1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã huyện tam nông, tỉnh phú thọ

126 336 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, về trình độ, năng lực và việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Tam Nông thời gian

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc

rõ ràng./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Trọng Vĩnh

Trang 2

Tam Nông, tháng 02 năm 2014

Tác giả luận văn

Trần Trọng Vĩnh

Trang 3

MỤC LỤC

Trang TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐÁNH GIÁ NHU CẦUĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ VÀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 6

1.1 Cơ sở lý luận về đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã 6

1.1.1 Cán bộ và công chức cấp xã 6

1.1.2 Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã 9 1.1.3 Nội dung đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã 9

1.1.4 Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã 10 1.1.4.2 Khái niệm đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng 12

1.1.5 Vai trò của công tác đào tạo để nâng chất lượng cán bộ nhằm phát triển kinh tế 21

1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã của huyện Tam Nông 22

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác đào tạo, bồi dưỡng 25

1.2.1 Quan điểm của Đảng ta về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức 25

1.2.2 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của các nước trên thế giới 26

Trang 4

1.2.3 Thực trạng và kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

cấp xã ở một số địa phương 27

1.2.4 Các công trình nghiên cứu liên quan 31

1.2.5 Bài học kinh nghiệm rút ra sau nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn 33

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 34

2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 34

2.2 Phương pháp nghiên cứu 38

2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu: 38

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 38

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 41

2.2.4 Phương pháp phân tích 41

2.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu: 42

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ 43

3.1.1 Thực trạng số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã của huyện 43

3.1.2 Tình hình công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã ở huyện Tam Nông 74

3.1.3 Đánh giá nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã 83

3.2 Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã 101

3.2.1 Quan điểm, định hướng về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 101

Trang 5

3.2.2 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực cán bộ, công chức cấp xã 102 3.2.3 Cải cách thủ tục hành chính, tinh giản bộ máy quản lý 103 3.2.4 Một số đề xuất và giải pháp khắc phục về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã 104 KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 115 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Đặc điểm, ưu điểm và nhược điểm của các hình thức đào tạo 20

3.1 Trình độ cán bộ cấp xã huyện Tam Nông 48 3.2 Trình độ công chức cấp xã huyện Tam Nông 50 3.3 Thông tin chung về cán bộ, công chức cấp xã 58 3.4 Điều kiện làm việc của cán bộ, công chức 60

3.5 Đánh giá của cán bộ lãnh đạo cấp huyện về các điều kiện

3.8 Đánh giá của cán bộ cấp huyện về năng lực hiện nay của

3.11 Ý kiến đánh giá của cán bộ, công chức cấp xã về công tác

3.12 Các lĩnh vực kỹ năng và kiến thức cần cho cán bộ, công

3.13 Những kỹ năng/kiến thức đã có của cán bộ, công chức cấp x 86 3.14 Những khó khăn của cán bộ, công chức cấp xã 89 3.15 Ý kiến đề xuất của cán bộ cấp huyện về vấn đề đào tạo và

Trang 7

3.16 Cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã theo độ tuổi, giới tính,

3.17 Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã 96

3.20 Ý kiến của cán bộ, công chức cấp xã về giải pháp nâng cao

Trang 8

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, nơi thực hiện trực tiếp và cụ thể các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Vì vậy, việc quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở xã,

phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ, công chức cấp xã) có đủ phẩm

chất, năng lực là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của Đảng

Xuất phát từ vị trí quan trọng của cơ sở xã, phường, thị trấn, Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 18 tháng 3 năm 2002 về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn” Sau khi Nghị quyết ra đời, Chính phủ đã ban hành các Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003; Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003; Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách cấp xã

Thời gian qua, thực hiện Nghị quyết của Trung ương và các Nghị định của Chính phủ; Tỉnh ủy, UBND các địa phương trên cả nước đã có nhiều giải pháp tích cực để nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Các cấp ủy đã coi trọng và đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và không ngừng nâng cao trình độ, kiến thức các mặt của đội ngũ cán

bộ ở cơ sở Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã từng bước được phát triển cả số lượng và chất lượng Việc chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và đưa sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng về xã, phường, thị trấn công tác đã từng bước trẻ hóa và nâng cao trình độ về các

Trang 9

mặt của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Chất lượng đội ngũ được nâng lên

cả về trình độ văn hóa, chuyên môn, lý luận chính trị và kinh nghiệm thực tiễn Hệ thống chính trị ở cơ sở đã có nhiều chuyển biến tích cực góp phần to lớn trong quá trình xây dựng phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, góp phần quan trọng đảm bảo ổn định quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội

Trong những năm qua, Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện Tam Nông đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư, tạo những điều kiện thuận lợi nhất trong khả năng cho phép về việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã

Tuy nhiên, do “lịch sử” để lại còn có không ít cán bộ, công chức cấp xã trong hệ thống chính trị chưa qua đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, không được thường xuyên bồi dưỡng bổ trợ kiến thức nghiệp vụ chuyên môn, kiến thức pháp luật, kỹ năng hành chính, tin học Vì vậy chưa đáp ứng tốt nhất yêu cầu quản lý điều hành ở địa phương

Cán bộ, công chức cấp xã hầu hết chưa qua đào tạo chính qui, cơ bản; còn thiếu và yếu về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng Họ chỉ có trình độ văn hoá trung học phổ thông, trung học cơ sở, có chút năng khiếu và nhiệt tình; chưa có phương pháp công tác, phương pháp tổ chức hoạt động khoa học; trong công tác còn lúng túng, bị động, phải kiêm nhiệm nhiều công việc

Trên thực tế, cán bộ, công chức cấp xã đang phải tiếp nhận, xử lý một khối lượng công việc ngày càng nhiều Trong khi nhiều cán bộ, công chức ở cấp xã lại không được đào tạo cơ bản, nhiều chế độ chính sách liên tục được thay đổi nhưng ít được bồi dưỡng nghiệp vụ Việc nắm bắt thông tin chậm dẫn tới thiếu tính nhạy bén, linh hoạt trong xử lý công việc, hiệu quả thực thi công vụ còn thấp, gây bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng tới sự phát triển về

kinh tế, xã hội của địa phương

Trang 10

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, về trình độ, năng lực và việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở huyện Tam Nông thời gian qua, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do chúng ta chưa có đủ chương trình, nội dung, phương thức, phương pháp và nguồn kinh phí phục vụ cho việc đào tạo, bồi dưỡng, cũng như chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, công chức cấp xã

Theo đánh giá tại Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tam Nông lần thứ XXVIII: "công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã của huyện Tam Nông vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Nguyên nhân chủ yếu

là do chưa có những đột phá mới về chính sách, để đổi mới thật sự và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cơ sở ở địa phương"

Vì vậy, đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp

xã là cần thiết, là giải pháp cơ bản mà chúng ta cần phải tập trung nghiên cứu, hoàn thiện, bảo đảm có hiệu quả cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã của địa phương

