuộc nằm ở vành đai vòng ngoài của vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, là cửa ngõ của TP HCM tới các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long qua Quốc lộ 50, từ biển Đông qua cửa sông Soài Rạp và hệ thống đường thủy thông thương với các tỉnh phía Nam;
Trang 14có diện tích tự nhiên là 210,2 km², dân số 170.235 người, với phần lớn người dân sống bằng nghề nông nghiệp, đời sống khó khăn, cơ sở vật chất còn thiếu thốn Trong những năm qua, KTNN của huyện đã có những chuyển biến tích cực, sử dụng tương đối hiệu quả vào các lĩnh vực kinh tế khác nhau
Tuy nhiên, so với tiềm năng và nguồn lực của huyện thì cơ cấu KTNN chuyển dịch chậm, không cân đối, quy mô sản xuất vừa nhỏ bé vừa chưa theo sát yêu cầu thị trườ ng; cơ sở vâ ̣t chất, kĩ thuâ ̣t trong nông nghiệp chưa được trang bị phù hợp đã làm hạn chế việc tiếp cận thị trường và năng suất lao động nông nghiệp còn thấp cần có sự điều chỉnh để phát triển bền vững; hội nhập kinh
tế thế giới đòi hỏi ngành nông nghiệp phải cạnh tranh với các nước trong khu vực có trình đô ̣ phát triển cao hơn và có lợi thế so sánh về các mă ̣t hàng nông sản Do vậy, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu KTNN của huyện nhằm khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế, tăng sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường trong nước và quốc tế, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống của nông dân, đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong bối cảnh hiện nay
Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài: ‘‘Một số giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An theo hướng phát triển bền vững’’ là vấn đề Tôi quan tâm và chọn làm Luận văn tốt
nghiệp của mình nhằm tìm ra những giải pháp thích hợp để giải quyết những vấn đề tồn tại, phát huy thế mạnh, tiềm năng huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
Trang 152 Mu ̣c tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu KTNN theo hướng phát triển bền vững trên địa bàn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Cơ cấu nông nghiệp và quá trình chuyển dịch cơ cấu KTNN tại huyện Cần Giuộc tỉnh Long An
- Nội dung cơ cấu KTNN được nghiên cứu trong đề tài này bao gồm các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, nông nghiệp và dịch vụ
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.2.1 Phạm vi về nội dung:
- Tập trung nghiên cứu cơ cấu KTNN trên địa huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
Trang 16- Xem xét trên 3 mặt: ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, cơ cấu vùng, cơ cấu thành phần kinh tế Trong đó, đề tài chủ yếu nghiên cứu ứng dụng
kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
3.2.2 Phạm vi về không gian:
Trên địa bàn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An
3.2.3 Phạm vi về thời gian:
Số liệu thu thập từ năm 2006-2010
4 Nội dung nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu KTNN
- Thực trạng chuyển dịch cơ cấu KTNN tại huyện Cần Giuộc, tỉnh Long
An giai đoạn 2006-2010
- Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An theo hướng phát triển bền vững
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu KTNNtheo hướng phát triển bền vững
Để hiểu khái niệm cơ cấu KTNN, trước hết cần làm rõ khái niệm cơ cấu Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng, cơ cấu là một khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của
nó Trong khi chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và tổng thể, cơ cấu biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật, hiện tượng và biến đổi cùng với sự biến đổi của sự vật, hiện tượng Như vậy, có thể thấy có nhiều trình độ, nhiều kiểu tổ chức cơ cấu của khách thể và các hệ thống
Nền kinh tế quốc dân là một hệ thống phức tạp, được cấu thành bởi nhiều bộ phận khác nhau Đồng thời giữa chúng luôn có quan hệ biện chứng với nhau trong quá trình vận động và phát triển Sự vận động và phát triển của nền kinh tế còn chứa đựng sự thay đổi của chính bản thân các bộ phận và cách thức quan hệ giữa chúng với nhau trong mỗi thời điểm và trong mỗi điều kiện khác nhau Do đó, có thể khái quát cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận hợp thành cùng với những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong không gian, thời gian và điều kiện kinh tế, xã hội nhất định
Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm ngành, các yếu tố hướng vào các mục tiêu đã xác định Cơ cấu kinh tế còn là một phạm trù trừu
Trang 18tượng, muốn nắm vững bản chất của cơ cấu kinh tế và thực thi các giải pháp nhằm cố định cơ cấu kinh tế có hiệu quả cần xem xét từng loại cơ cấu cụ thể của nền kinh tế quốc dân Với khái niệm phổ biến, cơ cấu kinh tế không chỉ quy định
về số lượng và tỷ lệ giữa các yếu tố cấu thành, biểu hiện về lượng sự tăng trưởng của hệ thống, mà còn nghiên cứu những mối quan hệ cơ cấu giữa các yếu
tố, biểu hiện về chất - sự phát triển của hệ thống Nền kinh tế chỉ có thể ổn định
và tăng trưởng bền vững khi có cơ cấu cân đối, hợp lý
Từ đó, cơ cấu kinh tế được khái niệm: cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu cả về chất và lượng giữa các bộ phận hợp thành (cả kinh tế kỹ thuật và kinh tế - xã hội), những bộ phận đó nhất thiết phải gắn bó hữu cơ với nhau, tác động phụ thuộc lẫn nhau, làm điều kiện cho nhau trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất hay giáp tiếp trong khâu kinh tế Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã chỉ rõ: “Nền kinh tế quốc dân có một cơ cấu hợp lý là nền kinh tế trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất có quy mô và trình độ kinh tế khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau phù hợp với điều kiện kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định”
