LƯU KHƯƠNG DUY ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG VÀ KHẮC PHỤC CÁC LỖI CHƯA TUÂN THỦ THEO TIÊU CHUẨN CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ RỪNG FSC SAU KHI ĐƯỢC CHỨNG CHỈ RỪNG TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP ĐOAN HÙ
Trang 1LƯU KHƯƠNG DUY
ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG VÀ KHẮC PHỤC CÁC LỖI CHƯA TUÂN THỦ THEO TIÊU CHUẨN CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ RỪNG (FSC) SAU KHI ĐƯỢC CHỨNG CHỈ RỪNG TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP ĐOAN HÙNG THUỘC
TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Nhâm
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Phát triển bền vững là khái niệm đánh dấu sự nhận thức của con người bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn mà những lo ngại về sự suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự xuống cấp của môi trường toàn cầu ngày càng tăng trong khi những mong muốn về sự tồn tại và phát triển lâu dài của nhân loại lại cũng không hề giảm xuống
Thực tế đã cho thấy nếu chỉ bảo vệ rừng bằng các biện pháp truyền thống như dùng hệ thống pháp luật, các chương trình, dự án… thì hiệu quả của việc bảo
vệ và phát triển tài nguyên rừng hầu như không cao Vì vậy, một trong các biện pháp quan trọng hiện nay đang được cả cộng đồng quốc tế cũng như từng quốc gia
đặc biệt quan tâm là cần phải thiết lập quản lý rừng bền vững (QLRBV), chứng chỉ rừng (CCR) và đánh giá thực hiện quản lý rừng bền vững
Công ty Lâm Nghiệp Đoan Hùng thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam là đơn
vị hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực lâm nghiệp Công ty đã xây dựng
Kế hoạch và thực hiện QLRBV theo tiêu chuẩn của FSC
Năm 2011 Công ty đã tiến hành đánh giá nội bộ tình hình QLR của Công ty, Lập KHQLR và đã được tổ chức RainForest Alliance đánh giá chính thức cấp chứng chỉ QLR bền vững FM/CoC cho Tổng Công ty Giấy Việt Nam, trong đó có
Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng (Chứng chỉ rừng theo nhóm) Để duy trì chứng chỉ
rừng, Công ty cần phải tiếp tục đánh giá nội bộ hàng năm các hoạt động thực hiện KHQLR và khắc phục những lỗi trong QLR đã phát hiện được qua các lần đánh giá
so với tiêu chuẩn FSC
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề “giành được đã khó, giữ được còn khó hơn”, để có thể đánh giá được việc thực hiện KHQLR và khắc phục các lỗi chưa tuân thủ trong QLR luôn luôn phát sinh, thì cần phải tiến hành nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm trù đánh giá QLR Trong đó, cần xác định được: Đánh giá các hoạt động nào là chủ yếu? Đánh giá như thế nào và bằng cách nào có thể đánh giá được trong điều kiện QLR của Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng? Và từ đó lập kế
Trang 3hoạch khắc phục thực hiện được QLRBV và duy trì được CCR Vì lý do đó, chúng tôi chọn đề tài - luận văn: “Đánh giá quản lý rừng bền vững và khắc phục các lỗi
chưa tuân thủ theo tiêu chuẩn của Hội đồng quản trị rừng (FSC) sau khi được Chứng chỉ rừng tại Công ty lâm nghiệp Đoan Hùng thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam” để thực hiện
Đánh gíá QLR để biết được kết quả QLR đã qua và đánh giá hàng năm QLR
để cho thấy được quá trình thực hiện QLR và khắc phục lỗi như thế nào? Hạng mục nào, hoạt động nào cần phải tăng cường thực hiện khắc phục và hạng mục nào, hoạt động nào cần được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện, bối cảnh mới Tất cả hoạt động đánh giá nội bộ đều tuân thủ theo tiêu chuẩn FSC được tổ chức RainForest Alliance biên soạn áp dụng vào Việt Nam
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
1.1.1 Quản lý rừng bền vững
Theo tài liệu Tài nguyên rừng toàn cầu của Liên Hợp Quốc năm 2010, hiện nay diện tích rừng của toàn thế giới có khoảng hơn 4 tỷ ha, trung bình 0,6 ha/người Các nước có diện tích rừng lớn nhất là Liên bang Nga, Braxin, Canada, Mỹ và Trung Quốc Có 10 nước và vùng lãnh thổ không có rừng, 54 quốc gia có diện tích rừng chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 10% tổng diện tích lãnh thổ Trong 10 năm gần đây, tỷ lệ mất rừng là khoảng 13 triệu ha mỗi năm, trong khi đó phần lớn diện tích rừng còn lại bị thoái hóa nghiêm trọng cả về đa dạng sinh học và chức năng sinh thái[1] Nguyên nhân chủ yếu do con người khai thác lâm sản quá mức và do chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất rừng sang đất sản xuất nông nghiệp nên diện tích rừng
tự nhiên đã bị suy giảm nghiêm trọng Mặt khác “Con người luôn luôn mong muốn
sử dụng tối đa tiềm năng của rừng để phục vụ cho mình, lại muốn việc sử dụng tối
đa đó ổn định lâu dài” Do đó, vấn đề mà toàn thế giới và từng quốc gia đều có sự
quan tâm đặc biệt và vấn đề hiện nay là làm thế nào để quản lý rừng cho tốt để đảm bảo bền vững việc cung cấp tối ưu 3 mặt: Kinh tế - Môi trường và Xã hội mà trong
đó các giá trị môi trường của rừng đối với con người là không thể thay thế
Trước tình hình chặt phá và khai thác rừng bừa bãi, năm 1992 lần đầu tiên
Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế mới đề ra những tiêu chí cơ bản về việc quản lý bền vững cho rừng nhiệt đới và kêu gọi các tổ chức quốc tế tham gia Hưởng ứng mạnh mẽ các vấn đề quản lý rừng bền vững ngay sau đó các hiệp hội về rừng đã ra đời [11]:
- Hội tiêu chuẩn Canada (CSA) Năm 1993
- Hội đồng quản trị rừng (FSC) Năm 1994
- Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI) năm 1994
- Tổ chức nhãn sinh thái Indonesia (LEI) năm 1998
- Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia (MTCC) năm 1998
Trang 5- Chứng chỉ rừng Chi lê (Certfor Chile) năm 1999
- Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC) năm 1999
Từ đó, phương thức QLRBV đã trở thành cao trào, được hầu hết các nước nông nghiệp tiên tiến và hàng loạt các quốc gia đang phát triển có rừng cần QLBV,
tự nguyện tham gia, mặc dù không ai bắt buộc Đây là vấn đề nhận thức của các quốc gia nhằm làm sao bảo vệ được rừng mà vẫn sử dụng tối đa các lợi ích từ rừng, nhận thức của chủ rừng về quyền xuất khẩu vào mọi thị trường thế giới và quyền bán lâm sản với giá cao Vai trò của rừng đối với cuộc sống của con người hiện tại được đánh giá và được thiết kế trong rất nhiều chương trình, hiệp ước, công ước
quốc tế (CITES-1973, RAMSA-1998, UNCED-1992, CBD-1994, UNFCCC-1994,
UNCCD-1995) Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nhờ sáng kiến của những người sử
dụng và kinh doanh gỗ về việc chỉ buôn bán sử dụng gỗ có nguồn gốc từ các khu
rừng đã được QLBV, từ đó một loạt tổ chức QLBV (gọi tắt là quá trình hay
process) đã ra đời và có phạm vi hoạt động khác nhau trên thế giới và đề xuất tiêu
chuẩn QLRBV với nhiều những tiêu chí như sau:
- Montreal cho rừng tự nhiên ôn đới, gồm 7 tiêu chí
- ITTO cho rừng tự nhiên, gồm 7 tiêu chí
- Pan-European cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki) gồm 6 tiêu chí
- Africal timber organization initiative cho rừng khô châu Phi
- CIFOR cho rừng tự nhiên nói chung, gồm 8 tiêu chí
- FSC cho mọi kiểu rừng toàn thế giới, gồm 10 nguyên tắc