Xác định đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã là nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hoá-

xã hội ở cơ sở Xuất phát từ yêu cầu đó, nên tác giả quyết định chọn Đề tài:

“Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã huyện Tam Nông” làm Luận văn Cao học

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 11

- Nghiên cứu về đội ngũ cán bộ và công chức các xã, thị trấn

- Nghiên cứu nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ và công chức cấp xã của huyện Tam Nông

- Đối tượng khảo sát của đề tài là cán bộ và công chức hiện đang công tác tại một số xã của huyện Tam Nông Cụ thể:

+ Cán bộ cấp xã bao gồm: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó

Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản

Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam;

+ Công chức cấp xã gồm: Trưởng Công an, Chỉ huy Trưởng Quân sự;

Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng - Nông nghiệp - Môi trường; Tài chính - Kế toán, Tư pháp - Hộ tịch, Văn hoá - Xã hội

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu:

+ Nghiên cứu một số vấn đề về đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã

Trang 12

+ Thực trạng và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã + Đề xuất một số giải pháp về việc sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và nội dung chương trình, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã cho phù hợp

+ Số liệu được thu thập: Số liệu đã công bố thu thập 3 năm, từ năm

2010 đến năm 2013, số liệu mới chúng tôi tiến hành điều tra năm 2013

+ Thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài được tiến hành trong 12 tháng, từ tháng 02 năm 2013 đến tháng 02 năm 2014

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐÁNH GIÁ NHU CẦU

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ VÀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ

1.1 Cơ sở lý luận về đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã

1.1.1 Cán bộ và công chức cấp xã

a Khái niệm cán bộ và công chức cấp xã

- Cán bộ xã, phường, trị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã): là

công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị-xã hội

Gồm các chức vụ sau :

+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;

+ Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

+ Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

+ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

+ Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam;

+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

- Công chức cấp xã: là công dân Việt Nam, được tuyển dụng giữ một

chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên

chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước;

Bao gồm 7 chức danh sau đây:

+ Trưởng Công an;

+ Chỉ huy trưởng Quân sự;

Trang 14

+ Văn phòng - Thống kê;

+ Địa chính - Xây dựng - Nông nghiệp - Môi trường;

+ Tài chính - Kế toán;

+ Tư pháp - Hộ tịch;

+ Văn hoá - Xã hội

b Tiêu chuẩn cần có của cán bộ và công chức cấp xã

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định tiêu chuẩn của người cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước như sau:

“Cán bộ phải là người có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”

Tiêu chuẩn của người cán bộ, công chức như trên đã phản ánh một cách

cơ bản và đầy đủ các yêu cầu đối với người cán bộ, công chức (nói chung) và cán bộ, công chức cấp xã (nói riêng), cần có trong thời kỳ đẩy mạnh sự

nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; đồng thời, đây sẽ là căn cứ pháp lý quan trọng cho việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí,

Trang 15

trung học, trung học bổ túc văn hóa; phải được đào tạo, bồi dưỡng để có trình độ chuyên môn nhất định về tổ chức quản lý và các hoạt động về lĩnh vực đảm nhiệm, tiến tới phải qua đào tạo để có bằng trung cấp chuyên môn trở lên

- Về trình độ chính trị

Đối với cán bộ, công chức cấp xã đòi hỏi cần thiết phải được trang bị trình độ lý luận chính trị nhất định, để có quan điểm chính trị vững vàng, phải nắm được đường lối, quan điểm của Đảng về công tác chính quyền cơ sở theo tinh thần các nghị quyết của Đảng và các chỉ thị, Nghị định của Chính phủ

Ngoài ra, cán bộ và công chức cấp xã còn phải nhậy bén và có quan điểm đúng để nắm bắt và triển khai các chủ trương của các cấp ủy và chính quyền các cấp về sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội ở địa phương

- Về trình độ chuyên môn

Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội thì người làm nghề gì cũng phải am hiểu nghề đó, làm một cán bộ, công chức cấp xã cần phải có khả năng về tổ chức quản lý và chuyên môn thì mới làm được Nếu chuyên môn nghiệp vụ giỏi thì càng thuận lợi cho công tác và thúc đẩy cho sự nghiệp phát triển Khả năng chuyên môn đòi hỏi người cán bộ, công chức cấp xã là

sở trường, nhiệt huyết và lòng say mê nghề nghiệp

Cán bộ, công chức cấp xã vừa là người hướng dẫn, tổ chức các hoạt động ở cấp xã, vừa là người thực hiện nên đòi hỏi ở họ phải giỏi cả về phương pháp tổ chức, cả hoạt động cụ thể để chuyển tải chủ trương, chính sách của Đảng đến nhân dân Cán bộ, công chức cấp xã phải am hiểu và nắm bắt được những nghiệp vụ chuyên môn thì mới quản lý tổ chức các hoạt động đó được

- Uy tín của cấp ủy, chính quyền và quần chúng

Là một cán bộ, công chức cấp xã phải bằng việc làm của mình, bằng hiệu quả của công việc để làm chuyển biến nhận thức của cấp ủy, chính quyền; đồng

Trang 16

thời bằng hiệu quả công việc nâng cao niềm tin của quần chúng, lôi kéo họ vào các hoạt động Cấp ủy, chính quyền ủng hộ, quần chúng tin tưởng thì uy tín và sức mạnh của cán bộ và công chức cấp xã ngày được nâng cao

1.1.2 Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã

Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng thực sự được coi là một bước quan trọng, có tính quyết định trong việc đào tạo, bồi dưỡng có đáp ứng được nhu cầu thực tế trong điều kiện hiện nay hay không? Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là một công cụ đo được giá trị thực để biết về những người tham gia trước khi đào tạo, đồng thời nó cho người cán bộ đào tạo biết trước những thông tin về những chủ đề cần được thảo luận và làm thế nào để thực hiện nó dựa vào những đặc điểm của những thành viên tham gia Việc đánh giá nhu cầu đào tạo có hiệu quả sẽ thúc đẩy việc giảng dạy lấy người học làm trung tâm và xây dựng chương trình cho khoá học dựa trên những kiến thức

và kinh nghiệm của người được đào tạo và bồi dưỡng

Việc đánh giá nhu cầu đào tạo là tìm ra những kiến thức kỹ năng mà người học cần và thiếu hụt chứ không phải những cái mà ta cung cấp cho họ

Đánh giá nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã làm

cơ sở cho việc xác định nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng, từ đó lấy căn cứ để xây dựng các chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức và trình độ đào tạo

để đào tạo cán bộ, công chức cấp xã là phù hợp nhất Đánh giá nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng không chỉ để xác định các nhu cầu về kỹ năng cụ thể mà nó cần tìm ra các chủ thể của các nhu cầu đào tạo