Nhìn chung, có thể khái quát cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về số lượng và về chất lượng, tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế hoặc các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất - quan hệ giữa chúng với nhau và với toàn bộ hệ thống trong một hệ thống tái sản xuất xã hội trong những
điều kiện kinh tế - xã hội nhất định vào những khoảng thời gian nhất định
1.1.1 Cơ cấu KTNN
Cơ cấu kinh tế luôn gắn với phương thức sản xuất nhất định và một nền kinh tế nhất định Nó bao gồm nhiều yếu tố cấu thành và tùy theo mục đích phân tích mà có sự phân loại các yếu tố đó một cách tương ứng Song,
Trang 19về cơ bản, cơ cấu kinh tế được xét trên 2 mặt, đó là mặt vật chất – kỹ thuật
và mặt kinh tế - xã hội
- Về mặt vật chất - kỹ thuật, bao gồm cơ cấu ngành nghề, loại hình tổ
chức kinh doanh, trình độ kỹ thuật, sự bố trí theo vùng lãnh thổ
- Về mặt kinh tế - xã hội, bao gồm cơ cấu thành phần kinh tế, trình độ
phát triển quan hệ hàng hóa, tiền tệ, quan hệ thị trường
Nông - lâm - ngư nghiệp là hệ thống nhỏ trong hệ thống lớn của cơ cấu kinh tế Cơ cấu nông – lâm – ngư nghiệp cũng là một cấu trúc gắn bó hữu cơ nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau cùng tồn tại và phát triển trong những thời gian và không gian nhất định Do đó, cơ cấu nông nghiệp bao gồm các ngành sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, nuôi trồng đánh bắt thủy sản Bản thân nhiều ngành trong nông nghiệp lại là những hệ thống nhỏ mà trong nhiều hệ thống nhỏ đó lại có những yếu tố, những thuộc tính giống nhau tạo thành hệ thống nhỏ hơn Sản xuất nông nghiệp phát triển không ngừng, cơ cấu các ngành trong nông nghiệp cũng vận động, biến đổi không ngừng mở rộng Nhờ tác động công nghiệp, trong cơ cấu ngành nông nghiệp còn có thêm các ngành như: ngành chế biến lương thực, thực phẩm, dịch vụ nông nghiệp… mang tính chuyên môn hóa rõ rệt Khi bước sang xã hội hậu công nghiệp, không thể không phát sinh thêm những ngành mới nữa (công nghệ sinh học, tin học nông nghiệp) Thiếu những ngành này không thể có ngành nông nghiệp hoàn chỉnh
Do vậy, cơ cấu nông nghiệp trước hết là một bộ phận của cơ cấu kinh tế là một ngành lớn một tổng thể hữu cơ của nhiều ngành nhỏ, với nhiều cấp hệ khác nhau, không ngừng hoàn thiện và phát triển trong sự ổn định tương đối, trong các mối quan hệ khắn khít, tác động và tùy thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố, được xác định bằng các quan hệ tỷ lệ về số lượng và chất lượng Cơ cấu nông nghiệp chịu
Trang 20sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, nguồn nước và các điều kiện kinh tế - xã hội; điều kiện lịch sử cụ thể: trình độ công nghệ, trình độ phân công lao động, trình độ tổ chức quản lý… nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu đã định
Cơ cấu KTNN hình thành, biến đổi gắn liền với sự phát triển của cơ chế thị trường, từ kinh tế tự nhiên dần dần chuyển thành kinh tế hàng hóa, chịu tác động của quy luật cung cầu, giá trị và cạnh tranh quá trình này tác động và thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển đa dạng và năng động theo hướng tiên tiến Do vậy, xây dựng cơ cấu KTNN không thể duy ý chí, mà phải nhận thức đúng đắn sự vận động của quy luật khách quan, vận dụng sáng tạo trong điều kiện cụ thể
1.1.2 Các cách tiếp cận cơ cấu KTNN
Cơ cấu KTNN được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau:
Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp: Được thể hiện ở những
mối quan hệ, tỷ lệ giữa các phân ngành trong ngành nông nghiệp ngư-diêm nghiệp…) Trong quá trình phát triển, tương quan giữa các phân ngành trong cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp sẽ có những chuyển biến quan trọng theo hướng đa dạng hoá sản xuất Đó chính là sự phát triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội trong sản xuất nông nghiệp
(nông-lâm-Cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp phản ánh sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa sản xuất, được hình thành dựa trên mối quan hệ giữa các đối tượng khác nhau của nền sản xuất, sản xuất càng phát triển thì tập hợp ngành kinh tế càng đa dạng Xem xét cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp không chỉ dựa trên chỉ tiêu giá trị, mà còn phải phân tích
Trang 21chỉ tiêu lao động, chỉ tiêu vốn đầu tư…Tổng hợp các chỉ tiêu đó phản ánh thực trạng cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp
Cơ sở của cơ cấu ngành là sự phân công lao động xã hội; phân công lao động xã hội càng sâu sắc thì cơ cấu ngành càng được phân chia đa dạng Tiền
đề của sự phân công lao động trong nông nghiệp là năng suất lao động nông nghiệp Trước hết, năng suất lao động của khu vực sản xuất lương thực phải đạt tới một giới hạn nhất định, đảm bảo đủ lương thực cần thiết cho xã hội Đây là cơ sở quan trọng cho sự phân công giữa những người sản xuất lương thực với những người chăn nuôi và các ngành nghề khác trong nông nghiệp
Cơ cấu thành phần kinh tế: Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác
nhau trong nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng là một tất yếu khách quan trên con đường đi lên của đất nước Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Cơ cấu thành phần kinh tế ở
nước ta gồm:
Kinh tế nhà nước: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng
vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Doanh nghiệp nhà nước là bộ phận quan trọng của kinh tế nhà nước, được củng cố
và phát triển trong các ngành và lĩnh vực then chốt, trọng yếu của nền kinh