Trong số này, Hội đồng quản trị rừng thế giới là tổ chức uy tín nhất và có phạm
vi rộng nhất toàn thế giới được thành lập năm 1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 25 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ Đặc biệt, FSC có đối tượng áp dụng cả cho rừng tự nhiên và rừng trồng, rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác Chứng chỉ QLRBV của FSC được các thị trường khắt khe trên thế giới như Bắc Mỹ, Tây Âu đều chấp nhận thông thương với giá bán cao, do đó tuy các tiêu chí QLRBV của FSC cao, tỷ mỉ nhưng vẫn được
Trang 6nhiều nước từ nước đang phát triển đến nước công nghiệp tiên tiến hưởng ứng tự nguyện tham gia và đang trở thành cao trào QLRBV trong hội nhập quốc tế Tiêu chuẩn QLRBV của FSC có 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí Hiện đã có 26 bộ tiêu chuẩn quốc gia hoặc vùng trên thế giới được FSC phê duyệt cho áp dụng Theo FSC Newsletter xuất bản ngày 31/8/2005, đã có 77 nước được cấp chứng chỉ QLRBV
cho 731 khu rừng (đơn vị QLR) với diện tích 57.264.882 ha
Tại khu vực Đông Nam Á, xuất phát từ xu hướng mất rừng và bị thị trường thế giới từ chối nếu gỗ không có chứng chỉ QLRBV của một tổ chức độc lập quốc
tế Do vậy để bảo vệ và phát triển diện tích rừng nên hợp tác lâm nghiệp trong khối ASEAN đã phát triển mạnh mẽ, thể hiện trong giai đoạn từ 1995-2000 ASEAN đã hoàn thành dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV chung vào năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh và được phê duyệt tại Hội nghị Bộ trưởng Nông - Lâm nghiệp Phnom-penk 2001 Song, do bộ tiêu chuẩn QLRBV của ASEAN soạn thảo theo 7 tiêu chí của ITTO, nên gặp khó khăn khi xin cấp chứng chỉ của tổ chức FSC
Tuy vậy, các nước có nền lâm nghiệp mạnh trong ASEAN như: Indonesia (Kim
ngạch xuất khẩu gỗ 5-5,5 tỷ USD/năm), Malaysia (4,7-5 tỷ USD/năm), sau đó đến
Philippines, Thailand cũng đã được cấp chứng chỉ QLRBV của FSC trong các năm
từ 2002-2005, tuy rằng diện tích được cấp còn hạn chế Tại Indonesia, một tổ chức
phi chính phủ (NGO) là "Viện sinh thái Lambaga" (viết tắt là LEI) ra đời để hướng
dẫn và hỗ trợ kỹ thuật cho các chủ rừng nâng cao năng lực QLRBV đến khi đạt chứng chỉ gỗ quốc tế Malaysia thành lập tổ chức NGO có tên "Hội đồng chứng chỉ
gỗ quốc gia" (NTCC) nay đổi tên là "Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia" (MTCC) để đảm nhiệm chức năng hỗ trợ Chứng chỉ rừng (CCR) Malaysia đang thử nghiệm đi theo 2 bước (chứng chỉ quốc gia và chứng chỉ quốc tế) Chứng chỉ quốc gia không
có giá trị trên thị trường thế giới, nhưng là một mức đánh giá năng lực quản lý của chủ rừng đã đạt mức xấp xỉ để xin thẩm định quốc tế Năm 2005 đoàn tham quan học tập của Cục Lâm nghiệp và các tỉnh có rừng tổ chức tham quan tại Malaysia đã rất ấn tượng cách làm này LEI và MTCC là tổ chức NGO nhưng do chính phủ tài
Trang 7trợ và có sự đóng góp của các chủ rừng nên hoạt động rất mạnh và hiệu quả cao nhất trong các nước thuộc khối ASEAN
1.2.2 Chứng chỉ rừng
Tổ chức Rainforest Allliance, SGS Forestry và GFA đã thực hiện phần lớn việc đánh giá và cấp chứng chỉ rừng Đây cũng chính là các tổ chức đảm nhiệm việc cấp FSC tại Việt Nam [16]
Số lượng ít ỏi các tổ chức được cấp chứng chỉ rừng tại Châu Á-Thái bình dương do FSC ủy quyền trước đây là một hạn chế trong việc phát triển vấn đề cấp chứng chỉ gỗ
Nhãn Logo FSC và nhãn dán trên sản phẩm sẽ giúp người tiêu dùng trên toàn thế giới có thể nhận biết được các tổ chức hay sản phẩm ủng hộ chương trình quản
lý rừng có trách nhiệm Có 02 loại chứng nhận FSC đang được các tổ chức chứng nhận cung cấp là:
- Chứng chỉ Quản lý rừng (Forest Management Certificate, FSC-FM): yêu cầu
cho một khu rừng xác định phải tuân thủ các yêu cầu liên quan đến các tiêu chuẩn
về môi trường, xã hội và kinh tế
- Chứng chỉ Chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody Certificate
FSC-CoC): yêu cầu các tổ chức chứng minh các sản phẩm gỗ được giao dịch từ các
nguồn gốc được chứng nhận, các sản phẩm này có thể được sử dụng nhãn FSC và dấu chứng nhận của Tổ chức chứng nhận
- Chứng chỉ Chuỗi hành trình sản phẩm FSC/Đánh giá nguồn gốc gỗ có kiểm
soát FSC (Chain of Custody/Control Wood Certificate , FSC-CoC/CW) [26]: yêu cầu
các tổ chức chứng minh các sản phẩm gỗ được giao dịch từ các nguồn gốc được chứng chỉ FSC và các nguồn gốc gỗ có kiểm soát FSC, các sản phẩm này có thể được
sử dụng nhãn FSC và dấu chứng chỉ của Tổ chức chứng chỉ
Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) là con đường mà nguyên liệu thô từ rừng
phải trải qua để đến với người tiêu dùng, bao gồm những giai đoạn liên tục của việc chế biến, vận chuyển, sản xuất và phân phối Là quá trình nhận dạng gỗ từ khu rừng được chứng nhận cho tới khi sản phẩm được gắn nhãn Mục đích của Chuỗi hành
Trang 8trình sản phẩm là nhằm cung cấp các chứng cứ xác thực về việc sản phẩm gỗ được chứng nhận đã sản xuất từ các nguồn nguyên liệu được chứng chỉ Các tiêu chuẩn FSC áp dụng cho chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm FSC- CoC hiện đang áp dụng như:
- FSC-STD-40-004 tiêu chuẩn chuỗi hành trình sản phẩm của FSC áp dụng
- FSC-STD-40-020 các yêu cầu về dán nhãn trên sản phẩm của FSC
Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (ITTO) đã thừa nhận FSC “Gần như là chương
trình duy nhất về gắn nhãn hiệu và ủy quyền đối với lâm phẩm trên toàn thế giới”
1.2.3 Đánh giá quản lý rừng bền vững và đánh giá thực hiện sau khi được cấp CCR
1.2.3.1 Đánh giá quản lý rừng bền vững để cấp CCR
FSC đã ủy quyền cho 21 tổ chức thực hiện đánh giá QLRBV và cấp CCR, như Rainforest Aliance, GFA, Woodmark Mặc dù các tổ chức này khi đánh giá đều tiến hành theo quy trình riêng, nhưng điều kiện tiên quyết là đều phải căn cứ
vào 10 nguyên tắc (Priciple) của FSC để đánh giá [20]
1) Mục tiêu đánh giá: Đánh giá chính thức (Main Audit) tiến hành cho
một tổ chức xin chứng chỉ rừng để quyết định liệu họ đáp ứng được các yêu cầu chứng chỉ quản lý rừng của FSC không? Theo FSC, việc cấp một chứng chỉ quản lý rừng là đưa ra một đảm bảo tin cậy rằng không có những lỗi chính trong việc tuân thủ các yêu cầu của quản trị rừng được xác định rõ ở mức các nguyên tắc và tiêu chí
ở trong bất kỳ đơn vị quản lý rừng nằm trong phạm vi của chứng chỉ
2) Khung cơ bản tiến hành đánh giá:
- Nộp hồ sơ - tiếp xúc lần đầu tiên
- Tổ chức tiền đánh giá
- Đánh giá chính – chứng chỉ 5 năm, sau 5 năm lại đánh giá lại
Trang 9- Đánh giá hàng năm (thường xuyên - Surveillance Audit)
3) Phương pháp tiếp cận đánh giá cơ bản:
- Các nguyên tắc và tiêu chí Danh sách kiểm tra, các chỉ số nguồn kiểm chứng
- Điểm chính của quá trình là đánh giá xem đã đạt được tiêu chuẩn chưa trên cơ sở thiết lập một danh sách kiểm tra
- Đánh giá về:
+ Các hệ thống quản lý và thủ tục
+ Các hoạt động và kết quả thực hiện
+ Kết quả tham vấn bên thứ 3
1.2.3.2 Đánh giá hàng năm
- Mục đích của đánh giá hàng năm: là chứng minh về sự tuân thủ của chủ
rừng về các tiêu chuẩn QLRBV của FSC mà đánh giá, đánh giá năm trước (đánh
giá chính thức hoặc đánh giá năm trước) đã phát hiện được và yêu cầu chủ rừng