Xác định nhu cầu đào tạo chính là xác định thị trường

1.1.3 Nội dung đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã

- Nghiên cứu năng lực cán bộ và công chức cấp xã: Là nghiên cứu khả năng của đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã Đây là một yếu tố quan trọng

Trang 17

vì khả năng tốt sẽ có đủ điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất, trong hoàn cảnh các điều kiện khác giống nhau

- Nghiên cứu chỉ tiêu về chất lượng, số lượng đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã là nghiên cứu về số lượng, chất lượng, tình hình phân công và phối hợp công tác, xem các chỉ tiêu này có đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm

vụ thực tiễn đặt ra và nhu cầu phát triển trong tương lai

- Nghiên cứu nhiệm vụ của cán bộ và công chức cấp xã là đi sâu tìm hiểu về các nhiệm vụ chính của đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã

- Nghiên cứu tình hình thực hiện các nhiệm vụ của cán bộ và công chức cấp xã để giải đáp được sự tương ứng giữa việc triển khai thực hiện với yêu cầu đòi hỏi phải đạt được

- Đánh giá được sự khác biệt giữa nhiệm vụ và khả năng thực hiện, tìm

ra nguyên nhân, chính là so sánh để tìm ra sự chênh lệch thiếu hụt;

- Thu thập ý kiến, nguyện vọng, mong muốn về nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ và công chức cấp xã theo trình độ chuyên môn và các

kỹ năng

- Đề xuất các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trong thời gian tới

- Kiến nghị các giải pháp cơ chế chính sách khác có liên quan

1.1.4 Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã

1.1.4.1 Quan điểm chung về cấp xã

Theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm

2003, chính quyền địa phương được tổ chức ở 3 cấp tương ứng đối với các đơn vị hành chính sau đây:

- Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh)

- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);

- Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)

Trang 18

Như vậy, cấp xã là cấp chính quyền cuối cùng trong hệ thống chính quyền 3 cấp của Nhà nước ta; là bộ phận quan trọng, cấu thành hệ thống chính quyền Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Theo quan điểm của Đảng ta, Hệ thống chính trị ở cơ sở bao gồm: Tổ chức cơ sở Đảng - là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị ở cơ sở; Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị-xã hội khác-là cơ sở chính trị của chính quyền và của xã hội; chính quyền cơ sở-là trụ cột, là xương sống, là trung tâm của hệ thống chính trị ở cơ sở

Cấp xã có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị ở

cơ sở Vai trò, vị trí quan trọng của cấp xã được thể hiện thông qua vai trò, vị trí của hai cơ quan cấu thành cấp xã là: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp xã

a Hội đồng nhân dân

Là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương Hội đồng nhân dân cấp xã có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn:

+ Quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế -

xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước

+ Giám sát đối với hoạt động và việc tuân theo pháp luật của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương theo quy định của pháp luật

b Uỷ ban nhân dân

Là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp, là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp,

Trang 19

luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, nhằm bảo đảm cho các chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và các chính sách khác của Đảng và Nhà nước được thực thi ở cơ sở một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời, hiệu quả

1.1.4.2 Khái niệm đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng

Nhu cầu là một trạng thái của nhân cách, biểu hiện sự phụ thuộc của nó vào những điều kiện tồn tại và phát triển cụ thể, là nguồn gốc ở tính tích cực của cá nhân, nó thúc đẩy con người hành động, hoạt động

Nhu cầu nói một cách cụ thể là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu cụ thể khác nhau

Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng lớn, đòi hỏi thời gian cấp bách thì khả năng chi phối con người càng cao Về mặt quản

lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát được cá nhân Nhận thức có sự chi phối nhất định trong đời sống, nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thỏa mãn nhu cầu, điều tiết nhu cầu cho phù hợp với hoàn cảnh chung và của mỗi cá nhân

Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu hay còn gọi là nhu yếu đã được hình thành qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa

Nhu cầu của một cá nhân là đa dạng, phong phú và vô tận Về mặt quản

lý, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân Việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của nhà quản lý Do đó người quản lý luôn

Trang 20

có thể điều khiển được các cá nhân

Căn cứ vào đối tượng của nhu cầu (tức là cái mà con người cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển) người ta chia nhu cầu thành các loại như:

Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; nhu cầu sinh vật và nhu cầu xã hội

Nhu cầu đào tạo là sự mong muốn giảm sự khác biệt giữa thực tế với điều kiện nên có Sự khác biệt này có thể về kiến thức, quan điểm hay kỹ năng mà học viên cần có để làm việc tốt hơn

Muốn nâng cao chất lượng về đào tạo thì không thể bỏ qua công tác

đánh giá Đánh giá giúp cho những người được đào tạo nhận thức về bản thân

tốt hơn, giúp cho những người tham gia trong quá trình đào tạo cải thiện được phương pháp sư phạm, giáo cụ, phương thức tổ chức

Đánh giá có thể cung cấp cho những người được đào tạo, những người tham gia đào tạo, nhà lãnh đạo; giúp họ quyết định sẽ đào tạo ai và đào tạo như thế nào, thậm chí có thể cho phép họ ra quyết định sẽ tiếp tục đào tạo hay tạm dừng hoạt động đào tạo Đánh giá cũng là quá trình tham gia đào tạo Mọi hoạt động đều bao gồm công việc đánh giá Do vậy, đánh giá trước hết là công nhận giá trị của một công việc, một nỗ lực

Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là quá trình thu thập và phân

tích thông tin để làm rõ nhu cầu cải thiện kết quả thực hiện công việc và xác định liệu đào tạo có phải là giải pháp

Để đánh giá được nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng thì cần phải chỉ ra được sự khác biệt giữa yêu cầu của công việc và khả năng thực hiện công việc

cụ thể của cán bộ, công chức

Đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng là quá trình tìm ra sự thiếu hụt

giữa cái có và cái cần có về kiến thức và kỹ năng, quan điểm của học viên Đánh giá nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng chỉ ra điều mà đào tạo cần hướng vào,

là căn cứ để xây dựng các mục tiêu và lựa chọn được nội dung đào tạo

Trang 21

Đánh giá nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng về số lượng từng loại cán bộ, công chức cấp xã so với:

- Yêu cầu nhiệm vụ;

- Nguồn nhân lực ở cấp xã hiện có;

- Nguồn nhân lực ở cấp xã trong tương lai;

- Nguồn nhân lực ở cấp xã theo kế hoạch

Đánh giá nhu cầu đào tạo và bồi dưỡng về chất lượng từng loại cán bộ công chức cấp xã theo các tiêu chí:

- Trình độ học vấn

- Trình độ lý luận chính trị

- Trình độ nghiệp vụ chuyên môn

- So với chuẩn quốc gia, chuẩn quốc tế

1.1.4.3 Đào tạo và bồi dưỡng

Thực chất đào tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm phản ánh cùng một mục đích, là trang bị kiến thức cho người cán bộ, công chức Song, hai khái niệm có những thuộc tính, nội dung, quy trình khác nhau