tế, đảm đương hoạt động mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư kinh doanh Trong nông nghiệp, nông thôn, kinh tế nhà nước cần tập trung vào các lĩnh vực quy hoạch sản xuất, cơ giới hóa, phát triển thủy lợi và kết cấu hạ tầng nông thôn, hỗ trợ vốn và khoa học công
Trang 22nghệ cho nông nghiệp; đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ khoa học kỹ thuật; giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành công nghiệp chế biến nông sản, cung ứng dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, tham gia quản
lý tài nguyên
Kinh tế tập thể: Kinh tế tập thể với hình thức phổ biến là kinh tế hợp
tác xã và tổ liên kết sản xuất là hình thức liên kết tự nguyện của người lao động, kết hợp sức mạnh tập thể với sức mạnh của các thành viên để giải quyết có hiệu quả những vấn đề sản xuất - kinh doanh và đời sống, phát triển trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi, quản lý dân chủ Bối cảnh phát triển hiện nay đòi hỏi phải chú trọng các hình thức hợp tác và hợp tác xã cung ứng dịch vụ, vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho kinh tế hộ gia đình và trang trại; mở rộng các hình thức kinh tế hỗn hợp, liên kết, liên doanh giữa các hợp tác xã với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; kinh tế tập thể cùng với kinh tế nhà nước phải vươn lên nắm vai trò chủ đạo và trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân
Kinh tế cá thể và tiểu chủ: Kinh tế cá thể và tiểu chủ được khuyến
khích phát triển ở cả thành thị, nông thôn, trong các ngành nghề không bị hạn chế, có thể tồn tại độc lập hoặc tham gia vào các hợp tác xã, liên kết với doanh nghiệp bằng nhiều hình thức Trong lĩnh vực nông nghiệp ở nước ta hiện nay, kinh tế hộ gia đình - một bộ phận của kinh tế cá thể, tiểu chủ - đóng vai trò đặc biệt quan trọng Nhà nước khuyến khích phát triển trang trại hộ gia đình nhằm khai thác đất trống, đồi núi trọc, mặt nước và đất hoang hóa
để phát triển sản xuất
Kinh tế tư bản tư nhân: Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích
phát triển không hạn chế về quy mô trong những ngành nghề, lĩnh vực và địa
Trang 23bàn mà pháp luật không cấm; được khuyến khích hợp tác, liên doanh với nhau và liên doanh với doanh nghiệp nhà nước, chuyển thành doanh nghiệp
cổ phần và bán cổ phần cho người lao động
Kinh tế tư bản nhà nước: Kinh tế tư bản nhà nước tồn tại dưới các
hình thức liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân trong và ngoài nước, hình thức này phát triển ngày càng đa dạng
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là
bộ phận của nền kinh tế Việt Nam, được khuyến khích phát triển, hướng mạnh vào sản xuất - kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, hàng hóa và dịch vụ có công nghệ cao, xây dựng kết cấu hạ tầng
Cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ: Cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ phản
ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian, địa lý Trong nông nghiệp, cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ dựa trên điều kiện riêng, đặc thù về tiềm năng, thế mạnh của mỗi vùng trong phạm vi quốc gia hay các địa phương Cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ phản ánh sự khác nhau về điều kiện sản xuất của mỗi vùng nhưng được đặt trong sự thống nhất chung của toàn
bộ nền nông nghiệp Việc phân vùng KTNN theo vùng lãnh thổ không đồng nghĩa với phân chia địa giới hành chính và là cơ sở quan trọng cho việc hoạch định và thực thi chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển nông nghiệp phù hợp với đặc điểm của từng vùng Mục đích của phân vùng là nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, khắc phục mặt hạn chế của từng vùng trong tổng thể chung của cả nước, tạo ra sự liên kết bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau giữa các vùng Quan trọng hơn là mở ra hướng chuyên canh sản xuất nông sản hàng hóa đặc trưng của mỗi vùng với khối lượng lớn, năng suất cao, chất lượng tốt, thuận lợi cho việc chế biến, vận chuyển, tiêu thụ sản
Trang 24phẩm, góp phần phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất mới, sản xuất hàng hóa đạt hiệu quả cao
Trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế vùng, cần chú trọng tác động vĩ mô của Nhà nước thông qua hệ thống các chủ trương, chính sách khuyến nông, xây dựng kết cấu hạ tầng, chính sách thuế ưu đãi, chính sách trợ giá, tín dụng ưu đãi và những thông tin cần thiết
Cơ cấu kinh tế theo quy mô và trình độ công nghệ: Cơ cấu kinh tế
xét theo quy mô và trình độ công nghệ có vai trò rất quan trọng trong quản lý kinh tế Cơ cấu quy mô các cơ sở sản xuất - kinh doanh vừa nói lên mức độ tập trung hoá sản xuất của nền kinh tế, vừa nói lên khả năng linh hoạt, mền dẻo của các loại hình tổ chức sản xuất Cơ cấu trình độ công nghệ phản ánh chất lượng và hàm lượng khoa học, công nghệ và tri thức trong nền kinh tế Trình độ công nghệ của sản xuất được đặc trưng bởi đặc điểm của công nghệ sản xuất và quản lý So với khu vực công nghiệp và dịch vụ, trình độ công nghệ chung trong sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ đã làm cho kỹ thuật về giống, phân bón, tưới tiêu, bảo vệ thực vật… từng bước được đổi mới và áp dụng ngày càng
có hiệu quả vào sản xuất nông nghiệp Quá trình cơ giới hoá nông nghiệp đã thâm nhập vào các khâu làm đất, gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch, vận chuyển sản phẩm… làm cho năng suất lao động ngày càng tăng Đặc biệt, sự tác động của công nghiệp vào khâu chế biến đã làm tăng chất lượng và giá trị hàng hoá của sản phẩm nông nghiệp, từ đó mang lại thu nhập cao hơn cho