khắc phục [27]
- Tương tự như đánh giá chính thức, đánh giá hàng năm tiến hành các hoạt động sau:
1) Phát hiện những thay đổi trong QLR và những tác động liên quan đến
sự tuân thủ theo yêu cầu của tiêu chuản FSC đối với chủ rừng
2) Phát hiện khiếu nại, mâu thuẫn mà các bên liên quan nêu lên cho chủ rừng hoặc cho tổ chức cấp CCR
3) Phát hiện mức độ khắc phục các lỗi chưa tuân thủ mà lần đánh giá trước phát hiện được
4) Phát hiện các lỗi mới chưa tuân thủ trong quá trình thực hiện KHQLR trên cơ sở đối chiếu với tiêu chuẩn QLRBV
5) Yêu cầu nội dung và kế hoạch khắc phục các lỗi chưa được khắc
phục (đánh giá lần trước phát hiện) và các lỗi mới (đánh giá năm nay) được
phát hiện thêm
Trang 106) Những lỗi phát hiện qua quan sát (lỗi hiện tượng-tạm thời): những lỗi
phát hiện qua quan sát là những vấn đề rất nhỏ hoặc giai đoạn sớm của một vấn đề
mà bản thân nó chưa tạo ra một lỗi không tuân thủ, nhưng người đánh giá thấy rằng
nó có thể dẫn đến một lỗi không tuân thủ trong tương lai nếu mà chủ rừng không
giải quyết ngay
1.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến QLRBV ở Việt Nam
1.2.1 Quản lý rừng bền vững
- Tháng 2/1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng 3 tổ chức quốc tế phát động 1 phong trào QLRBV và CCR rộng rãi trong cả nước, thông qua hội thảo quốc gia ngày 10-12/02/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh Tổ Công tác
Quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG) đã được thành lập gồm 12 thành
viên thực hiện chương trình hành động, đồng thời xây dựng tổ chức để hoạt động lâu dài trong hệ thống thành viên của FSC nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và CCR tại Việt Nam Ban đầu NWG trực thuộc Cục lâm nghiệp thuộc Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn Từ năm 2001, theo quy chế của FSC, NWG trở thành một tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận thuộc Hội khoa học kỹ
thuật Việt Nam (nay là Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng) [21]
- Các hoạt động chủ yếu của NWG là:
+ Dựa trên cơ sở 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí của FSC, hoàn thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 160 chỉ số phản ánh các đặc thù của Việt Nam, song vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC Đây là dự thảo lần 9 đã lấy ý kiến nhiều chủ rừng, các cơ quan tổ chức liên quan, đã 2 lần mời chuyên gia FSC sang
dự hội thảo góp ý Đang chờ ý kiến FSC thẩm định
+ Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho chủ rừng, các bên liên quan và cộng đồng dân cư sống trong rừng, gần rừng
- Nâng cao năng lực quản lý cho chủ rừng, năng lực hoạt động cho chuyên gia Viện QLRBV và cán bộ lâm nghiệp
+ Đánh giá chất lượng quản lý rừng khu rừng
+ Tổ chức mạng lưới các mô hình QLRBV tự nguyện
Trang 11- Năm 2001, Chiến lược lâm nghiệp quốc gia (NFS) giai đoạn 2001-2010 đã
xác định quản lý và phát triển rừng theo hướng bền vững là hướng đi chủ chốt Vào đầu năm 2007, Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 đã được ban hành, trong đó quy định theo hướng phát triển rừng quốc gia với năm chương trình lớn Một lần nữa QLRBV là một trong ba chương trình trọng điểm của chiến lược
với mục tiêu 30% (8,4 triệu ha) diện tích rừng trồng sản xuất đến năm 2020 được
cấp chứng chỉ
Như vậy, các vấn đề về QLRBV là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam
1.2.2 Các hoạt động về QLRBV
- Tuyên truyền tập huấn đào tạo về QLRBV do NWG thực hiện với sự hỗ trợ
Quỹ rừng nhiệt đới (TFT), Dự án cải cách hành chính của GTZ, WWG Đông
Dương tại các hội nghị, hội thảo quốc gia, vùng, tỉnh
- Xây dựng kế hoạch chiến lược và các hoạt động QLRBV thể hiện trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2010
- Xây dựng lộ trình thực hiện QLRBV theo hai giai đoạn 2006-2010 và sau năm 2010
- Xây dựng các điều kiện QLRBV và CCR với các hoạt động trong giai đoạn 2006-2010 gồm: tiếp tục dự án 661, rà soát và quy hoạch lại 3 loại rừng, quy hoạch
sử dụng đất vĩ mô
Dựa trên thực tiễn, NWG tiến hành các khảo sát nhằm xem xét tính khả thi của bộ tiêu chuẩn quốc gia đang dự thảo, đồng thời đánh giá trình độ quản lý của các đơn vị Cho đến nay một số chương trình dự án về CCR đã và đang được thực hiện:
+ Dự án điều tra xây dựng kế hoạch QLRBV tại huyện Kon-Plong (Kontum)
2000- 2002 do JICA tài trợ
+ Dự án hỗ trợ Lâm trường Hà Nừng, Lâm trường Sơ pai (Gia Lai) do WWF
Đông Dương tài trợ
Trang 12+ Chương trình lâm nghiệp của GTZ, hợp phần QLRBV đang hỗ trợ 5 lâm
trường quốc doanh quản lý rừng tự nhiên là Ma-Drak và Nam Nung (Đắc Lắk) đã
mở rộng ra 3 lâm trường khác tại Quảng Bình, Ninh Thuận, Yên Bái từ 2007-2009
+ Kế hoạch hỗ trợ CCR và tiếp thị của TFT tại Việt Nam không công bố thành một chương trình mà chỉ hỗ trợ từng phần và cho từng đơn vị quản lý rừng
như tại Lâm trường Trường Sơn (Long Đại, Quảng Bình), Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương sơn (Hà Tĩnh), hành lang vùng đệm 2 VQG Kông Ka Kinh và Kông
Cha Răng
+ Tổ chức QLRBV và CCR theo nhóm hộ gia đình thuộc dự án trồng rừng WB3 tại 4 tỉnh miền Trung, từ năm 2008
Đặc biệt đối với vùng trọng điểm 4 tỉnh Tây Nguyên, nơi còn khai thác nhiều
gỗ nhất từ rừng tự nhiên, cũng là nơi diện tích và chất lượng rừng bị suy giảm nhiều nhất ở Việt Nam, NWG, Cục Lâm nghiệp cùng WWF và Vụ chính sách đã có các hội thảo để từng tỉnh tự đánh giá hiện trạng quản lý rừng của các lâm trường theo
các tiêu chí của bộ tiêu chuẩn QLRBV (Buôn Ma Thuột 2001), và hội thảo xây
dựng chương trình cải cách tổ chức quản lý lâm trường theo Quyết định 187/TTg
của Thủ Tướng Chính phủ (Pleiku 2002) và chọn ra 4 Công ty lâm nghiệp quản lý
tốt từ mỗi tỉnh đưa vào mạng lưới mô hình QLRBV là Công ty lâm nghiệp Kong Plong, Lâm trường Hà Nừng, Lâm trường Dak N’tao, Lâm trường Bảo Lâm
CCR đang là cơ hội và thách thức cho ngành Lâm nghiệp Việt Nam trong việc xuất khẩu các mặt hàng gỗ Gần đây, hàng loạt đơn vị quản lý rừng tự nhiên và trồng rừng sản xuất, rất nhiều Công ty, xí nghiệp chế biến xuất khẩu lâm sản đang
có nhu cầu tự thân tham gia quá trình QLRBV cần hướng dẫn, hỗ trợ, tư vấn để tự đánh giá năng lực quản lý rừng, năng lực giám sát chuỗi hành trình, song mới chỉ nhận được 1 chứng chỉ FSC về QLR Đó là Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn
(QPFT) với 9781 ha đất lâm nghiệp phân bố tại 8 huyện của tỉnh Bình Định Hiện
tại Công ty QPFL khai thác gỗ từ rừng trồng mỗi năm 60.000 m3, chủ yếu là gỗ Keo
lá tràm, Keo tai tượng, Keo lai và Bạch đàn trắng Trong tương lai, dự kiến khối lượng gỗ khai thác ổn định vào khoảng 120.000 m3, chủ yếu là gỗ Keo lai QPFL
Trang 13đồng sở hữu Nhà máy dăm gỗ quy mô trung bình (Tập đoàn dăm gỗ Bình Định -
BDC) đặt tại thành phố Quy Nhơn Sản lượng khai thác gỗ hàng năm như trên được
cung cấp cho BDC để chế biến thành dăm gỗ và xuất khẩu dựa trên kế hoạch quản
lý rừng được lập Bên cạnh việc bán gỗ với giá cao doanh nghiệp cũng đã thay đổi thái độ với rừng và môi trường
Theo Nguyễn Ngọc Lung [12], chứng chỉ rừng là hệ quả cuối cùng của Quản