Đào tạo là một quá trình truyền thụ kiến thức mới để người công chức

thông qua quá trình đó trở thành công chức có văn bằng mới hoặc cao hơn trình độ trước đó;

Bồi dưỡng là quá trình hoạt động làm tăng thêm những kiến thức mới

đòi hỏi với những người mà họ đang giữ chức vụ đang thực thi công vụ của một ngạch bậc nhất định Kết quả của các khoá bồi dưỡng là người học nhận được những chứng chỉ ghi nhận kết quả

Thông thường đào tạo là một quá trình trang bị kiến thức cơ bản mới

hoặc ở trình độ cao hơn nên thời gian đào tạo thường dài hơn so với bồi dưỡng

Trang 22

Còn bồi dưỡng với mục đích chủ yếu là bổ sung kiến thức mới hoặc là

kiến thức chuyên sâu, cập nhật những vấn đề liên quan đến chức vụ cán bộ, công chức đang đảm nhận nên thời gian học thường ngắn hơn

Hiện nay, có nhiều cách giải thích khái niệm đào tạo, bồi dưỡng (cán

bộ, công chức) Tuy nhiên, có 2 cách hiểu cơ bản như sau:

- Khái niệm thứ nhất: Đào tạo, bồi dưỡng là thực hiện những nhiệm vụ

của giáo dục quốc dân Tổ chức đào tạo các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học; là tổ chức cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho cán bộ, công chức

- Khái niệm thứ hai: Đào tạo, bồi dưỡng là một thuật ngữ không tách

rời, là hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị quản lý và sử dụng cán bộ, công chức, nhằm cập nhật kiến thức, trang bị kỹ năng, phương pháp làm việc cho cán bộ, công chức

Đào tạo và bồi dưỡng là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống; chuẩn bị cho con người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người

Về cơ bản đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn do việc tự đào tạo của người đó, thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các hoạt động xã hội, lao động sản xuất, rồi tự rút kinh nghiệm của người đó quyết định Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao

Đối tượng cần được đào tạo là mọi công dân trong thôn xóm, phố phường, tổ dân cư để họ có được những kiến thức cơ bản, kiến thức về khoa học kỹ thuật liên quan trực tiếp đến quá trình lao động sản xuất ở nông thôn

Trang 23

và thành thị Trước hết và quan trọng nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở,

họ là đội tiên phong, đầu tầu gương mẫu, làm động lực thúc đẩy mọi mặt hoạt động ở cơ sở trong đó có vấn đề văn hoá

Căn cứ vào tính chất, trình độ, cấp độ, thời gian, phương thức người ta phân chia ra nhiều loại hình đào tạo: Đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyên sâu, đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, đào tạo dài hạn, tập trung, tại chức, đào tạo từ xa, tự đào tạo…

Ý nghĩa của việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức đúng mục tiêu sẽ khắc phục hẫng hụt về trình độ chuyên môn, hạn chế về kỹ năng quản

lý Trang bị mới những kỹ năng, kiến thức cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ, quản lý

Đào tạo và bồi dưỡng để phát triển nguồn nhân lực làm cho công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức phát huy hiệu quả trong hoạt động thực tiễn và làm cho tổ chức phát triển

1.1.4.4 Tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã

Hiện nay, phần lớn cán bộ, công chức cấp xã chưa được đào tạo một cách hệ thống, bài bản, chuyên nghiệp, thường chỉ được tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn Về số lượng thì khá đông Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2010,

cả nước có khoảng 11.112 đơn vị hành chính cấp xã; bao gồm: 1.403 phường,

624 thị trấn và 9.085 xã

Với thực trạng như hiện nay thì nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ và công chức cấp xã đã trở lên hết sức bức bách Có hai nguyên nhân chính là:

Thứ nhất: Cấp xã là cấp cơ sở, là trụ cột, là xương sống, là trung tâm

của hệ thống chính trị ở cơ sở

Thứ hai: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là việc làm thường

xuyên của các cấp, phục vụ trực tiếp cho chiến lược quy hoạch cán bộ, công

Trang 24

chức của các đơn vị Việc quy hoạch cán bộ, công chức phải bảo đảm cho nền hành chính có đủ năng lực, quyền năng để quản lý xã hội trên các lĩnh vực Đặc biệt trong thời kỳ hội nhập hiện nay, chúng ta càng cần những người có năng lực thực sự để đưa ra những quyết định quản lý đúng đắn, không làm kìm hãm sự phát triển tự nhiên của xã hội

Hơn nữa vấn đề quy hoạch cán bộ của nước ta hiện nay còn nhiều tồn tại, bất cập: đó là những người được bổ nhiệm nhưng chưa được đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức quản lý, do cơ quan làm không tốt công tác quy hoạch, không có sự chuẩn bị cho đội ngũ lãnh đạo kế cận Chính vì vậy, có những người sau khi được bổ nhiệm vẫn còn rất lúng túng với nhiệm vụ được giao, làm ảnh hưởng tới hiệu quả công việc của đơn vị; Đào tạo, bồi dưỡng để có những công chức ở các ngạch, bậc, chức vụ khác nhau có đủ những kiến thức

cơ bản, phù hợp với tiêu chuẩn (chính trị, chuyên môn, hành chính)

1.1.4.5 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng:

+ Đào tạo bồi dưỡng về lý luận chính trị: Đào tạo, bồi dưỡng về lý luận

chính trị, đào tạo kiến thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Những nội dung này bảo đảm cho cán bộ, công chức trở thành những người trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội

+ Đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức quản lý các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp để xây dựng một đội ngũ công chức giỏi, có năng lực, có trình độ chuyên môn, khả năng giải quyết các vấn đề trong lĩnh vực quản lý tại cơ sở

+ Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ, công chức nhà nước để tăng cường khả năng làm việc với người nước ngoài, nghiên cứu tìm hiểu, dịch tài liệu nước ngoài trong lĩnh vực chuyên môn phụ trách

Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến thức bổ trợ: các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh, tiêu chuẩn ngạch công chức do

Trang 25

nhà nước ban hành, bồi dưỡng các kiến thức tâm lý xã hội, quản lý hành chính, quản lý kinh tế

+ Trang bị những kiến thức cơ bản về tin học để công chức sử dụng thành thạo công nghệ thông tin phục vụ hiệu quả trong quá trình công tác

1.1.4.6 Các hình thức đào tạo để đạt được những yêu cầu đối với cán bộ, công chức cấp xã

Các hình thức hay là loại hình đào tạo để đạt được những yêu cầu đối

với cán bộ, công chức cấp xã có thể phân chia thành một số loại như sau:

* Đào tạo tập trung dài hạn

Là loại hình đào tạo tập trung, chính quy Học viên phải được tập trung học tập tại trường Loại hình này có ưu điểm là thời gian học dài, học tập trung theo chương trình qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có bằng cấp Đào tạo theo hệ thống, học viên có học vấn, chất lượng đào tạo tốt Nhược điểm, hạn chế

là tốn kém về thời gian, không phù hợp với người đang đi làm việc, nhất là đối với cán bộ và công chức cấp xã Loại hình này nên áp dụng cho đối tượng là học

sinh phổ thông mới ra trường, số cán bộ trẻ và những người có điều kiện

* Đào tạo tập trung ngắn hạn

Hình thức đào tạo tập trung ngắn hạn là phương thức đào tạo tập trung học viên tại trường, thời gian ngắn Phương thức này chương trình thường là phải cô đọng gồm những nội dung chủ yếu, có thể theo từng chuyên đề, trọng tâm về đường lối chính sách về phát triển kinh tế, xã hội, phát triển văn hoá, giao lưu hợp tác quốc tế, kỹ năng, kỹ xảo, nghiệp vụ về công tác chuyên môn Chương trình tinh giản và rút ngắn thời gian đào tạo, người học có thể hành nghề đạt kết quả chấp nhận được Học theo chuyên đề, có giấy chứng nhận, không có bằng cấp Phương thức đào tạo tập trung ngắn hạn đáp ứng được nhu cầu cấp bách của thực tiễn ở cơ sở, bổ sung thêm kiến thức cho công tác nhằm giải quyết khó khăn trước mắt Nhược điểm là không có bằng cấp, chỉ

có giấy chứng nhận, khi xét tuyển dụng lao động, xét lương rất bị hạn chế, về

Trang 26

lâu dài phải đào tạo lại

* Đào tạo tại chức vừa học, vừa làm

Là phương thức đào tạo bán tập trung dài hạn theo định kỳ với quỹ thời gian học không thay đổi, nhưng được chia ra nhiều giai đoạn khác nhau Đây

là phương thức khá phổ biến trong thời gian vừa qua, cũng có thể áp dụng trong một thời gian nữa, khi điều kiện phát triển của chúng ta còn ở mức độ giới hạn Hình thức này có ưu điểm là học viên vừa học vừa làm, có bằng hoặc chứng chỉ Vừa đi học, vừa tham gia làm việc ở địa phương, không ảnh hưởng nhiều đến thời gian làm việc, sinh hoạt, nhiều người theo học, vận dụng ngay được vào thực tế Hạn chế là thời gian học không liên tục, tính hệ thống, chất lượng thấp nếu không tổ chức tốt Phương thức đào tạo này chủ yếu dành cho đội ngũ cán bộ đang công tác ở cơ sở, họ vừa tham gia công tác

ở địa phương, vừa có điều kiện học tập nâng cao chuyên môn nghiệp vụ

* Đào tạo ngắn hạn vừa học vừa làm

Là loại hình đào tạo ngắn hạn bán tập trung, loại hình này sau khi học được cấp chứng chỉ, bằng cấp, vừa có kiến thức cơ bản, bổ sung kịp thời các kiến thức đang cần trong công việc, được nhiều người tham gia, không phải tốn thời gian đi lại, giảm bớt khó khăn trong sinh hoạt Nhược điểm của phương thức này là nội dung chương trình ngắn gọn, sự hiểu biết sâu, rộng có giới hạn, tốn kém kinh phí, đôi khi còn mang tính hình thức, chất lượng không cao nếu không tổ chức tốt

* Đào tạo từ xa

Đây là loại hình đã được xã hội chấp nhận một số năm, nhưng chủ yếu cho những đối tượng học đại học có hoàn cảnh khó khăn nhiều mặt không đến trường học tập được Tương lai lâu dài vẫn có thể áp dụng phương thức này

để bổ sung kiến thức cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Căn cứ vào các hình thức đào tạo ở trên, từ đó rút ra những đặc điểm,

ưu điểm, nhược điểm như sau:

Trang 27

Bảng 2.1: Đặc điểm, ưu điểm và nhược điểm của các hình thức đào tạo Phương

và đào tạo, có bằng cấp

Đào tạo theo hệ thống, học viên có học vấn

Tốn kém về thời gian, không phù hợp với người đang đi làm việc Đào tạo

ngắn hạn

Hình thức đào tạo ngắn hạn, tinh giản và rút ngắn thời gian đào tạo, người học có thể hành nghề đạt kết quả chấp nhận được

Học theo chuyên đề, không

Không có bằng cấp, chỉ có giấy chứng nhận, sau phải đào tạo lại

thực tế

Chất lượng thấp nếu không tổ chức tốt

bổ sung kịp thời các kiến thức đang cần trong công

việc

Nhiều người tham gia, không phải tốn nhiều thời gian đi lại

Tốn kém kinh phí, mang tính hình thức, chất lượng không cao nếu không tổ chức tốt

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Trang 28

1.1.5 Vai trò của công tác đào tạo để nâng chất lượng cán bộ nhằm phát triển kinh tế

Trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, bồi dưỡng cập nhật, trang bị thêm, trang bị mới về kiến thức về kinh tế trong đó phải hiểu biết sâu sắc đường lối, quan điểm kinh tế của Đảng, có kiến thức về kinh tế thị trường, có khả năng đề xuất, hoạch định các cơ sở kinh tế và sử dụng công

cụ quản lý kinh tế để quản lý kinh tế theo mục tiêu đã đề ra Đào tạo, bồi dưỡng giúp cho người cán bộ, công chức trang bị kỹ năng, thái độ thực thi nhiệm vụ, công vụ và được đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức về kinh tế để càng ngày càng hoàn thành công việc được giao với chất lượng, hiệu quả hơn

1.1.5.1 Vai trò của cán bộ trong hoạch định các chính sách kinh tế

Cán bộ công chức cấp xã có vai trò quyết định trong việc xây dựng đúng đắn đường lối, chiến lược, chủ trương, định hướng kế hoạch phát triển các chính sách kinh tế; tổ chức và lựa chọn để thực hiện có hiệu quả nhiệm

vụ quản lý kinh tế trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đồng thời quyết định việc chỉ huy và điều hành theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, các hoạt động trong quá trình phát triển kinh tế và quản lý kinh tế

1.1.5.2 Vai trò của cán bộ trong tổ chức chỉ đạo phát triển kinh tế ở địa phương

Cán bộ công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong việc các đường lối, kế hoạch thực hiện các chỉ tiêu định hướng kế hoạch phát triển các chính sách kinh tế ở xã, thị trấn

Có vai trò quyết định trong việc tổ chức và lựa chọn để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quản lý kinh tế ở địa phương đồng thời chỉ huy và điều hành các hoạt động trong quá trình phát triển kinh tế và quản lý kinh tế ở địa phương

Trang 29

1.1.5.3 Sự cần thiết phải đào tạo để nâng cao chất lượng cán bộ trong lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế cần thiết phải phát triển nhanh nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao Đây

là một trong ba khâu đột phá chiến lược đã được khẳng định trong chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn 2010-2020 Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất tốt, tận tụy phục vụ nhân dân, có tính chuyên nghiệp cao

là một giải pháp quan trọng nhằm đóng góp vai trò cán bộ công chức cấp xã trong việc thực hiện các mục tiêu về phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng trong thời kỳ đổi mới chính vì vậy sự cần thiết phải đào tạo để nâng cao chất lượng cán bộ cấp xã nhằm nâng cao chất lượng cán

bộ công chức cấp xã trong việc hoạch định các chính sách kinh tế

1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã của huyện Tam Nông

1.1.6.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội do Đảng và Nhà nước đề ra

Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tam Nông, giai đoạn

2010 - 2015, do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVII đề ra, là nhân tố quyết định yêu cầu và nội dung; quyết định việc lựa chọn các phương thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã của huyện Tam Nông, giai đoạn 2010-2015 Việc xác định yêu cầu, nội dung và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã của huyện Tam Nông, giai đoạn 2010-2015 phải hướng vào việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã của tỉnh, theo các yêu cầu, tiêu chuẩn của người cán bộ, công chức cấp xã thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, gắn với phát triển kinh tế trí thức, để

họ có đủ điều kiện triển khai, tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế

- xã hội, giai đoạn 2010-2015

Trang 30

1.1.6.2 Những quy định của pháp luật hiện hành

Đây là nhân tố quan trọng, chi phối đến việc xác định yêu cầu, nội dung của nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Tam Nông, giai đoạn 2010-2015 Hệ thống pháp luật hiện hành là những khuôn khổ pháp lý, quy định và điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội (trong đó có các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã) Vì vậy, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã của huyện Tam Nông cũng phải tuân theo các quy định của pháp luật

1.1.6.3 Điều kiện kinh tế nông nghiệp của huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ

Đây là nhân tố quan trọng nhất, bảo đảm cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Tam Nông, giai đoạn 2010-2015

có tính khả thi trong thực tế Thực chất, việc xác định các giải pháp và công

cụ của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là những bảo đảm về vật chất và con người để tổ chức thực hiện Những bảo đảm đó phải dựa trên khả năng thực tế về nguồn lực của đất nước và của huyện Tam Nông, không thể thoát ly việc huy động các nguồn lực cho việc tổ chức thực thi công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã từ nguồn lực khác ngoài điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và của tỉnh Nếu thoát ly điều kiện kinh tế -

xã hội của đất nước và của tỉnh, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã của huyện Tam Nông trong thời gian tới sẽ rơi vào chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí Đối với nước ta (nói chung) và huyện Tam Nông (nói riêng) trong những năm qua đã có bước phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, tạo

ra những tiền đề vật chất, tinh thần to lớn cho việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Tuy nhiên, nguồn lực bao giờ cũng có hạn Đảng và Nhà nước ta không thể đầu tư toàn bộ nguồn lực hiện có cho nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã Nguồn lực của đất nước và của tỉnh còn phải đầu tư cho các nhu cầu khác Vì vậy, yêu

Trang 31

cầu, nội dung về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Tam Nông trong thời gian tới cần phải xác định phù hợp với nguồn lực

mà Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng

1.1.6.4 Thực trạng đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã của huyện Tam Nông

Thực trạng của đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã của huyện Tam Nông cho phép chúng ta biết được điểm xuất phát của đối tượng cần đào tạo, bồi dưỡng Trên cơ sở so sánh với cái đích phải đạt tới, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã sẽ xác định đúng đắn được mục tiêu, các giải pháp để thay đổi về lượng và chất của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhằm đạt được các tiêu chuẩn của người cán bộ và công chức cấp xã trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, gắn với phát triển kinh tế trí thức

Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Tam Nông là một trong những căn cứ quan trọng để xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Tam Nông trong thời gian tới Vì vậy, để bảo đảm cho việc đánh giá nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp

xã của huyện Tam Nông trong thời gian tới được chính xác, cần phải nắm được thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã của huyện Tam Nông một cách đầy đủ, chính xác cả về số lượng và chất lượng

1.1.6.5 Thực trạng các yếu tố khác có liên quan đến nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức cấp xã của huyện Tam Nông

Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chính quyền cơ sở của huyện Tam Nông còn bị chi phối bởi các yếu tố khác có liên quan như: số lượng, chất lượng hệ thống tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức; nội dung, chương trình; …Yêu cầu đặt ra là chúng ta phải xác định đầy đủ, chính xác thực trạng các yếu tố có liên quan đến nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Tam Nông, để xác định chính xác những nội

Trang 32

dung, yêu cầu cần phải có của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của huyện Tam Nông trong tương lai

1.2 Cơ sở thực tiễn về công tác đào tạo, bồi dưỡng

1.2.1 Quan điểm của Đảng ta về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức

Thấm nhuần lý luận chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh

về vai trò của cán bộ, công chức và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, cho nên, trong suốt mấy chục năm qua, Đảng cộng sản Việt Nam luôn luôn đề cao vài trò của cán bộ, công chức và tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Đảng

Đảng ta xác định: Cán bộ, công chức là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước Đảng ta luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức đông đảo, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, dám hy sinh cho lợi ích của Đảng, của dân tộc, hăng hái, nhiệt tình, năng động, sáng tạo hàng vạn cán bộ, công chức đã được rèn luyện, thử thách qua phong trào đấu tranh cách mạng và đã trưởng thành Đó là nhân tố quyết định, bảo đảm cho Đảng ta lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng Dân tộc- Dân chủ nhân dân, giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân

Yêu cầu về công tác cán bộ, công chức đang là một đòi hỏi bức xúc của các địa phương trong cả nước Do đó, ngày 22 tháng 10 năm 2009, Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12 tháng 8 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt

Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015 Mục tiêu cụ thể đến năm 2015 đối với cán bộ, công chức cấp xã:

Trang 33

- 90% cán bộ, công chức cấp xã có trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn quy định;

- 100% cán bộ cấp xã được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, điều hành theo vị trí công việc;

- 95% công chức cấp xã vùng đô thị, vùng đồng bằng; 90% công chức cấp xã vùng núi có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên

Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ, công chức nói chung; trong đó có đội ngũ cán bộ và công chức cấp xã nói riêng, bảo đảm cho đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước và yêu cầu hội nhập là việc làm hết sức cần thiết

1.2.2 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã của các nước trên thế giới

1.2.2.1 Trung Quốc

Trung Quốc đặc biệt coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cho công cuộc hiện đại hoá đất nước Trung Quốc chủ trương việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã phải được tiến hành trên cơ sở có quy hoạch và quy trình nghiêm ngặt

Để bảo đảm cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã đạt kết quả, Trung Quốc giao cho một cơ quan có thẩm quyền đưa ra quy hoạch và thống nhất chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã Thiết lập cơ chế mới về quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã cho từng cấp, từng ngành sao cho có hiệu quả

Thời gian đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã thường là một năm, nếu ngắn hạn thì 3 hoặc 4 tháng Kết hợp đào tạo, bồi dưỡng lý luận Mác- Lê Nin và lý luận Xã hội chủ nghĩa Đặng Tiểu Bình với đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn Giáo trình giảng dạy phải thường xuyên đổi mới cho phù

Trang 34

hợp với từng đối tượng Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá và xây dựng chế

độ giám sát kết quả đào tạo, bồi dưỡng

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở Trung Quốc rất linh hoạt: thiếu gì đào tạo, bồi dưỡng nấy Đào tạo bồi dưỡng cả

tư cách nhậm chức cho cán bộ, công chức cấp xã Nếu cán bộ, công chức không được đào tạo, bồi dưỡng đủ các tiêu chuẩn theo quy định thì không

đề bạt, bổ nhiệm

1.2.2.2 Nhật Bản

Hiện nay ở Nhật Bản, hầu hết tất cả mọi người, kể cả các chính trị gia

và giới ngôn luận đều thừa nhận rằng: quan chức Nhà nước nói chung, trong

đó có đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng, là những người rất ưu tú

Tư chất và năng lực này được quyết định bằng những kỳ thi tuyển nghiêm ngặt và bằng sự đào tạo, bồi dưỡng liên tục sau khi tuyển dụng

Sau khi được tuyển dụng, cán bộ, công chức cấp xã vẫn được tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng với hai hình thức: đào tạo, bồi dưỡng qua kinh nghiệm làm việc tại chỗ và qua các lớp huấn luyện ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng Mục đích của việc tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng để cán bộ, công chức cấp xã nắm bắt những vấn đề mới trong việc quản lý hành chính, phân tích được những khuynh hướng mới trong kinh tế, chính trị của nước mình và của thế giới để vận dụng vào việc định ra các chính sách và tổ chức thực thi các chính sách tại địa phương có kết quả cao nhất

1.2.3 Thực trạng và kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp

xã ở một số địa phương

2.2.3.1 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Vĩnh Phúc

Những năm qua, các cấp uỷ Đảng, chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, hiệu quả công tác của cấp xã và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

Trang 35

Hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn từng bước được củng cố; đội ngũ cán bộ cấp xã được tăng thêm về số lượng và chất lượng; trình độ, kiến thức các mặt được nâng lên Nhiều cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản, có phẩm chất, năng lực, tích cực tham gia các phong trào và từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới Phần đông đội ngũ cấp ủy viên, đội ngũ cán bộ chuyên trách, công chức bán chuyên trách có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Tuy nhiên, còn có một số cấp ủy cơ sở chưa thực sự coi trọng vị trí then chốt của công tác xây dựng chính quyền cấp xã, dành ít thời gian, công sức chỉ đạo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở Đảng Công tác bồi dưỡng ở nhiều cấp xã mới chú ý đến số lượng, chưa chú trọng quan tâm đến cơ cấu, chất lượng cán bộ; số cán bộ được quy hoạch bồi dưỡng ở thôn, bản, tổ dân phố, doanh nghiệp, vùng sâu, vùng đồng bào theo đạo, dân tộc thiểu số còn rất ít so với kết quả chung

Từ tình hình trên, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Vĩnh Phúc xác định mục tiêu: Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ, công chức cấp

xã trước hết là cấp ủy viên, Bí thư cấp ủy và đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở thật sự tiên phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Hàng năm đội ngũ cán bộ cấp xã có 95% đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ; 100% cấp ủy và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn về trình độ theo chức danh

Thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ đối với một số chức danh cán

bộ chuyên trách xã, phường, thị trấn có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định, thì được xem xét chuyển thành công chức nhà nước, tạo sự liên thông trong đội ngũ cán bộ, công chức ở các cấp

Để trẻ hóa và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã,

Trang 36

kiên quyết đưa ra khỏi biên chế những công chức cấp xã không bảo đảm đủ chuẩn theo chức danh và tuyển dụng số sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung học hệ chính quy là người địa phương về công tác ở xã, phường, thị trấn; có chế độ phụ cấp thu hút đối với cán bộ công tác ở vùng sâu, vùng

xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng dẫn của Trung ương Tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng đào tạo của các trường phổ thông dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện tốt việc chọn thanh niên người dân tộc thiểu

số đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự đưa đi đào tạo về văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị để tạo nguồn cán bộ cho cơ sở

Thực hiện tốt công tác rà soát, nhận xét, đánh giá cán bộ; bổ sung, điều chỉnh quy hoạch cán bộ cơ sở Đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo chức danh cán bộ; chú ý bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và kinh nghiệm giải quyết những tình huống cụ thể Hàng năm, 100% số công chức cấp xã được bồi dưỡng để cập nhật kiến thức mới tại Trường Chính trị tỉnh hoặc Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện

Tiếp tục thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín trong công tác cán bộ Hàng năm, trên cơ sở biên chế được giao, dành 5% biên chế dự phòng để thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và tăng cường biên chế công chức cho cấp xã

1.2.3.2 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Sơn La

Theo khảo sát mới đây của Sở Nội vụ tỉnh Sơn La về thực trạng chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức có tổng số 2.303 cán bộ chuyên trách

và công chức cấp xã; bao gồm 1.309 cán bộ chuyên trách và 994 công chức Trong đó, số cán bộ và công chức chưa đạt chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ

là 457 người, bao gồm 367 cán bộ và 90 công chức người còn khả năng đào tạo, 864 người đã quá tuổi đào tạo và cần giải quyết chế độ theo chính sách

Trang 37

tinh giảm biên chế

Với định hướng quy hoạch và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức trẻ có đủ trình độ và năng lực chuyên môn, một trong những mục tiêu phấn đấu của tỉnh Sơn La là đến cuối năm 2013 sẽ có 100% cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn

Tuy nhiên, mục tiêu này đang ở ngoài tầm với của địa phương Bởi lẽ thực tế đang tồn đọng một mâu thuẫn chưa được hoá giải giữa một bên là những cán bộ có kinh nghiệm làm việc và uy tín trong cộng đồng nhưng lại chưa đạt chuẩn về trình độ học vấn và lý luận chính trị, với một bên là những cán bộ trẻ, đã qua đào tạo chuyên ngành và đạt chuẩn về trình độ nhưng lại thiếu trải nghiệm thực tế, chưa hội đủ điều kiện để trúng cử hay bổ nhiệm Hiểu một cách nôm na, giữa hai đối tượng này có “độ vênh” tương đối về bằng cấp và thực tiễn, về lý thuyết và thực hành, do đó đã tạo ra khoảng trống trong vấn đề chất lượng nguồn nhân lực cơ sở Để bù lấp được khoảng trống này, điều tất yếu cần làm là đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trên cơ sở huy động tốt các nguồn lực sẵn có để tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng đào tạo

Hàng năm, phòng Nội vụ các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh nói riêng và Sở Nội vụ nói chung đều xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ, công chức Theo đó, đã triển khai những chương trình đào tạo, bồi dưỡng khá phù hợp; bao gồm: đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị; kiến thức quản lý nhà nước; chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức tin học, ngoại ngữ…

Kết quả, đến nay đã có khoảng 30,1% cán bộ chuyên trách và 53,4% công chức đã qua đào tạo trình độ trung cấp trở lên, khoảng 59,9% cán bộ chuyên trách và 29,6% công chức có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên, cải thiện đáng kể thực trạng chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Trang 38

Thêm vào đó, UBND tỉnh Sơn La ban hành Quyết định số 55/2005/QĐ-UBND về quy định một số chính sách khuyến khích cán bộ, công chức học tập và thu hút, tiếp nhận, sử dụng người có trình độ về công tác tại các xã của tỉnh Sơn La

Đây là chính sách thể hiện sự quan tâm của hệ thống chính trị đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phục vụ trực tiếp cho sự phát triển của tỉnh Sơn La

1.2.4 Các công trình nghiên cứu liên quan

Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng là công tác cực kỳ quan trọng của Đảng và Nhà nước

ta Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, có rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý thực hiện việc nghiên cứu công tác này Có thể nói tới các công trình như:

- Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị “Đào tạo, bồi dưỡng công chức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta (qua thực tiễn ở thành phố Hà Nội)”

của Tạ Quang Ngải, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006 Luận văn cũng đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về đào tạo, bồi dưỡng công chức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta Tiếp đó, luận văn đi khảo sát cụ thể công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức ở thành phố Hà Nội từ năm 1995 tới 2005, qua đó đánh giá những thành công và hạn chế của công tác Trên cơ sở lý luận và thực trạng công tác đào tạo bồi dưỡng công chức ở thành phố Hà Nội, luận văn đã đưa ra những mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức ở thành phố Hà Nội nói riêng và ở Việt Nam nói chung trong nền kinh tế thị trường

- Luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị “Đội ngũ công chức trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh” của Lê Thị Thu Hà, Học

viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2010 Luận văn đã trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công chức và đội ngũ công

Trang 39

chức, cũng như vai trò của đội ngũ công chức trong quá trình phát triển kinh

tế - xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh; Tiếp đó, luận văn đã khảo sát, phân tích, đánh giá vai trò của đội ngũ công chức ở thành phố Hồ Chí Minh, những mặt thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong những năm tới để phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra các giải pháp đẩy mạnh công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề nguồn nhân lực có liên quan đến huyện Tam Nông, như:

- Luận văn thạc sĩ Kinh tế chính trị “Nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn

Chí Hoa, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012

- Luận văn thạc sĩ Kinh tế phát triển “Phát triển nguồn nhân lực ở huyện Thanh Thủy trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Tiến Mạnh, Học

viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2013

Ngoài ra còn nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn như:

- Luận án tiến sĩ Kinh tế: "Quy hoạch, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán

bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế tỉnh Đồng Nai" của Vy Văn Vũ,

Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2005

- Luận văn thạc sĩ Kinh tế: "Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế cấp tỉnh của Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay" của

Nguyễn Anh Ngọc, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2008 Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ và công chức là đề tài được các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý quan tâm nhiều, cả trên phạm vi Trung ương hay phạm vi từng địa phương Tuy nhiên, không có công trình

nào trùng lắp với đề tài “Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công chức

Trang 40

cấp xã huyện Tam Nông”

1.2.5 Bài học kinh nghiệm rút ra sau nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn

- Tính đặc thù của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã

ở các tỉnh trung du, miền núi, từ đó góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tổ chức thực tiễn của các cơ quan Đảng, Nhà nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính hiện nay

- Các giải pháp cần xuất phát từ đặc thù của địa phương, cụ thể cho mỗi giai đoạn phát triển kinh tế -xã hội của địa phương

- Đào tạo phải gắn với quy hoạch cán bộ, quán triệt sâu sắc quy trình quy hoạch, bồi dưỡng và bổ nhiệm cán bộ

Ngày đăng: 29/08/2017, 09:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Lê Thị Thu Hà (2010), Đội ngũ công chức trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đội ngũ công chức trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Thị Thu Hà
Năm: 2010
10. Nguyễn Thị Lân (2010), Phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế phát triển, Học viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Lân
Năm: 2010
11. Tạ Quang Ngải (2006), Đào tạo, bồi dưỡng công chức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta (qua thực tiễn ở Thành phố Hà Nội), Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo, bồi dưỡng công chức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta (qua thực tiễn ở Thành phố Hà Nội
Tác giả: Tạ Quang Ngải
Năm: 2006
12. Nguyễn Anh Ngọc (2008), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý Nhà nước về Kinh tế cấp tỉnh của Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý Nhà nước về Kinh tế cấp tỉnh của Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Anh Ngọc
Năm: 2008
17. Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (2001), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Tác giả: Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
18. Nguyễn Ngọc Tú (2006), Nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tú
Năm: 2006
20. Vy Văn Vũ (2005), Quy hoạch, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý Nhà nước về kinh tế tỉnh Đồng Nai, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh./ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý Nhà nước về kinh tế tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Vy Văn Vũ
Năm: 2005
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN (2002), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 số 17-NQ/TW ngày 18 tháng 3 năm 2002 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn Khác
2. Bộ Tài chính-Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2010), Thông tư số 112/2010/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 30/7/2010 của Bộ Tài chính - Bộ Lao động - TB&XH hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 Khác
3. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 139/2010/TT-BTC ngày 21/9/2010 của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Khác
4. Bộ Nội vụ (2011), Hướng dẫn số 2788/HD-BNV ngày 29/7/2011 của Bộ Nội vụ về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã giai đoạn 2011 – 2015 Khác
5. Chính phủ (2009), Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ qui định chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Khác
6. Chính phủ (2010), Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05.3.2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức Khác
7. Đỗ Kim Chung (2000), Bài giảng đánh giá nhu cầu đào tạo, Trung tâm Viện công nghệ Châu á tại Việt Nam Khác
13. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2008), Luật Cán bộ, công chức năm 2008 Khác
14. Sở Nội vụ tỉnh Phú Thọ (2012), báo cáo thống kê số lượng, chất lượng công chức tỉnh Phú Thọ năm 2012 Khác
15. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 Khác
16. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011-2015 Khác
19. Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Thọ(2012), Quyết định số 4088/2008/QĐ- UBND ngày 31/12/2008 về việc ban hành đề án đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ cao tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w