người sản xuất nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế theo hình thức tổ chức sản xuất: Sự tồn tại của các
thành phần kinh tế trong nông nghiệp luôn gắn liền với các hình thức tổ chức
Trang 25sản xuất - kinh doanh nhất định như kinh tế hộ nông dân tự chủ, hợp tác xã, trang trại, doanh nghiệp, trạm giống, trạm kỹ thuật, các tổ chức khuyến nông… Việc lựa chọn các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp phải dựa trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất và các điều kiện thực tế
cụ thể khác
Ngoài các cách tiếp cận nói trên, cơ cấu KTNN còn được xem xét dưới các góc độ khác như lao động, thị trường, sản phẩm dưới hình thái hiện vật và giá trị, trình độ xã hội hoá, trình độ phân công, hiệp tác trong nước và quốc tế…
1.1.3 Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu KTNN và phát triển bền vững
1.1.3.1 Về chuyển dịch cơ cấu KTNN
Chuyển dịch cơ cấu KTNN là sự vận động của các yếu tố cấu thành của KTNN theo các quy luật khách quan dưới sự tác động của con người vào các nhân tố ảnh hưởng đến chúng theo những mục tiêu xác định
Chuyển dịch cơ cấu ngành trong nông nghiệp là sự thay đổi tương quan tỷ lệ của mỗi ngành chuyên môn hóa trong tổng thể các ngành trong nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng nông nghiệp là sự chuyển dịch của các ngành nông nghiệp xét theo từng vùng trong nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu KTNN nghĩa là có sự thay đổi ngành nghề sản xuất - kinh doanh, các khâu, các bộ phận vốn có của nông nghiệp, có sự thay đổi quan hệ, tỷ lệ giữa chúng và có sự thay đổi cách tổ chức, bố trí các nguồn nhân lực, vật lực Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu KTNN nói riêng là sự thay đổi một kết cấu kinh tế, thay đổi cả chất và lượng của nền kinh tế, do đó nó là một quá trình cách mạng lâu dài và khó khăn, cần tiến hành từng bước với qui mô và trình độ thích hợp Vì việc kết hợp giữa nông, lâm, ngư nghiệp cho
Trang 26phép tạo ra cân bằng sinh thái hợp lý đảm bảo những điều kiện cần thiết cho sản xuất (đất đai, khí hậu, nước, độ ẩm, …) kinh doanh lâu dài với hiệu quả cao Đó còn là yêu cầu tất yếu của việc sử dụng tài nguyên, tổ chức sản xuất hợp lý
Như vậy, có thể hiểu chuyển dịch cơ cấu KTNN là quá trình làm biến đổi cấu trúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống theo những định hướng và mục tiêu nhất định, nghĩa là đưa hệ thống đó từ trạng thái này tới trạng thái khác tối ưu hơn thông qua sự quản lý, điều khiển của con người theo đúng quy luật khách quan
Chuyển dịch cơ cấu KTNN gắn liền với quá trình tái phân công lao động xã hội Chuyển dịch cơ cấu KTNN tạo ra hệ thống KTNN hợp lý cho phép khai thác tối ưu các nguồn lực (vốn, tài nguyên, lao động, kỹ thuật…), đảm bảo sự phát triển cân đối, ổn định, bền vững, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội
Chuyển dịch cơ cấu KTNN hợp lý tạo điều kiện để ngành nông nghiệp nhanh chóng thích ứng với yêu cầu hội nhập và mở rộng hợp tác quốc tế
Chuyển dịch cơ cấu KTNN hợp lý góp phần duy trì có hiệu quả nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là nền tảng, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa
1.1.3.2 Phát triển bền vững – bền vững nông nghiệp
Định nghĩa của Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển tháng
6-1992 tại Rio de Janiero: phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người, nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai
Trang 27Nội dung của phát triển bền vững là Bảo vệ khí quyển; Bảo vệ đất đai; Bảo vệ sự đa dạng sinh học; Bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngọt; Bảo vệ và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên biển; Sử dụng các công nghệ sinh học thích hợp về sinh thái và xử lý hợp lý về sinh thái các chất thải; Ngăn ngừa việc buôn bán bất hợp pháp các sản phẩm và chất thải độc hại; Nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe con người; cải thiện điều kiện sống và làm việc của người nghèo bằng cách xóa bỏ nghèo khổ và chấm dứt sự thoái hóa của môi trường
Chúng ta có thể quan niệm: phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế -
xã hội với tốc độ cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc khai thác, sử dụng
có hiệu quả nguồn tài nguyên mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả xã hội cho thế hệ tương lai
Trong điều kiện phát triển của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có thể
hiểu phát triển bền vững nông nghiệp trên bốn phương diện sau:
- Trên phương diện kinh tế, sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao nhưng
không bị suy giảm đột biến về tăng trưởng và hiệu quả sản xuất; có độ linh hoạt cao với những biến động của thị trường; đảm bảo tính đồng bộ của nội bộ khu vực nông lâm ngư nghiệp và toàn nền kinh tế
- Trên phương diện xã hội, đảm bảo công bằng xã hội ; rút ngắn khoảng
cách phân hóa về thu nhập và phát triển của dân cư trong khu vực nông thôn và giữa khu vực nông thôn với khu vực thành thị
- Trên phương diện tài nguyên – môi trường, tài nguyên ít suy giảm hoặc
suy giảm ở mức độ có thể kiểm soát hoặc tái tạo được; vấn đề môi trường phát sinh không ảnh hưởng lớn đền phát triển và chất lượng sống và có thể hạn chế trong tương lai
Trang 28- Trên phương diện khả thi, các hệ thống canh tác bền vững đề xuất phải
được người sản xuất chấp nhận
Chuyển dịch cơ cấu KTNN hợp lý góp phần thực hiện thành công quá trình CNH, HĐH, thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu, từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức
Long An hiện nay, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế có những đặc điểm chủ yếu là nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng công nghiệp có tăng song chưa đạt mức mong muốn Trong nội bộ ba nhóm ngành lớn, cơ cấu ngành đã có những thay đổi theo hướng tích cực, có tác dụng bước đầu đối với sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân, song chưa vững chắc, chưa đáp ứng yêu cầu thị trường Trong nội bộ các ngành, đặc biệt là ngành nông – lâm – ngư nghiệp, trình độ trang bị kỹ thuật còn thấp, năng suất cây trồng vật nuôi chưa cao, chất lượng hàng hóa (kể cả hàng hóa đã qua chế biến) còn thấp đã hạn chế khả năng xuất khẩu ra thị trường thế giới Lao động thủ công và bán cơ giới còn khá phổ biến nên năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao, chất lượng sản phẩm chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Trong công nghiệp máy móc thiết bị đã ít về chủng loại lại lạc hậu về công nghiệp, phần lớn thuộc về thế hệ cũ trang bị chấp vá, nhất là công nghiệp nhẹ, công nghiệp nông thôn còn nhỏ bé, chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, nên chưa có sức thu hút lao động dư thừa trong nông nghiệp
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã và đang thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hóa và hợp tác hóa giữa các quốc gia làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng Trong điều kiện đó, chúng ta muốn nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành mới tích cực nhưng gặp khó khăn là vốn, trình
độ công nghệ thấp kém, lao động trình độ thấp… Bởi vậy các khó khăn bất cập
Trang 29xảy ra thường xuyên trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu là điều kiện tất yếu và chúng đòi hỏi phải có các giải pháp và điều chỉnh hợp lý
Nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ cấu kinh tế phù hợp, cơ cấu kinh tế có phân công và hiệp tác lao động, có phân công chuyên môn hoá sản xuất, có mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị, các ngành, các vùng, trong nước với nước ngoài, dựa trên thế mạnh của từng ngành, từng vùng để bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình phát triển
Chuyển dịch cơ cấu KTNN còn là yêu cầu khách quan bắt nguồn từ nhu cầu khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật và lao động hiện có trong nông nghiệp để chuyển sang kinh tế hàng hoá, mở rộng thị trường và phát triển kinh tế nông thôn Để khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng trong nông nghiệp, phát triển sản xuất hàng hoá, mở rộng thị trường và phát triển kinh tế nông thôn thì một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu là phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu KTNN, gắn phát triển nông nghiệp với kinh tế nông thôn, đây là nhiệm vụ có tầm chiến lược trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới của đất nước
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế để khai thác mọi tiềm năng mở rộng sản xuất hàng hoá, phát triển kinh tế nông thôn còn là con đường giảm dần khoảng cách về trình độ phát triển về mọi mặt giữa nông thôn và thành thị, cải thiện
và nâng cao từng bước đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần cho nông dân,
khắc phục cảnh đói nghèo đã bao đời đè nặng lên cuộc sống của họ
Quan điểm phát triển kinh tế của Đảng ta tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI là:
“Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là
Trang 30ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển
kinh tế tri thức”
( VK ĐHĐB TQ lần thứ XI Tr 98-99 )
Điều đó đòi hỏi phải quan tâm đến cơ cấu KTNN và chuyển dịch cơ cấu KTNN trong quá trình phát triển, bởi lẽ trong cơ cấu kinh tế chung ở nước ta, KTNN là bộ phận cấu thành chiếm vị trí đặc biệt quan trọng
Từ những lý do chủ yếu nói trên, có thể khẳng định rằng, chuyển dịch
cơ cấu KTNN là tất yếu khách quan đối với cả nước, cũng như đối với từng vùng, từng địa phương ở nước ta
1.1.4 Nội dung chuyển dịch cơ cấu KTNN
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội bộ ngành nông nghiệp: Chuyển dịch
cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp một cách khoa học và hợp lý là giảm tỷ trọng giá trị sản xuất ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi, thủy sản Trong trồng trọt thì giảm tỷ trọng sản xuất lúa, tăng tỷ trọng diện tích cây rau màu có giá trị kinh tế cao ở cả 3 vụ (Đông Xuân,
Hè Thu và Thu Đông) để đạt hiệu quả cao hơn trên một đơn vị diện tích sản xuất Hiện nay, đối với Long An sản xuất lúa vẫn là nhiệm vụ quan trọng góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Do vậy, cần chuyển dịch cơ cấu màu lúa, giống lúa để có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao trong sản xuất lúa Tiếp tục chuyển mạnh một phần diện tích đất bãi bồi sang đào ao nuôi cá, lập vườn để có giá trị kinh tế cao, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp Từng bước tăng tỷ trọng chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp, xác định hợp lý cơ cấu đàn giữ gia súc, gia cầm, thủy sản Thực hiện phương thức chăn nuôi kết hợp chế biến, tiêu thụ sản phẩm để có hiệu quả kinh tế Từng bước phát triển thuỷ sản trở
Trang 31thành thế mạnh, kết hợp nuôi thả những giống tôm, cá có hiệu quả kinh tế cao với việc phát triển hệ thống tiêu thụ, đưa giá trị thu nhập ở khu vực này tăng cao hàng năm
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo vùng thể hiện sự tái phân công lao động theo vùng, lãnh thổ Dựa trên những lợi thế về điều kiện tự nhiên, địa lý, kinh tế - xã hội của mỗi vùng mà hình thành các vùng kinh tế Các vùng kinh tế này có những đặc điểm khác nhau nhưng có điểm chung là dựa vào những lợi thế đó để khai thác có hiệu quả các nguồn lực và tiềm năng kinh tế trong vùng nhằm tạo ra sự phát triển