lý rừng bền vững, vì nếu Quản lý rừng chưa đạt được các tiêu chuẩn bền vững thì không có Chứng chỉ rừng Trong điều kiện ở Việt Nam khi diện tích đất chưa ổn định, độ che phủ chưa đủ, chất lượng và năng suất rừng còn thấp so với tiềm năng, quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp chưa đủ tầm nhìn nên luôn phải điều chỉnh Vì vậy trong chương trình quản lý rừng bền vững cần thiết kế thêm một giai đoạn là
“xây dựng các điều kiện cần và đủ” để tiến hành quản lý bền vững hai đối tượng
rừng tự nhiên và rừng trồng Phải song song vừa xây dựng điều kiện, vừa tiến hành quản lý rừng bền vững theo các tiêu chí tiên tiến quốc tế lại phù hợp với pháp luật
và truyền thống quốc gia
Trên thực tiễn hiện đã có một công ty điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp của mình phù hợp với yêu cầu của các tiêu chí trong quản lý rừng bền vững và đã được cấp chứng chỉ rừng đó là Công ty trách nhiệm hữu hạn trồng rừng Quy Nhơn, bên cạnh đó Tổng công ty Giấy Việt Nam cũng đang trong quá trình hoàn thiện các hoạt động quản lý rừng theo tiêu chuẩn của FSC để tiến tới được cấp chứng chỉ rừng
Năm 2008, Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng cũng thực hiện đánh giá rừng độc lập về quản lý rừng trồng của mô hình chứng chỉ rừng “theo nhóm” của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái [20] Ở đây, các hộ trồng rừng cùng góp chung diện tích rừng trồng hợp thành Chi hội trồng rừng Yên Bái và xin cấp CCR Qua đánh giá, kết quả cho thấy: các hộ trồng rừng thuộc Chi hội đã đáp ứng được các tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam ở các mức độ khác nhau Các khiếm khuyết trong quản lý rừng có thể khắc phục được, tuy nhiên một số tiêu chí và chỉ số trong quản lý chưa phù hợp, nên việc sử dụng nó để đánh giá còn có chênh lệch
Trang 14Trong những năm 2008 - 2013, Viện Quản lý rừng bền vững và CCR đã hỗ trợ Tổng Công ty Giấy Bãi Bằng Việt Nam đánh giá QLRBV cho 11 Công ty lâm
nghiệp để tiến tới được FSC chứng chỉ rừng theo nhóm Đến nay (2013) FSC đã ủy
quyền cho Rain Forest Aliance tiến hành đánh giá rừng, chuỗi hành trình sản phẩm
(FM/CoC) và cấp CCR cho 7 công ty lâm nghiệp thuộc Tổng công ty Giấy Việt
Nam: Công ty lâm nghiệp Đoan Hùng, Xuân Đài, Thanh Hòa, Sông Thao, Yên Lập, Tam Thắng và Cầu Ham
Năm 2011, tổ chức GFA đã tiến hành đánh giá QLRBV và cấp CCR cho Công ty Lâm Nghiệp Bến Hải [27] cho nhóm Hộ gia đình trồng rừng thuộc các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam
Để lấy được chứng chỉ FSC cần một quá trình lâu dài Việc kiểm soát gỗ của FSC được coi là một giải pháp để hỗ trợ các chủ rừng, đặc biệt là Công Ty Lâm Nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh nhỏ đạt được một phần kết quả của quá trình cấp chứng chỉ trong thời gian ngắn Đối chiếu với tình hình thực tiễn của Việt Nam, chủ rừng cần thực hiện 9 yêu cầu để được xem xét cấp chứng chỉ CoC:
1) Các quy định về duy trì riêng rẽ gỗ tròn có chứng chỉ FSC
2) Quy định về ghi chép, theo dõi khối lượng gỗ có FSC và bán hàng
3) Quy định về viết hóa đơn xuất gỗ FSC
4) Các thông tin trên hóa đơn
5) Nhân viên phụ trách quản lý và bán gỗ FSC
6) Biểu mẫu sử dụng theo dõi và bán gỗ FSC
7) Các quy định về duy trì chứng từ liên quan đến CCR
8) Các tài liệu cần lưu trữ
Trang 15Kế hoạch quản lý rừng bao gồm nhiều nội dung nhưng vấn đề quản lý khai thác giữ vai trò quan trọng nhất Tiêu chuẩn 7 yêu cầu chủ rừng phải xây dựng KHQLR và kế hoạch phải thể hiện được những nội dung chính sau [20]:
+ Sự an toàn môi trường trên cơ sở những đánh giá về môi trường
+ Những kế hoạch bảo vệ các loài quý hiếm đang có nguy cơ
+ Những bản đồ mô tả tài nguyên rừng kể cả rừng bảo vệ, những hoạt động trong kế hoạch, và sở hữu đất
+ Mô tả và biện luận về kỹ thuật khai thác và những thiết bị sử dụng
1.2.3 Đánh giá QLR
1.2.3.1 Mục tiêu đánh giá
Nhằm phát hiện những lỗi khiếm khuyết trong QLR trên cơ sở đối chiếu với tiêu
chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC làm cơ sở lập kế hoạch và tổ chức khắc phục
Trang 16d, Họp kết thúc đánh giá
e, Lập kế hoạch khắc phục LKTT
1.2.3.3 Nội dung đánh giá các hoạt động QLR và khắc phục những lỗi chưa tuân thủ
1) Đánh giá các hoạt động QLR và khắc phục những lỗi chưa tuân thủ rất quan trọng để đảm bảo việc thực hiện kế hoạch đạt được mục tiêu trong khuôn khổ thời gian đã định Trong mọi trường hợp đều cần có một kế hoạch đánh giá phù hợp với phạm vi và cường độ hoạt động thực hiện kế hoạch khắc phục những LKTT
2) Các hình thưc đánh giá: có ba hình thức đánh giá là không chính thức, chính thức và bất thường
a) Đánh giá không chính thức:
- Đánh giá không chính thức là hình thức kiểm tra bình thường và đơn giản hàng tuần hay hàng tháng tuỳ theo tính chất công việc, và do người nhóm trưởng hay tổ trưởng của nhóm/tổ đó thực hiện, mục đích là để kiểm tra xem công việc có được thực hiện theo đúng yêu cầu không, tiến độ đến đâu, có khó khăn gì v.v
- Hình thức đánh giá này giúp phát hiện kịp thời những sai sót nhỏ để có giải pháp khắc phục
- Đối với những đơn vị lâm nghiệp hay chủ rừng quy mô nhỏ và những chủ rừng quy mô lớn nhưng không có những LKTT lớn phải khắc phục thì chỉ cần đánh giá không chính thức là đủ
b) Đánh giá chính thức: Khi chủ rừng phải thực hiện khắc phục những LKTT lớn, thời gian khắc phục dài, thì thường phải thực hiện giám sát chính thức Có hai cách thực hiện công việc này:
- Trưởng các tổ, nhóm hay người chịu trách nhiệm định kỳ báo cáo bằng văn bản tình hình, tiến độ thực hiện công việc được giao
+ Hình thức này có ưu điểm là đơn giản, có thể kết hợp với báo cáo chung của đơn vị
+ Nhược điểm là độ chính xác không cao do nhiều khi cán bộ thực hiện không muốn báo cáo về thiếu sót hay thất bại Nếu có các mẫu biểu báo cáo được thiết kế chi tiết thì có thể hạn chế được một phần nhược điểm này
Trang 17- Tiến hành đánh giá định kỳ: đơn vị tổ chức đoàn giám sát đến kiểm tra tại chỗ việc thực hiện các công việc được giao, họp với những người tham gia thực hiện công việc để nghe họ trình bày về những việc đã làm được, những việc chưa làm được, những khó khăn tồn tại v.v
+ Ưu điểm của hình thức này là có thể thu thập được thông tin một cách chính xác hơn, khách quan hơn, và nhiều khi còn phát hiện ra những vấn đề mà những người thực hiện không thấy
+ Nhược điểm là cồng kềnh và tốn kém, phụ thuộc vào nguồn nhân lực và quỹ thời gian cho phép Tuy nhiên, đối với những đơn vị quản lý rừng quy mô lớn
đã có nền nếp về đánh giá nội bộ thì hình thức này là hiệu quả nhất
c) Đánh giá bất thường: khi việc thực hiện kế hoạch gặp phải một vấn đề nào
đó khiến có yêu cầu phải điều chỉnh ngay kế hoạch thì có thể phải thực hiện đánh giá bất thường nội bộ Hình thức này được thực hiện không theo định kỳ để giải quyết những tình huống bất thường
1.3 Thảo luận
- Quản lý rừng bền vững là xu thế tất yếu của QLR thế giới và ở Việt Nam nhằm đưa rừng về trạng thái phát triển bền vững hài hòa cả 3 yếu tố kinh tế, xã hội môi trường
- Quản lý rừng của chủ rừng có bền vững hay không được đánh giá dựa vào tiêu chuẩn QLRBV của FSC và do các tổ chức được FSC ủy quyền đánh giá Khi
chủ rừng đạt được các tiêu chuẩn của FSC sẽ được cấp CCR (FSC-FM và FSC
CoC) và để duy trì được QLRBV (giữ được CCR) chủ rừng phải thường xuyên
đánh giá các hoạt động QLR và khắc phục các lỗi không tuân thủ mà các tổ chức đánh giá đã phát hiện
- Như vậy, để QLRBV không phải là hoạt động nhất thời mà là cả quá trình phấn đấu thực hiện theo logic hệ thống: Đánh giá chính phát hiện các khiếm khuyết trong QLR lập kế hoạch khắc phục, đánh giá khắc phục và phát hiện các
lỗi mới (hàng năm) lập kế hoạch khắc phục (5 năm) tái đánh giá
Trang 18- Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của sự nhận thức và hành động thực hiện QLRBV Việt Nam chưa có tiêu chuẩn riêng để đánh giá QLRBV và chưa có
tổ chức nào được FSC ủy quyền cấp CCR-QLRBV, mà hiện nay các tổ chức
QLRBV vẫn dựa theo tiêu chuẩn của FSC để lập ra tiêu chuẩn FSC “con” làm cơ sở
để tổ chức đánh giá nội bộ Đánh giá nội bộ để có sự đánh giá và nhìn nhận về tình hình QLR trong nước, đồng thời để các chủ rừng có căn cứ tiến hành khắc phục các lỗi trong QLR, chuẩn bị mời các tổ chức quốc tế đến đánh giá cấp CCR và đánh giá duy trì CCR
Trang 19Chương 2 MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Duy trì quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC (FM/CoC) cho Công ty
Lâm nghiệp Đoan Hùng thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam
2.1.2 Các mục tiêu cụ thể
1) Đánh giá và phát hiện được những lỗi chưa tuân thủ theo tiêu chuẩn QLRBV của FSC trong các hoạt động QLR của Công ty giai đoạn 2006-2010 và các năm 2011, 2012, 2013
2) Lập Kế hoạch QLR khắc phục những lỗi chưa tuân thủ trong QLR của Công ty để QLRBV và duy trì được CCR
2.2 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng
- Tiêu chuẩn QLRBV của FSC và các văn bản có liên quan đến QLR của Việt Nam
- Tài nguyên rừng do Công ty quản lý
- Các hoạt động QLR của Công ty
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Thuộc địa bàn quản lý của Công ty và địa bàn quản lý của địa phương có tác động đến các hoạt động QLR của Công ty
2.2.3 Giới hạn nghiên cứu
- Kế thừa các tài liệu cơ bản và các loại bản đồ
- Kế thừa kết quả đánh giá nội bộ chính thức, Lập kế hoạch quản lý đã được thực hiện giai đoạn 2006-2010 và đánh giá năm 2011 sau khi Công ty được cấp CCR
- Chỉ tiến hành đánh giá nội bộ hàng năm 2012 và 2013 thực hiện QLRBV của Công ty sau khi được cấp CCR
Trang 202.3 Nội dung nghiên cứu
1) Những lỗi chưa tuân thủ trong QLR của Công ty và kết quả khắc phục
- Những LCTT trong QLR trong 5 năm (2006-2010) của Công ty trước khi
- Hiệu quả quản lý rừng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thực hiện nội dung 1 - Những lỗi chưa tuân thủ trong QLR của Công ty
và kết quả khắc phục, sử dụng phương pháp
1) Đánh giá QLR: Áp dụng phương pháp đánh giá trong phòng kết hợp với
đánh giá ngoài hiện trường và tham vấn các cơ quan hữu quan
- Đánh giá trong phòng:
+ Khi thực hiện đánh giá trong phòng làm việc, tổ đánh giá mời những người
có liên quan đến các nội dung đánh giá cung cấp thêm thông tin và trả lời những câu hỏi liên quan đến công việc do họ phụ trách hay thực hiện
+ Nhiệm vụ của đánh giá trong phòng làm việc là khảo sát các văn bản, tài liệu, sổ sách liên quan đến nội dung đánh giá, như kế hoạch sản xuất kinh doanh, các bản hướng dẫn, quy trình, các bản báo cáo định kỳ và hàng năm, các báo cáo về kết quả giám sát đánh giá, các hợp đồng khai thác v.v…
- Đánh giá ngoài hiện trường:
+ Hoạt động này là để đoàn đánh giá kiểm tra xem những việc làm ngoài hiện trường có đúng như trong Kế hoạch, quy trình, hướng dẫn, các báo cáo v.v đã công bố hay không
Trang 21+ Thường thì tổ đánh giá sẽ chọn ngẫu nhiên một số địa điểm để khảo sát sao
cho có thể nắm được đầy đủ nhất về các hoạt động QLR ngoài hiện trường như: bài
cây khai thác, làm đường vận chuyển gỗ, chăm sóc rừng sau khai thác, cắm mốc các
khu cần tác động thấp, các biện pháp phòng chống tác động xấu đối với môi trường,
xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học…
+ Cần có cán bộ chuyên môn phụ trách công việc được đánh giá đi theo để
giải thích hoặc trả lời các câu hỏi của tổ đánh giá
- Tham vấn các đối tác hữu quan: Ngoài việc đánh giá ngoài hiện trường là
phỏng vấn những người có liên quan đến KHQLR như cán bộ, công nhân của chủ rừng
làm việc tại hiện trường thì tham vấn chính quyền địa phương, các tổ chức có các hoạt
động trong vùng, và người dân sở tại cũng rất quan trọng để bổ sung thông tin và kiểm
chứng các thông tin đã thu được qua đánh giá trong phòng và ngoài hiện trường
- Khi đánh giá cử một người ghi Phiếu đánh giá Phiếu chỉ được ghi sau khi
đã thống nhất trong cả nhóm Từng thành viên trong nhóm đánh giá cho điểm độc
lập, sau đó lấy giá trị trung bình để ghi vào Phiếu Mức độ thực hiện chỉ số được
đánh giá theo thang điểm:
Mức độ thực hiện chỉ số được đánh giá theo thang điểm:
MẪU PHIẾU ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ RỪNG
Công ty: Địa điểm:
Họ và tên nhóm đánh giá: Ngày đánh giá:
Tiêu
chí
Chỉ số
Nguồn kiểm chứng
Thực hiện
xét Trong
phòng
Hiện trường
Tham vấn
Trung bình
Trang 222) Phát hiện các LCTT và khuyến nghị khắc phục: Đối chiếu với Bộ tiêu
chuẩn FSC (Nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số-PC&I) và lập bảng ma trận khắc phục
các lỗi chưa tuân thủ
Sau khi đã thực hiện đánh giá trong phòng, đánh giá ngoài hiện trường và tham vấn các cơ quan hữu quan, Tổ đánh giá sẽ họp để các nhóm trình bày kết quả đánh giá những tiêu chuẩn được phân công, thảo luận chung và đi đến kết luận có những nội dung nào của tiêu chuẩn chưa được chủ rừng thực hiện, tức là những
LCTT, và đưa ra các khuyến nghị khắc phục (KNKP) những lỗi đó
MẪU BIỂU KHẮC PHỤC CÁC LỖI CHƯA TUÂN THỦ Yêu cầu hoạt động khắc phục: Liên quan đến Nguyên tắc, Tiêu chí và Chỉ
3) Lập Kế hoạch khắc phục LCTT: Áp dụng phương pháp có tham gia
Sau khi nhận được báo cáo chính thức của Tổ đánh giá, chủ rừng tiến hành họp cán bộ chủ chốt của đơn vị để phổ biến những phát hiện và khuyến nghị của tổ đánh giá, đồng thời xây dựng kế hoạch khắc phục những LCTT ghi trong báo cáo
2.4.2 Thực hiện nội dung 2- Kế hoạch QLRBV theo tiêu chuẩn QLRBV của FSC giai đoạn 2014-2020: Áp dụng phương pháp luận chứng có tham gia và căn cứ vào Nguyên tắc 7 và các nguyên tắc khác trong Bộ tiêu chuẩn QLRBV của FSC
1) Sử dụng phương pháp luận chứng có tham gia để phân tích những cơ sở khoa học thể hiện trong Bộ tiêu chuẩn của FSC để lập KHQLR về Kinh tế, Xã hội
và Môi trường
- Kinh tế: các nguyên tắc 5,7 và 8
Trang 23- Xã hội: các nguyên tắc 1, 2,3,4 và 5
- Môi trường: các nguyên tắc 6, 7, 9
Nguyên tắc 10 có liên quan đến cả kinh tế, xã hội và môi trường của đối tượng QLR trồng
2) Căn cứ vào Nguyên tắc 7 – Kế hoạch QLR của FSC để Công ty thực hiện QLRBV và khắc phục được các LCTT QLRBV và duy trì được Chứng chỉ rừng
Nguyên tắc 7-Kế hoạch Quản lý rừng
Có kế hoa ̣ch quản lý phù hợp với quy mô và cường đô ̣ hoa ̣t đô ̣ng lâm nghiê ̣p, với những mu ̣c tiêu rõ ràng và biê ̣n pháp thực thi cu ̣ thể, và được thường xuyên cập nhật