Kinh tế vùng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng nhằm khai thác những lợi thế từ lao động, từ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên để xây dựng một chiến lược phát triển sản xuất - kinh doanh theo hướng chuyên môn hoá, đa dạng hoá
Chuyển dịch cơ cấu vùng còn làm cho những diện tích đất trước đây chưa sử dụng, hoặc sử dụng chưa hiệu quả, hoặc chưa chuyển đổi được sang hướng sản xuất phù hợp được sử dụng có hiệu quả hơn Bên cạnh đó, khi có một cơ cấu kinh tế vùng hợp lý sẽ thu hút được vốn đầu tư từ bên ngoài nhằm duy trì và phát triển kinh tế vùng đó
Trong nền kinh tế thị trường, ở mỗi vùng, ngành nào có ưu thế cạnh tranh sẽ phát triển nhanh Từ đó, kéo theo các ngành khác có liên quan cùng phát triển cả về qui mô và tốc độ theo một quan hệ, tỷ lệ nhất định, qua đó đạt hiệu quả kinh tế cao nhất của vùng
Xác định cơ cấu kinh tế vùng hợp lý sẽ tạo cơ sở để khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn những tiềm năng về tài nguyên, sức lao động, cơ sở vật chất hiện có của từng vùng Điều này quyết định tốc độ phát triển kinh tế
Trang 32hàng hoá ở nông thôn mỗi vùng cũng như cả nước Khi có biến đổi lớn trong vùng kinh tế về kết cấu hạ tầng và tình hình kinh tế - xã hội như hệ thống giao thông, thuỷ lợi, trình độ dân trí, vốn đầu tư, thị trường tiêu thụ, đặc biệt
là sự xuất hiện của những tiến bộ mới trong công nghệ sinh học, nhu cầu mới của thị trường… sẽ xuất hiện những ngành sản xuất - kinh doanh mới có hiệu quả kinh tế cao hơn
Để phát triển các ngành mũi nhọn ở các vùng kinh tế nông thôn, trong quá trình xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế vùng cần coi trọng tác động
vĩ mô của Nhà nước thông qua hệ thống các chủ trương, chính sách như: Khuyến nông, xây dựng kết cấu hạ tầng, chính sách thuế ưu đãi và những thông tin cần thiết…
Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế: Trong nền kinh tế thị trường
luôn tồn tại những hình thức sở hữu khác nhau Chính sự đa dạng hoá sở hữu
đã quyết định sự tồn tại của các thành phần kinh tế Sự khác nhau giữa các thành phần kinh tế thể hiện ở trình độ xã hội hoá, sự phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ tổ chức quản lý, phương thức phân phối sản phẩm và các mối quan hệ về lợi ích Mỗi thành phần kinh tế có bản chất và những đặc điểm riêng Lợi ích của các thành phần kinh tế vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn và có mối quan hệ với nhau, cùng tồn tại với nhau trong một nền kinh
tế Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã trở thành tất yếu trong đời sống xã hội của nhiều nước trên thế giới Do đó, phải tạo điều kiện
để các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp ở nước ta được thực hiện theo hướng đảm bảo để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định
Trang 33hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo điều kiện và môi trường thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lao động: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo lao động là sự tái phân công lao động dựa vào các lợi thế trong quá trình phát triển sản xuất Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lao động nhằm tạo ra đủ việc làm cho người lao động, nâng cao thu nhập và đời sống cho người lao động, phát huy năng lực của lao động, đóng góp hiệu quả hơn cho khu vực, cho vùng, cho đất nước, cho sự phát triển và ổn định kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lao động được thực hiện trên cơ sở kế hoạch, chiến lược qui hoạch đội ngũ cán bộ, công nhân, nông dân… theo một cơ cấu hợp lý để từ
đó phát huy được thế mạnh về lao động
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo trình độ công nghệ: Trình độ công
nghệ trong sản xuất nông nghiệp nước ta từng bước được nâng cao, cơ sở vất chất kỹ thuật của nông nghiệp ngày càng hiện đại, khai thác có hiệu quả hơn những tiềm năng to lớn của nền nông nghiệp nhiệt đới phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên, bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện khoa học công nghệ trên thế giới phát triển cao, nhất là công nghệ tin học, công nghệ sinh học, đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo trình độ công nghệ trong sản xuất nông nghiệp Xu hướng chung hiện nay là phải tăng tỷ trọng công nghệ sản xuất và quản lý hiện đại kết hợp với khai thác lợi thế của công nghệ truyền thống
Trang 341.1.5 Yêu cầu đối với chuyển dịch cơ cấu KTNN theo hướng bền vững
Một là, chuyển dịch cơ cấu KTNN gắn với tăng trưởng: Tăng trưởng
kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng về sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế, được phản ánh qua sự tăng lên về quy mô sản lượng và sản lượng bình quân đầu người của một nền kinh tế Như vậy, có thể hiểu tăng trưởng nông nghiệp là sự tăng lên về sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp Nguồn gốc của tăng trưởng nông nghiệp là sự gia tăng, sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực đầu vào cơ bản đối với quá trình sản xuất nông nghiệp là đất đai, vốn, lao động và công nghệ Mặt khác, để đảm bảo cung cấp đủ lương thực, thực phẩm thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng của dân cư ngày càng tăng, nguyên liệu cho phát triển công nghiệp, vốn và ngoại tệ cho tái sản xuất mở rộng và tích lũy ban đầu để đầu tư phát triển các ngành kinh tế khác, các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp phải không ngừng gia tăng quy mô sản lượng, nghĩa là tăng trưởng Tuy nhiên, mức tăng sản lượng giữa các ngành, giữa các lĩnh vực là không giống nhau, nhờ đó tạo tiền đề để chuyển dịch về cơ cấu giữa các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp Để đảm bảo về mặt số lượng và chất lượng của tăng trưởng, việc đổi mới cơ cấu các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp, hay nói cách khác, việc chuyển dịch cơ cấu KTNN phải dựa trên cơ sở bố trí lại một cách hợp lý các nguồn lực được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp giữa các ngành, các lĩnh vực