7.1 Kế hoa ̣ch và những văn bản liên quan phải thể hiê ̣n:
a Những mu ̣c tiêu của kế hoa ̣ch quản lý rừng
b Mô tả những tài nguyên được quản lý, những ha ̣n chế về môi trường, hiê ̣n trạng sở hữu và sử du ̣ng đất, điều kiê ̣n kinh tế xã hô ̣i, và tình hình vùng xung quanh
c Mô tả hê ̣ quản lý lâm sinh và/hoă ̣c những hê ̣ khác trên cơ sở sinh thái của khu rừ ng và thu nhâ ̣p thông tin thông qua điều tra tài nguyên
d Cơ sở của viê ̣c đi ̣nh mức khai thác rừng hàng năm và viê ̣c cho ̣n loài
e Các nô ̣i dung quan sát về sinh trưởng và đô ̣ng thái của rừng
g Sự an toàn môi trường trên cơ sở những đánh giá về môi trường
h Những kế hoa ̣ch bảo vê ̣ các loài nguy cấp, quý hiếm
i Những bản đồ mô tả tài nguyên rừng kể cả rừng bảo vê ̣ (phòng hộ, đặc
du ̣ng), những hoa ̣t đô ̣ng quản lý trong kế hoa ̣ch và sở hữu đất
k Mô tả và biê ̣n luâ ̣n về kỹ thuâ ̣t khai thác và những thiết bi ̣ sử du ̣ng
7.2 Kế hoạch quản lý rừng sẽ được định kỳ điều chỉnh nhằm kết hợp các kết quả
giám sát hoặc các thông tin khoa học kỹ thuật mới, cũng như đáp ứng những thay đổi về môi trường và kinh tế -xã hội
7.3 Công nhân lâm nghiệp được đào tạo và giám sát thích hợp để đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch quản lý
Trang 247.4 Trong khi giữ bí mật thông tin, những người quản lý phải thông báo rộng rãi bản tóm tắt những điểm cơ bản của kế hoạch quản lý, kể cả những điểm nói ở tiêu chí 7.1
3) Tính toán hiệu quả thực hiện KHQLR giai đoạn 2014-2020
- Ước tính hiệu quả kinh tế trồng rừng keo tai tượng cung cấp nguyên liệu
làm bột Giấy: áp dụng phương pháp tính “động” với 3 chỉ tiêu xác định: Giá trị hiện tại thuần (NPV), Tỷ lệ thu nhập trên chi phí (B/C), Tỷ lệ thu hồi nội bộ (IRR) và tính
cho đơn vị diện tích là 1 ha
+ NPV là giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng gia tăng, hay giá trị hiện tại thuần là hiệu số giữa giá trị hiện tại của dòng chi phí sau khi đã chiết khấu về giá trị hiện tại Công thức tính giá trị hiện tại thuần như sau:
r
C B
Trong đó:
NPV: Là giá trị hiện tại thuần của dự án
Bt : Là thu nhập trong năm t
Ct : Là chi phí trong năm t
r: Là tỷ lệ chiết khấu (lãi suất)
Chỉ tiêu này nói lên được qui mô của lợi nhuận về mặt số lượng Mọi dự án
sẽ được chấp nhận nếu giá trị hiện tại thuần dương (NPV >0) Khi đó, tổng thu nhập
được chiết khấu lớn hơn tổng chi phí được chiết khấu và dự án có khả năng sinh lợi
Ngượi lại, khi giá trị hiện tại thuần âm (NPV < 0), dự án không bù đắp được chi phí
bỏ ra và sẽ bị bác bỏ
Giá trị hiện tại thuần là chỉ tiêu tốt nhất để lựa chọn các dự án loại trừ nhau
và các dự án có qui mô và kết cấu đầu tư giống nhau, dự án nào có giá trị hiện tại thuần lớn nhất thì được lựa chọn
+ B/C: là tỷ lệ nhận được khi chia giá trị hiện tại của dòng thu nhập cho giá
trị hiện tại của dòng chi phí, công thức tính như sau:
Trang 25t t
n t
t t
r C r B
0
0
)1(
)1(
Trong đó:
Bt : Là thu nhập ở năm t
Ct : Là chi phí ở năm t
r: Là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất vay
Đây là một chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi trong đánh giá các dự án, nó phản ánh mặt chất lượng đầu tư là mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất Những
dự án được chấp nhận nếu có tỷ lệ thu nhập trên chi phí lớn hơn 1 Khi đó, những thu nhập của dự án đủ bù đắp các chi phí đã bỏ ra và dự án có khả năng sinh lợi Ngược lại, nếu tỷ lệ thu nhập trên chi phí nhỏ hơn 1, dự án sẽ bị bác bỏ
+ IRR là một tỷ lệ chiết khấu, khi tỷ lệ này làm cho giá trị hiện tại thuần của
dự án bằng không Điều đó có nghĩa là:
Khi NPV = 0
)1(
t t t
r
C B
dự án có tỷ lệ thu hồi nội bộ cao hơn phản ánh khả năng sinh lợi cao hơn và sẽ được xếp hạng ưu tiên hơn
- Hiệu quả môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học: áp dụng phương pháp có tham gia trên cơ sở kết quả khắc phục các LCTT được tiến hành hàng năm
- Hiệu quả xã hội: áp dung phương pháp có tham gia trên cơ sở kết quả khắc phục các LCTT được tiến hành hàng năm
Trang 26
Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CÔNG TY LÂM NGHIỆP ĐOAN HÙNG
3 1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích đất đai
- Vị trí: Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng nằm về phía Bắc huyện Đoan Hùng Toạ độ địa lý từ 21,3 độ đến 21,36 độ vĩ bắc và từ 105,0 độ đến 105,16 độ kinh đông Trụ sở chính đóng tại địa bàn xã Tây Cốc - huyện Đoan Hùng
- Ranh giới: Phía Đông Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Tây Bắc giáp tỉnh Yên Bái, phía Tây Nam giáp huyện Hạ Hoà, phía Nam giáp huyện Thanh Ba và phía Đông Nam giáp huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
- Diện tích đất: Công ty được giao quản lý là 2.068,141 ha (tại Quyết định số
605/QĐ-UB ngày 31/03/1998 của UBND tỉnh Phú Thọ) trên đại bàn 8 xã, thị trấn
huyện Đoan Hùng, chiếm 15,7 % tổng diện tích đất lâm nghiệp trong toàn huyện
Do một số xã tách ra, ranh giới xã điều chỉnh lại năm 1998 và một phần diện tích đất Công ty trả ra làm đất ở nên hiện tại Công ty đang quản lý 2064,44 ha trên địa bàn 10 xã, thị trấn, trong đó có 0,3 ha tại thị trấn Đoan Hùng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Bảng 3.1 Phân bố diện tích đất lâm nghiệp của Công ty ở các xã
Công ty nằm trong vùng chuyển tiếp từ vùng núi đến vùng trung du, hầu hết
là đồi bát úp thấp, độ cao tuyệt đối từ 50 – 70 m, độ dốc bình quân từ 20 – 30 độ
Có 2 dãy núi cao, độ cao tuyệt đối từ 300 đến 370 m đó là núi Đẫu ở xã Ngọc
Trang 27Quan, Ca Đình và núi Ông ở xã Bằng Luân, Bằng Doãn Với địa hình như trên khó
sử dụng cơ giới trong sản xuất
3.1.3 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn
3.1.3.1 Khí hậu
- Chia làm 2 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,1oC, mùa nóng nhiệt độ trung bình từ 27– 28 oC, Mùa lạnh trung bình từ 15– 16oC nhiệt độ cao tuyệt đối là 38,2oC, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 4oC
- Lượng mưa hàng năm trung bình là 1.878 mm, tập trung vào các tháng 6,
7, 8 chiếm khoảng 90 % tổng lượng mưa cả năm Năm có lượng mưa cao nhất là 2.300 mm, năm thấp nhất là 1.250 mm Số ngày nắng trong năm trung bình là 166 ngày
- Độ ẩm không khí bình quân năm là 85%, lượng bốc hơi bình quân năm
là 1.176 mm
3.1.3.2 Thuỷ văn
Trên địa bàn có 2 con sông là sông Lô và sông Chảy với tổng chiều dài chảy qua địa bàn là 49 km, có nhiều khe, suối và hồ chứa nước nhỏ xen kẽ trong đất lâm nghiệp, lưu lượng nước thấp và phân bố không đều Tuy nhiên vẫn có những năm
do mưa lớn cục bộ gây sạt lở đất, ảnh hưởng tới sản xuất lâm nghiệp và đời sống của nhân dân trong địa bàn
Trang 28Bảng 3.2 Diện tích rừng công ty quản lý
3.1.5.2 Rừng trồng
Tổng diện tích rừng trồng nguyên liệu Giấy (đến 31/12/2010) có 1.238,7 ha
Bảng 3.3 Phân bố diện tích rừng trồng theo loài cây và tuổi
- Trạng thái rừng chủ yếu là Ib, nghèo kiệt đang phục hồi
Trang 29Hình 3.1: Bản đồ sử dụng đất công ty lâm nghiệp Đoan hùng 3.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội
3.2.1 Đặc điểm kinh tế
- Định hướng phát triển kinh tế của huyện Đoan Hùng: Cơ cấu phát triển kinh tế là Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp - Thương mại dịch vụ Phát triển Nông, Lâm nghiệp chiếm 49,7 %, Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 29,3 %, Thương mại dịch vụ chiếm 21,0 % Tốc độ tăng trưởng kinh tế là 10 %/năm, tổng diện tích gieo trồng cây lương thực là 9.300 ha,
Trang 30năng suất lúa bình quân đạt 50,1 tạ/ha, cây công nghiệp là 1.376 ha, tỷ lệ hộ đói nghèo dưới 25 %
- Tình hình chế biến và thị trường lâm sản: Đoan Hùng là địa bàn hội tụ nguồn lâm sản từ Hà Giang, Tuyên Quang và Yên Bái nên rất sôi động về hoạt động trung chuyển, mua bán, chế biến Có 134 cơ sở chế biến gỗ, sản phẩm chính là
gỗ xây dựng và đóng đồ gia dụng với sản lượng tiêu thụ hàng trăm nghìn m3/năm Thuận lợi cho việc tiêu thụ lâm sản nhưng cũng gặp khó khăn cho công tác bảo vệ rừng
3.2.2 Đặc điểm xã hội
Huyện Đoan Hùng có 27 xã và 1 thị trấn, có 108.500 người thuộc 14 dân tộc, trong đó người Kinh là chủ yếu chiếm 96,0 %, trình độ dân trí phổ cập hết cấp 2 Trong địa bàn có 1 dân tộc ít người là dân tộc Cao lan ở khu vực chân núi Đẫu-xã Ngọc Quan
Nhìn chung chính quyền địa phương và cộng đồng người dân ủng hộ công tác phát triển rừng, đem lại nhiều lợi ích cho môi trường và xã hội
3.2.3 Kết cấu hạ tầng
Có 15 km Quốc lộ 70 chạy qua, nối liền 45 km Quốc lộ 2 chạy về Nhà máy Giấy, hệ thống đường dân sinh thuận lợi, mạng lưới đường vận xuất gỗ nối từ các lô rừng liền tới đường dân sinh, thuận lợi cho loại hình vận chuyển gỗ bằng xe trâu ra bãi 1 và dùng xe trọng tải nhỏ vận chuyển gỗ đi thẳng Nhà máy Giấy Bãi Bằng
Trang 31Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả Đánh giá QLR của Công ty, phát hiện những lỗi chưa tuân thủ
trong QLR của Công ty và kết quả khắc phục
4.1.1 Kết quả QLR trong 5 năm (2006-2010) của Công ty trước khi được cấp CCR
1) Kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2006-2010
Bảng 4.1 Kết quả sản xuất kinh doanh
892 1.123 1.618 1.774 2.280
( Nguồn: CTLN Đoan Hùng)
Trang 32Những số liệu về kết quả sản xuất kinh doanh cho thấy:
- Công ty luôn hoàn thành kế hoạch trồng rừng, khai thác cung ứng gỗ do Tổng Công ty Giấy giao, thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước
- Doanh thu tăng hàng năm do tăng sản lượng gỗ và chất lượng gỗ, kinh doanh có lãi, tuy tăng trưởng chậm
- Đời sống người lao động bảo đảm, lương bình quân tăng đều đặn, ổn định, đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ, văn hóa tinh thần được cải thiện So với các doanh nghiệp khác và mức sống của người dân trên địa bàn thuộc loại tiên tiến
- Tuy nhiên tồn tại lớn là năng suất bình quân rừng trồng thấp, rừng chưa được điều chế ổn định, hiệu quả kinh doanh thấp, do đó sức cạnh tranh yếu so với các hoạt động sử dụng đất khác
- Sản lượng rừng trung bình 5 năm còn thấp do thanh lý nhiều đối tượng rừng Bồ đề, Bạch đàn không phù hợp với đất, mật độ cây còn lại chỉ đạt 60-70%, chất lượng kém Năm 2006 khai thác nhiều rừng Mỡ 12-15 tuổi nên đã kéo sản lượng rừng cao hơn các năm sau
- Diện tích đất lâm nghiệp của Công ty đó được phủ kín bằng rừng trồng và rừng tự nhiên khoanh nuôi, được bảo vệ tốt góp phần tăng cường và ổn định độ che phủ rừng toàn huyện, nâng cao hiệu quả điều hoà nguồn nước, hạn chế xói mòn, lũ
lụt, hạn hán và sạt lở đất, cải thiện tính đa dạng sinh học trong vùng
- Hoạt động trồng rừng và kinh doanh của Công ty đã thu hút nhiều lao động nhàn rỗi trong dân, công lao động thuê khoán người dân trong địa bàn trên 10.000 công/năm, tạo thêm việc làm và góp phần xoá đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế,
Trang 33xã hội, ổn định tình hình an ninh chính trị trong địa bàn Công ty đã tham gia vào việc chuyển giao kỹ thuật thâm canh trồng rừng tới người dân trong địa bàn
3) Đánh giá chung
Nhìn chung các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực và điều kiện đất đai, tài nguyên của Công ty thuận lợi để phát triển cây lâm nghiệp, song cần đánh giá rõ các mặt thuận lợi, khó khăn như sau:
a) Thuận lợi
- Điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp để trồng các loài Keo làm nguyên liệu giấy, địa hình phù hợp cho phương thức sản xuất thủ công, giảm giá thành đầu tư và không gây tác động xấu cho môi trường
- Hệ thống giao thông đường sông và đường bộ thuận lợi cho việc vận chuyển gỗ về nhà máy Giấy của Tổng Công ty, hệ thống đường vận xuất phân bố đều trên địa bàn
- Sản phẩm có thị trường ổn định là nhà máy giấy Bãi Bằng
- Chính quyền địa phương và nhân dân trong địa bàn tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh, nguồn nhân lực dồi dào, trình độ dân trí phát triển
- Đội ngũ Cán bộ Công Nhân Viên trẻ khoẻ, có trình độ chuyên môn cơ bản, thuận lợi cho việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh để nâng cao năng suất rừng
b) Khó khăn
- Hiện trường tổ chức sản xuất phân tán, xen kẽ các cộng đồng thôn bản, địa bàn Đoan Hùng là điểm nóng về mua bán, chế biến lâm sản nên công tác quản lý bảo vệ rừng rất khó khăn
- Chính sách vay vốn phát triển sản xuất còn mang cơ chế hành chính, chưa thông thoáng nên việc giải ngân hàng năm chậm ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh
Với những điều kiện, thuận lợi và khó khăn như trên, để Công ty phát triển bền vững, cần thiết phải tổ chức sản xuất và quản lý rừng khoa học, đảm bảo phát triển về kinh tế, ổn định về xã hội và cải tạo tốt cho môi trường Vì vậy, xây dựng
kế hoạch quản lý rừng bền vững là hết sức quan trọng và cần thiết
Trang 344.1.2 Kết quả phát hiện những LCTT trong QLR của Công ty và kết quả khắc phục
1)Kết quả đánh giá tiến hành năm 2010 và hoạt động khắc phục năm 2011
Yêu cầu hoạt động
khắc phục lỗi: 01/10
Liên quan đến nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số: 1.6.1
Lỗi chưa tuân thủ Công ty có cam kết bằng văn bản ngày 14/7/2009 về tôn
trọng chính sách và tuân thủ lâu dài các tiêu chuẩn của FSC Nhân viên của các Đơn vị quản lý rừng, ủy ban nhân dân cấp
xã, cấp huyện ở địa phương được tập huấn và được truyền đạt trong cuộc họp ngày 06/5/2009 Tuy nhiên điều này vẫn không được công khai
lỗi chưa tuân thủ:
Công ty đã có bản cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn của FSC
và đã được đăng tải công khai trên Website của Tổng Công
ty Giấy Việt nam (Vinapaco)
Yêu cầu hoạt động
khắc phục lỗi: 02/10
Liên quan đến Nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số: 4.2.4
Lỗi không tuân thủ Trang bị bảo hộ lao động như: mũ bảo hộ, kính bảo vệ, quần
áo bảo vệ, ủng cao su đã cấp cho công nhân hiện trường và công nhân vườn ươm Tuy nhiên không thấy người sử dụng cưa máy sử dụng ủng có mũi sắt bảo vệ đầu ngón chân và quần bảo vệ Những công nhân bóc vỏ cây đi dép thì dễ bị nguy hiểm rủi ro cho các đầu ngón chân khi gỗ lăn
Yêu cầu hoạt động khắc phục : Yêu cầu Công ty kiểm tra nghiên cứu sự nguy hiểm
trong hoạt động khai thác, tìm ra sự phù hợp cho các nhiệm vụ về trang bị an toàn cho
công nhân, cung cấp cho họ và yêu cầu họ sử dụng trang bị
Thời gian khắc phục: Đã trang bị từ tháng 10 năm 2011
Bằng chứng khắc phục Công ty lâm nghiệp đã trang bị giầy có mũi cứng (bọc sắt)
Trang 35Yêu cầu hoạt động
khắc phục lỗi: 03/10
Liên quan đến Nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số: 6.7.1
Lỗi chưa tuân thủ Quy định kiểm soát hóa chất Số 10/1/KSHC-CTLN.XD ngày
10/1/2010 đã quy định các phế thải như bao bì hóa chất đổ theo rác hoặc chôn không phù hợp với các yêu cầu của Luật hóa chất Phỏng vấn với nhân viên kiểm soát hóa chất cũng không chỉ được bằng chứng rằng các phế thải của bao bì hóa chất đã được thực hiện một cách thích hợp
- Công ty đã bổ sung vào Biện pháp kiểm soát hóa chất Các bao
bì, chất thải được thu gom về Vinapaco
- Công ty đã ký hợp đồng vận chuyển và xử lý chất thải số 0011/2011 ngày 12 tháng 5 năm 2011 với Công ty TNHH môi trường Phú Hà có chức năng xử lý chất thải được nhà nước VN cấp phép
Yêu cầu hoạt động
khắc phục lỗi: 04/10
Liên quan đến Nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số: 7.4.1
Lỗi không tuân thủ Công ty đã chuyển kế hoạch quản lý rừng của Công ty cho
các địa phương nhưng không đưa công khai rộng rãi
lỗi chưa tuân thủ:
- KHQLR của Công ty lâm nghiệp đã báo cáo và có xác nhận của UBND cấp huyện trên địa bàn
lỗi chưa tuân thủ: cho những công nhân vận hành cưa xăng
Các công nhân lao động khác đều đã được cấp phát và giám sát việc sử dụng trang thiết bị bảo hộ lao động
Trang 36- Các kế hoạch và kết quả sản xuất hàng năm được thông báo tới chính quyền cấp xã trên địa bàn thông qua đại hội Công nhân viên chức của Công ty và gửi thông báo cho Uỷ ban nhân dân cấp xã, cấp huyện hàng năm (có biên bản lưu tại các đội sản xuất lâm nghiệp)
Yêu cầu hoạt động
khắc phục lỗi: 05/10
Liên quan đến Nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số: 8.5.1
Lỗi chưa tuân thủ: Giám sát các hoạt động QLR đã được thực hiện và giao cho
các đối tác địa phương, nhưng tóm tắt kết quả giám sát các chỉ số chưa được tiến hành và thông báo rộng rãi ra công chúng
lỗi chưa tuân thủ:
Công ty lâm nghiệp đã có tóm tắt kết quả giám sát: đa dạng sinh học, năng suất rừng, xói mòn đất … gửi UBND cấp xã sở tại, và niêm yết công khai tại Công ty
Yêu cầu hoạt động
khắc phục lỗi: 06/10
Liên quan đến Nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số: 9.2.2
Lỗi chưa tuân thủ Rừng có giá trị bảo tồn cao được giới thiệu đầy đủ tại địa
phương trong khu vực, nhưng không được tham vấn một cách thích hợp với các tổ chức phi chính phủ, đặc biệt là ở cấp quốc gia
Yêu cầu hoạt động khắc phục: Công ty nên tham vấn với các bên liên quan về các
thuộc tính bảo tồn cũng như chiến lược để duy trì hoặc giảm các đe dọa đến rừng có giá
trị bảo tồn
Thời gian khắc phục
lỗi:
Tháng 5 năm 2011
Trang 37Yêu cầu hoạt động
khắc phục lỗi: 07/10
Liên quan đến Nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số: 10.3.2
Lỗi chưa tuân thủ Rừng trồng hiện tại chủ yếu là thuần loại Keo tai tượng
(Acacia mangium) và dòng trội được lựa chọn Ngay cả rừng trồng được đa dạng bởi sự phân bố không gian và tuổi và Keo Acacia là loài rất phù hợp với công nghiệp giấy thì sự bền vững về kinh tế, sinh thái và xã hội đang chịu rủi ro Công ty hiện tại không đáp ứng yêu cầu có ít nhất 10% trồng hỗn loài
Yêu cầu hoạt động khắc phục: Công ty nên tìm cách thích hợp để thiết lập rừng trồng
hỗn giao như yêu cầu tiêu chuẩn của FSC
Thời gian khắc phục
lỗi:
Tháng 1 năm 2011
Bằng chứng khắc phục
lỗi chưa tuân thủ:
Công ty đã lập kế hoạch trồng ít nhất 10% cây Keo lai bổ sung trong KHQLR, đồng thời hợp tác với Viện nghiên cứu cây nguyên liệu Giấy nghiên cứu thử nghiệm trồng rừng Keo hỗn giao giữa loài Keo với các loài cây bản địa để áp dụng khi có kết quả
Yêu cầu hoạt động
Trang 38Lớn Nhỏ: x yêu cầu sử dụng thương hiệu dựa vào Bộ tiêu chuẩn của
FSC-STD-40-201 Tuy nhiên quy định được mô tả trong tài liệu số 30/KSG-CoC, ngày 18/3/2010 bao gồm một hình vẽ của dấu búa để đóng dấu gỗ có chứng chỉ của FSC không phù hợp với các yêu cầu của Bộ tiêu chuẩn Dấu của búa có chữ FSC, tên của Đơn vị quản lý rừng (hoặc tên viết tắt) và số của Đội Vì
gỗ đánh dấu theo cách này sẽ được bán cho nhà máy Bãi bằng, điều này không thể xem như đánh dấu nội bộ và phải phù hợp các yêu cầu về sử dụng thương hiệu FSC của người nắm chứng chỉ, đặc biệt các yêu cầu dán mác trên sản phẩm Búa như vậy về chừng mực nào đó không sử dụng được ở hiện trường
Các quy định đề cập trên yêu cầu phải có sự phê duyệt từ SmartWood về sử dụng thương hiệu FSC nhưng Công ty vẫn chưa được chứng chỉ, Công ty chưa được sự phê duyệt này
Yêu cầu hoạt động khắc phục: Công ty nên cập nhật các quy định sử dụng thương hiệu FSC để tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của tiêu chuẩn FSC-STD-50-001 V1-1
Thời gian khắc phục: Tháng 10 năm 2011
Bằng chứng khắc phục
lỗi chưa tuan thủ:
- Công ty đã có Công văn số 593/GVN-QLTNR.PT ngày 12/11/2010 về việc bãi bỏ việc đóng dấu búa thay bằng bôi sơn lên các khúc gỗ và sử dụng logo FSC để niêm phong trên các chuyến xe chở gỗ có FSC từ các Công ty về Bãi Bằng
- Logo FSC đã được phê duyệt của Smartwood
Yêu cầu hoạt động
Trang 39Lớn Nhỏ: x sử dụng nhãn hiệu FSC cùng với biểu tượng hoặc tên của một
hệ thống thẩm định lâm nghiệp khác CoC 5.12 – Công ty không được sử dụng nhãn hiệu FSC cùng với những tuyên bố
ám chỉ đến tính bền vững của rừng tách khỏi gỗ có nguồn gốc , CoC 5.13 – nhãn hiệu FSC được áp dụng cho những sản phẩm mà dễ dàng nhìn thấy rõ, không được đề cập trong quy định CoC Các Đơn vị quản lý rừng chỉ bán gỗ tròn làm giấy và nói chung không có ý định sử dụng nhãn hiệu trên sản phẩm Nhưng họ có kế hoạch sử dụng dấu búa trên đó có thương hiệu FSC để đánh dấu vào gỗ được chứng chỉ FSC, cái gì được xem xét như dán mác trên sản phẩm
Yêu cầu hoạt động khắc phục: Công ty nên có quy định không sử dụng nhãn hiệu FSC
cùng với biểu tượng hoặc tên của hệ thống thẩm định lâm nghiệp khác Công ty không
sử dụng nhãn hiệu FSC cùng với tuyên bố ám chỉ tính bền vững của rừng tách khỏi gỗ
có nguồn gốc Nhãn hiệu của FSC sẽ được áp dụng cho các sản phẩm mà có thê nhìn
thấy rõ ràng
Thời gian khắc phục: Tháng 11 năm 2011
Bằng chứng khắc phục
lỗi chưa tuân thủ:
- Công ty đã có Công văn số 593/GVN-QLTNR.PT ngày 12/11/2010 về việc bãi bỏ việc đóng dấu búa thay bằng bôi sơn lên các khúc gỗ và sử dụng logo FSC để niêm phong trên các chuyến xe chở gỗ có FSC từ các Công ty về Bãi Bằng
- Logo FSC đã được phê duyệt của Smartwood
Yêu cầu hoạt động
Trang 40Lớn Nhỏ: x thấy phương pháp luận để quyết định mẫu tối thiểu để kiểm
tra hàng năm cho việc giám sát nội bộ Phỏng vấn những nhân viên có trách nhiệm nhưng cũng không có câu trả lời rõ ràng
Yêu cầu hoạt động khắc phục : Công ty xây dựng phương pháp luận để quyết định mẫu tối thiểu cho việc giám sát nội bộ hàng năm
Thời gian khắc phục
lỗi:
Tháng 3 năm 2011
Bằng chứng khắc phục
lỗi chưa tuân thủ:
Công ty đã có Công văn số 117/GVN-QLTNR.PT ngày 18 tháng 3 năm 2011 quy định tần xuất giám sát hàng năm tại của Công ty đối với các mục đích giám sát năng suất và động thái rừng, xói mòn đất, trồng rừng và khai thác rừng Mỗi quy trình giám sát đều có hướng dẫn về phương pháp thu thập tài liệu và chỉnh lý số liệu, xây dựng kết luận Tần xuất giám sát