Hai là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phát triển nông nghiệp bền
vững: Phát triển nông nghiệp bền vững luôn là mục tiêu phấn đấu của mọi
quốc gia và là một quá trình biến đổi lâu dài theo xu hướng ngày càng hoàn
Trang 35thiện Phát triển nông nghiệp bền vững có ý nghĩa rộng lớn, bao hàm cả bốn mục tiêu cơ bản là: Tăng trưởng kinh tế - tăng về quy mô số lượng, thay đổi
về cơ cấu kinh tế - thay đổi về chất lượng, tiến bộ về xã hội - nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư, cải thiện về môi trường tự nhiên, đảm bảo cân bằng sinh thái và chỉ khi nào đồng thời đạt hiệu quả cao ở cả bốn mục tiêu này thì nền nông nghiệp mới được xem là phát triển bền vững
Ngày nay, hầu hết các nhà kinh tế học coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế
là một trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của một nền kinh tế Bởi vì, có những quốc gia đạt được mức tăng trưởng nông nghiệp rất cao nhưng vẫn còn một bộ phận lớn người dân sống ở nông thôn có thu nhập dưới mức nghèo đói Đây là hệ quả của sự chuyển dịch thiếu cân đối giữa các ngành kinh tế, giữa các thành phần kinh tế và giữa các vùng lãnh thổ của nền kinh tế đó Mặt khác, sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế có thể kéo theo sự khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, khiến cho các nguồn tài nguyên bị kiệt quệ, làm phá vỡ cân bằng môi trường sinh thái hoặc cùng với tăng trưởng là sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị và nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp bị hạ thấp hoặc mất đi, dẫn tới cơ cấu xã hội bị đảo lộn và bất
ổn định Tuy nhiên, nếu chỉ nhấn mạnh đến công bằng xã hội và bền vững môi trường tự nhiên sẽ dẫn tới phát triển dàn trải giữa các ngành và giữa các vùng, dẫn tới tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu diễn ra chậm, không đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì thế, để bảo đảm hài hòa cả mục tiêu trước mắt và lâu dài, nhiều nước chọn con đường phát triển toàn diện thông qua tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 36Ba là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải xuất phát từ tín hiệu của thị
trường: Phát triển nông nghiệp toàn diện với tốc độ tăng trưởng cao và bền
vững nhất thiết phải dựa trên cơ sở kinh tế hàng hóa gắn với thị trường Chỉ
có như vậy mới khắc phục được xu hướng tự phát, tự cung, tự cấp, phân tán nhỏ lẻ trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện nay Thị trường quyết định trong sản xuất hàng hóa khi đặt ra yêu cầu mẫu mã, số lượng bao nhiêu, chất lượng và chủng loại, các yếu tố đất đai, lao động, khí hậu, kinh nghiệm của người sản xuất chỉ góp phần hình thành giá thành sản phẩm
Bốn là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với hiệu quả kinh tế và xã
hội: Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải là cơ cấu đảm bảo đạt hiệu quả kinh tế và
xã hội cao Trong điều kiện kinh tế thị trường, sản xuất chỉ có thể tồn tại được khi sản phẩm có khả năng cạnh tranh, hay nói cách khác sản xuất phải đạt hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế không phải bao giờ cũng thống nhất với hiệu quả xã hội Do vậy, chuyển dịch cơ cấu KTNN không chỉ tính đến hiệu quả về mặt kinh tế mà còn phải tính đến hiệu quả về mặt xã hội, phải được đo lường bằng các chỉ tiêu tổng hợp, cả về kinh tế và xã hội
Năm là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với nền kinh tế mở và hội
nhập quốc tế: Chuyển dịch cơ cấu KTNN, nông thôn phải phù hợp với xu
hướng hội nhập và mở cửa với thế giới và khu vực Yêu cầu trên còn là cơ sở
để hình thành các giải pháp xây dựng cơ cấu KTNN, nông thôn hợp lý trong giai đoạn hiện nay
Sáu là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với công bằng xã hội:
Chuyển dịch cơ cấu KTNN, nông thôn theo hướng CNH, HĐH trong thế kỷ XXI ở nước ta không chỉ đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, vững chắc
Trang 37và toàn diện mà còn phải đảm bảo ổn định xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, khu vực nông thôn nói riêng Vì vậy, cùng với phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu KTNN phải gắn với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo ở nông thôn, giữa nông thôn và thành thị
Bảy là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải kết hợp giữa truyền thống và
hiện đại: Quá trình chuyển dịch cơ cấu KTNN nước ta hiện nay, một mặt
phải kế thừa những kinh nghiệm truyền thống, bao gồm cả ngành nghề truyền thống ở nông thôn, nông nghiệp lúa nước, kinh nghiệm thâm canh cây trồng, vật nuôi, giống cây đặc sản… Mặt khác, phải tiếp cận với xu thế hiện đại của thế giới và khu vực, thực hiện phương châm “đi tắt đón đầu”, nhanh chóng ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và quy trình công nghệ tiên tiến vào phát triển nông nghiệp, nông thôn
Tám là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn mục đích tăng trưởng
kinh tế với phân công lại lao động nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ ở khu vực
này: Để đảm bảo sự phát triển nông thôn bền vững, ổn định thì cơ cấu lao
động nông thôn phải được điều chỉnh hợp lý Cơ cấu kinh tế gắn với phân công lại lao động nông nghiệp là phương hướng lâu dài của chuyển dịch cơ cấu KTNN, nông thôn nước ta Thay đổi cơ cấu KTNN không chỉ thúc đẩy phân công lại lao động xã hội bên trong lãnh thổ mà còn thúc đẩy quá trình tham gia vào hợp tác lao động quốc tế tạo thuận lợi cho từng ngành chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế sâu hơn, cạnh tranh mạnh mẽ hơn, nhờ
đó mà kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 38Chín là, chuyển dịch cơ cấu KTNN gắn với quy hoạch, chiến lược và
mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, của vùng và của cả nước:
Nông nghiệp trên địa bàn huyện là một bộ phận của nền nông nghiệp cũng như nền kinh tế nói chung của tỉnh, của vùng và cả nước Do đó, chuyển dịch
cơ cấu KTNN trên địa bàn phải gắn kết với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, của vùng và của cả nước về mục tiêu, phương hướng và giải pháp
Mười là, chuyển dịch cơ cấu KTNN gắn với công nghiệp hóa, đô thị
hóa và xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn: Xu hướng và tốc độ chuyển dịch
cơ cấu KTNN phải phù hợp với xu hướng và tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn trong từng giai đoạn Mối tương quan xuất phát từ thực tế ở nước ta và kinh nghiệm của các nước: Công nghiệp hóa, đô thị hóa và xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn vừa tạo ra điều kiện vật chất, vừa thu hút lao động dư thừa của khu vực này trong quá trình CNH, HĐH
1.1.6 Các yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu KTNN
Thứ nhất, điều kiện tự nhiên:
Theo FAO, các yếu tố tự nhiên có vai trò quan trọng trong việc hình thành các hệ sinh thái nông nghiệp khác nhau Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hình thành các cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên một vùng lãnh thổ gồm có: Khí hậu, nguồn nước, đất đai và hệ sinh vật
Sản xuất nông nghiệp diễn ra trên địa bàn rộng lớn và đối tượng khai thác là sinh vật nuôi trồng gắn liền với vị trí địa lý, thổ nhưỡng, khí hậu, chế
độ thuỷ văn, ánh sáng, hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên… Đây là các yếu
tố tiền đề cực kỳ quan trọng đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu KTNN
Trang 39Vấn đề căn bản là lựa chọn được cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu nghề nghiệp để huy động và khai thác có hiệu quả nhất những lợi thế so sánh
về tự nhiên, tránh và hạn chế rủi ro cũng như những tác động bất lợi của tự nhiên để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần cạnh tranh thắng lợi trong nền kinh tế thị trường
Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghệp phải bố trí được cơ cấu cây trồng, vật nuôi tương thích với điều kiện thổ nhưỡng, chế độ thủy văn, ánh sáng, khí hậu, phải tôn trọng các quy luật tự nhiên để đảm bảo năng suất cây trồng, vật nuôi cao nhất, đảm bảo mức sinh lời lớn với chi phí thấp, qua đó đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất
Ngày nay, mặc dù khoa học – công nghệ đã phát triển đến trình độ rất cao, con người đã tạo ra những giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao và thích ứng với điều kiện tự nhiên, nhưng để có một cơ cấu KTNN hợp lí, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, nhất thiết phải tôn trọng các quy luật tự nhiên, coi trọng vấn đề bảo vệ môi trường, sinh thái Đồng thời khuyến khích
sự sáng tạo của con người nhằm tranh thủ tốt nhất những lợi thế của tự nhiên
để phát triển kinh tế nói chung và KTNN nói riêng đạt hiệu quả cao nhất
Thứ hai, yếu tố kinh tế - xã hội:
* Yếu tố thị trường:
Trước hết, phải kể đến nhân tố thị trường Thông qua quan hệ cầu, giá cả thị trường đối với sản phẩm nông nghiệp, yếu tố này chi phối rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi Bởi vì, trong kinh tế thị trường những sản phẩm nào có lợi nhuận cao, thị trường ổn định thì các doanh nghiệp, hộ gia đình, hợp tác xã sẽ đầu tư vốn để phát triển
Trang 40cung-Thông qua những chức năng như điều tiết và kích thích sản xuất, thông tin tín hiệu cho người sản xuất và quản lý, thị trường tác động mạnh đến sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu ngành nghề trong sản xuất nông nghiệp Bởi vì, mục đích của người kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận, nếu có thị trường ổn định để tiêu thụ hàng hoá, giá cả có thể chấp nhận được thì đó là căn
cứ, là tiếng gọi đối với nhà đầu tư kinh doanh nông nghiệp
Quy mô, cơ cấu và động thái của thị trường chi phối rất lớn và có thể nói là yếu tố quyết định đối với người sản xuất - kinh doanh, chi phối quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi
Trong nền kinh tế thị trường, cả 3 vấn đề cơ bản là sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai đều do thị trường quyết định Thị trường không chỉ quyết định về số lượng mà còn về chất lượng, cơ cấu, mẫu mã sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Thị trường tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của cơ sở kinh tế, đến xu hướng phân công lao động, vị trí, tỷ trọng các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và chuyển dịch cơ cấu KTNN có hiệu quả phải căn cứ vào nhu cầu thị trường để làm định hướng chuyển dịch Thị trường có vai trò là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời chuyển dịch cơ cấu KTNN là điều kiện thúc đẩy thị trường nông nghiệp phát triển Tuy nhiên, nếu để thị trường phát triển tự phát sẽ dẫn đến mất cân đối, do đó cần phải có
sự quản lý của Nhà nước để điều tiết thị trường
* Vốn đầu tư:
Vốn đầu tư cũng là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc chuyển dịch cơ cấu KTNN Có vốn mới giải quyết được vấn đề tăng cường cơ sở kỹ thuật, ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn