2-Tự động ngắt mạch một số phần tử thuộc hệ thống điện năng ví dụ khi máy phát bị quá tải, tựđộng ngắt bớt phụ tải, để giảm bớt dòng cho máy phát và dự báo những chế độ công tác khác với
Trang 1bị bảo vệ đặc biệt Hệ thống nào cũng bao gồm một hoặc nhiều thiết bị bảo vệ riêng biệt.
Việc bảo vệ cho trạm phát mang những ý nghĩa rất quan trọng sau đây:
1-Tự động ngắt mạch những phần tử có sự cố, tách khỏi những phần tử khác đang hoạt động bìnhthường Hình thức bảo vệ này có tác dụng ngăn ngừa những hậu quả tiếp theo, có thể đưa đến ngắn mạchphần tử khác
2-Tự động ngắt mạch một số phần tử thuộc hệ thống điện năng (ví dụ khi máy phát bị quá tải, tựđộng ngắt bớt phụ tải, để giảm bớt dòng cho máy phát) và dự báo những chế độ công tác khác với chế độcông tác định mức, mà ta có thể kể sau
3-Dòng công tác xấp xỉ hoặc lớn hơn dòng định mức, điện trở cách điện của hệ thống giảm quá giớihạn cho phép v.v
2 CÁC YÊU CẦU CƠ BẢN.
Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa của việc bảo vệ hệ thống, phần tử bảo vệ cần phải có cácyêu cầu cụ thể sau
1 Bảo vệ phải có tính chất chọn lọc
Nghĩa là thiết bị bảo vệ chỉ ngắt mạch những phàn tử hư hỏng, có sự cố thật, tính chất này sẽ đảm
bảo độ tin cậyhoạt động liên tục của các phụ tải tiêu thụ.
2 Bảo vệ phải có thính tác dụng nhanh:
Nhờ tác dụng nhanh mà có thể hạn chế ảnh hưởng xấu đến các máy phát đang công tác song song,đến các phần tử khác, nâng cao ổn định động của máy phát và hệ thống năng lượng, ngoài ra còn :
- Rút ngắn thời gian công tác của các hộ tiêu thụ khi điện áp thấp ( nâng cao độ tin cậy của bản thân
hộ tiêu thụ)
- Giảm bớt các hư hỏng khi dòng ngsứn mạch có tia lửa điện
Muốn thế thời gian tác động của thiết bị bảo vệ phải không quá 0,1 0,15 giây Tất nhiên ta phảihiểu rằng không phả lúc nào cũng phải họat động nhanh, ví dụ như : quá tải mọt số thiết bị quan trọng chỉđược dự báo chứ không được ngắt mạch
3.Bảo vệ phải có độ tin cậy
Các thiết bị bảo vệ rất ít khi hoạt động vì khi xảy ra sự cố, song có khi lại sự cố liên tục cách nhauvài giây, vài giờ, vài tháng, vài năm,v.v
Tuy nhiên một khi xảy ra sự cố thì các thiết bị bảo vệ phải hoạt động được và đúng Do đó cấu tạochúng phải đơn giản tin cậy dễ tháo lắp
4 Bảo vệ phải có độ nhạy
Đây là tính chất quan trọng để đảm bảo thiết bị bảo vệ phản ứng ngay với những hiện tượng hưhỏng, sự cố,
Độ nhạy của thiết bị bảo vệ được biểu thị bằng hệ số nhạy cảm Kn Ví dụ thiết bị bảo vệ dòng cựcđại thì hệ số Kn là tỷ số :
Ing min - là dòng ngắn mạch nhỏ nhất mà thiết bị bảo vệ hoạt động
Ihd - là dòng hoạt động đã được ghi trước trên bảng thông số của nó
Những phần tử bảo vệ chính là rơle và cầu chì
Trang 2* Bảo vệ cho máy phát điện
Máy phát điện bị hư hỏng là do các nguyên nhân : chất cách điện của cuộn dây stato hay roto bịhỏng, gây ra ngắn mạch hai pha, ba pha, một pha với vỏ máy, ngắn mạch giữa các vòng dây trong cùngpha, đồng thời ngắn mạch cuộn stato và cuộn dây roto với vỏ máy
Nếu cuộn dây stato hỏng không chỉ gây ra dòng lớn mà còn gây ra tia lửa điện (hồ điện quang) đốtcháy lõi thép stato, đòi hỏi phải sửa chữa khôi phục rất phức tạp
Nếu ngắn mạch cuộn dây rôto với vỏ máy tại hai điểm, phần cuộn dây còn lại có dòng lớn phátnóng, từ trường kích từ sẽ không đối xứng gây ra lực cơ học làm chấn động máy phát
Trường hợp rất nguy hiểm là sự hư hỏng của máy phát gây cháy do hồ quang điện, đốt cháy chấtcách điện và từ đó có thể gây hỏa hoạn lớn do tác động của quạt gió
Cũng là chế độ công tác không bình thường của máy phát nếu nó bị tải không đối xứng với dònglớn và dòng của máy phát lớn hơn dòng định mức do ngắn mạch ở ngoài máy phát hoặc quá tải của mộtphụ tải có công suất lớn
Trong hệ thống năng lượng tàu thủy ngoài những sự cố đã kể trên đối với máy phát còn có khả năngchuyển sang chế độ công tác như động cơ
* Tóm lại: máy phát điện trong trạm phát điện tàu thủy cần có các bảo vệ sau đây :
1 Bảo vệ ngắn mạch cho máy phát
2 Bảo vệ quá tải cho máy phát
3 Bảo vệ công suất ngược cho máy phát
4 Bảo vệ thấp áp cho máy phát
5 Bảo vệ điện áp cao cho máy phát
Trong thực tế còn một số bảo vệ khác nữa ngoài các loại bảo vệ kể trên nhưng do các loại bảo vệ đóchỉ áp dụng rất hãn hữu cho các trường hợp đặc biệt và máy phát có điện áp cao và công suất lớn nên ta sẽkhông giới thiệu cụ thể trong tài liệu này
§7.2 BẢO VỆ NGẮN MẠCH CHO MÁY PHÁT ĐIỆN
1) Các nguyên nhân gây ra ngắn mạch:
Trong quá trình vận hành và khai thác hệ thống điện năng tàu thủy có rất nhiều nguyên nhân gây ngắnmạch, đó là do hư hỏng chất cách điện của các phần tử dẫn điện trong các thiết bị điện khác nhau Hiệntượng đó là do sự già hòa tự nhiên, sự quá áp, sự bảo dướng các thiết bị không đúng qui trình hoặc docác hư hỏng cơ khí
Ngắn mạch còn do các hoạt động nhầm lẫn tức là do vi phạm các qui trình vận hành , khai thác kỹthuật các hệ thống điện năng trên tầu gây ra
Dòng ngắn mạch thường là có trị số lớn, đạt đến hàng 100.000A, nên hậu quả nó gây ra là rất lớn.Nói đến hậu quả do dòng ngắn mạch gây ra ta cần quan tâm những tác hại sau đây :
2) Các tác hại do dòng ngắn mạch gây ra
- Do có trị số lớn nên dòng ngắn mạch nhanh chóng đốt nóng các phần tử dẫn điện mà nó đi quađến nhiệt độ vượt quá nhiệt độ cho phép nhiều lần, làm cho tiếp điểm của các khí cụ bị cháy nếu như khí
cụ đó không dược tính toán để có khả năng chịu được dòng ngắn mạch
- Do ngắn mạch lớn chạy qua sẽ làm xuất hiện lực tương hỗ rất lớn giữa các phần dẫn điện của hệthống điện năng, lực này sẽ làm hư hỏng các vật cách điện làm trụ đỡ các khí cụ, thanh cái, hoặc các vật
cố định khác
Trang 3- Nếu dòng ngắn mạch kéo dài mà điểm ngắn mạch gần máy phát thì hết sức nguy hiểm, có thể gâycháy máy phát hay làm mất đồng bộ giữa các máy phát đang công tác song song.
Do vậy bảo vệ ngắn mạch cho máy phát là vô cùng quan trọng Đối với máy phát có thể các loạibảo vệ khác không có nhưng nhất thiết bảo vệ ngắn mạch phải có Bảo vệ ngắn mạch có thể bằng cáchcác thiết bị bảo vệ khác nhau nhưng chúng ta thường gặp nhất là cầu chì, aptomat hoạt động nhanh vàcuộn cảm
Trên tàu thủy được ứng dụng ba nhóm aptomat để bảo vệ ngắn mạch
1 Aptomat cổ điển
2 Aptomat chọn lọc
3 Aptomat hoạt động nhanh
Tất cả ba loại này đều đáp ứng đủ các yêu cầu qui định của Đăng kiểm và cơ quan qui chuẩn thiếtbị
3) Các loại bảo vệ ngắn mạch trong trạm phát điện xoay chiều.
1)Dùng Aptomat cổ điển :
Thời gian cắt khi ngắn mạch khoảng vài ba nửa chu kì
Loại áptomat này không sử dụng thêm các phần tử có thể rút ngắn hay kéo dài thời gian hoạt động Nếu dòng đi qua aptomat từ Igh cho đến I2 nó sẽ hoạt động theo nguyên tắc bảo vệ quá tải Khi dòng đạt lớn hơn I2 cho đến I3 aptomat hoạt động theo cơ cấu bảo vệ ngắn mạch với thời gian tb=0,01
I>
t i
Idm
1 nấc bảo vệ ngắn mạch Chu kì hoạt động(vài 3 nửa chu kì)
Hình 7.1 Đặc tính Ampe – thời gian của aptomat cổ điển.
2)Dùng Aptomat hoạt động chọn lọc:
Trang 4nm t
K
z tbt
I I3 I2
I1 Igh
Hai nấc bảo vệ ngắn mạch Chu kì hoạt động tz=0,10,5(s)
Hình 7.2 Đặc tính Ampe – thời gian của aptomat chọn lọc.
Loại này được lắp thêm phần tử cho phép kéo dài thời gian hoạt động khi bảo vệ ngắn mạch và có đặc tính như hình 3.33
3) Dùng Aptomat hoạt động nhanh:
Loại này được cấu trúc thêm phần tử cho phép rút ngắn thời gian hoạt động khi có dòng ngắn mạch lớn Loại này có khả năng hoạt động ngay ở nửa chu kì đầu của dòng ngắn mạch Vì vậy có thể đặt phần tử để nó nhanh đến mức trước khi xuất hiện dòng xung kích, tăng khả năng hạn chế ngắn mạch
I>>> :ba nấc bảo vệ ngắn mạch ts=1 đến vài ms cho đến 10ms
Hình 7.3 Đặc tính Ampe – thời gian của aptomat hoạt động nhanh.
Tóm lại từ đặc tính dòng-thời gian của các loại aptomat, ta thấy khi sử dụng loại aptomat cổ điển và chọn lọc muốn bảo vệ dòng ngắn mạch với thời gian cắt ngắn hơn tb thì thường phải phối hợp với cầu chì,còn khi sử dụng loại aptomat hoạt động nhanh thì không cần phải có cầu chì Trong thực tế: nấc thứ nhất Ing>2,5Iđm; nấc thứ hai Ing(4,56)Iđm ; nấc thứ ba Ing(610)Iđm
4) Kết hợp aptomat và cầu chì bảo vệ ngắn mạch :
Khi ứng dụng aptomat cổ điển và aptomat chọn lọc để bảo vệ ngắn mạch do không có phần tử cho
Trang 5Ingm>I3 mà sau thời gian tb mới cắt thì quá chậm và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng do vậy tanên kết hợp với cầu chì bằng cách chọn đặc tính như hình 3.35:
Trong đó: 1-2 : là đặc tính của aptomat cổ điển
3 : là đặc tính của cầu chì kết hợp
4 : là sức bền của phần tử nhiệt
Đường cong 1 và đường thẳng 2 là đặc tính dòng và thời gian của aptomat cổ điển (1 là do phần tửbimetan tạo ra, còn đường 2 là do phần tử điện từ tạo ra)
Với sự kết hợp như trên khi dòng lớn hơn I3, cầu chì sẽ hoạt động bảo vệ trước aptomat và nên chú ý toàn
bộ các đoạn 1,2,3 nhất thiết phải nằm thấp hơn đường giới hạn sức bền của phần tử nhiệt Khi chọn nếu đoạn số 3 càng dốc thì càng tốt
II3
I2IdmIgh
t
12
a
43
0
b
Hình 7.4 Đặc tính Ampe – thời gian của aptomat kết hợp cầu chì.
giới thiệu các cách đặt cầu chì và Aptomat trong mạch, ta có thể đặt cầu chì trước hoặc sau Aptomat.
Trang 6§ 7.3 BẢO VỆ QUÁ TẢI CHO MÁY PHÁT ĐIỆN
1) Các nguyên nhân gây ra quá tải cho các máy phát điện.
Máy phát bị quá tải do những nguyên nhân chủ yếu sau đây :
-Do cắt một hoặc vài máy phát đang công tác song song với các máy phát khác,
-Do khởi động trực tiếp các động cơ dị bộ có công suất lớn, tự khởi động hoặc gia tốc các động cơ
dị bộ sau khi loại trừ ngắn mạch của hệ thống,
-Do quá tải của những động cơ có công suất lớn, công tác cuả máy phát bị dao động,
-Do phân bố tải không đềugiữa các máy phát công tác song song v.v
* Máy phát đã được tính toán thiết kế để chịu quá tải trong thời gian tương đối dài Thườngthường cho phép quá tải đến 1,1 Idm trong thời gian 15 phút hoặc dài hơn Sau thời gian đó thiết bị báohiệu quá tải bằng chuông hay còi phải hoật động cắt máy phát với độ trễ thời gian tương ứng của phần tửnhiệt để bảo vệ máy phát khi quá tải 1,5idm độ trễ thời gian cắt máy phát không nên vượt quá 2 phút đốivới máy xoay chiều và không quá 15s (giây)đối với máy phát 1 chiều Khi xuất hiện dòng quá tải của máyphát lớn hơn 1,5Idm thì phần tử bảo vệ ngắn mạch phải hoạt động
Ta cần chú ý rằng quá tải máy phát gây ra hậu quả gia tăng nhiệt độ, quá nhiệt độ cho phép, gây racháy hay làm già hóa chất cách điện của nó Quá tải dẫn đến cắt máy phát ra khỏi mạng sẽ dẫn đến giánđọan việc cấp các phụ tải rất quan trọng và quan trọng gây nên những sự cố nguy hiểm mất an toàn chotàu
Để tăng thêm độ tin cậy cấp nguồn cho các phụ tải quan trọng và rất quan trọng việc bảo vệ quá tảiđược giải quyết trước hết cắt một số phụ tải không quan trọng Việc cắt máy phát chỉ thực hiện sau khhi
đã cắt hết phụ tải không quan trọng mà máy phát vẫn còn bị quá tải
2) Các phương pháp bảo vệ quá tải cho các máy phát điện
- Nếu trong trạm phát còn các máy phát dự chữ thì khởi động sau đó hoà vào mạng để công tác song song với máy phát đang bị quá tải và phân chía bớt tải của máy đang bị quá tải.
- Hoặc có thể bảo vệ quá tải bằng cách loại trừ dần các phụ tải Tức là cắt bớt các phụ tải từ không quan trọng, quan trọng , rồi rất quan trọng , sau đó mới đến cắt máy phát điện ra khỏi lưới.
- Sau đây giới thiệu sơ đồ bảo vệ quá tải điển hình đã được ứng dụng trên tàu thủy, hình 6
Các Aptomat W1,W2, và W3 được cấp nguồn là điện áp dây của lưới điện, khống chế các nhóm ohụtải O1, O2, O3 Các nhóm phụ tải O1, O2, O3 được phân loại theo mức độ quan trọng Ví dụ O3 là nhóm phụtải rất quan trọng O2 là nhóm phụ tải quan trọng và O1 là nhóm phụ tải ít quan trọng
Aptomat máy phát Wp được cấp nguồn điều khiển thông qua biến áp hạ áp TN (cũng có thể lấy trựctiếp từ mạng)
Các rơ le dòng Ir, Is, It được cấp nguồn qua biến dòng PP và sẽ phát tín hiệu sau khi xuất hiện dòngquá tải máy phát tới mức dòng cần bảo vệ ít nhất là một pha Tín hiệu này (tín hiệu quá tải) đồng thời đưatới rơle thời gian Cp thời gian dễ hoạt động của các rơle thời gian C1, C2, C3 và Cp được chỉnh định saocho tc1 < tc2 < tc3 < tcp
Sau một thời gian quá tải nhất định các nhó phụ tải O1 sau đó là O2 và tiếp theo là O3 được tuyến tựcắt ra khỏi lưới điện nhờ các rơle thời gian hoạt động cắt nguồn của các cuộn giữ U Sau khi đã cắt cácnhóm phụ tải O1, O2, và O3 mà máy phát vẫn còn bị quá tải thì tín hiệu vẫn tiếp tục đưa đến Cp và sau thờigian trễ Tcp rơle Cp sẽ cắt nguồn điều khiển Wp Máy phát sẽ được cắt ra khỏi mạng
Nếu sau khi cắt đến nhóm phụ tải nào đó mà máy phát hết giá trị quá tải thì tín hiệu quá tải biếnmất, các rơle thời gian mất nguồn nuôi, máy phát va các nhóm phụ tải còn lại (chưa bị cắt ra) tiếp tụccông tác
Trang 7Các rơ le dòng có thể là các rơle bán dẫn Các rơle điện từ đã được sử dụng rất rộng rãi trước đây.Chúng có những nhược điểm cơ bản là hệ số phục hồi tương đối thấp (0,8 0, 9) và hay bị tác động xấu) và hay bị tác động xấucủa môi trường tàu thủy nhất là cuộn chấn động và rung động.
Trang 8Rơle dòng bằng bán dẫn không có những nhược điểm trên nên ngày càng được ứng dụng nhiều trêntàu thủy Sơ đồ khố của rơle dòng bằng bán dẫn được giới thiệu ở hình vẽ sau (hình 7).
Hình 7.7 : Sơ đồ khối đơn giản rơle dòng ba pha US điện áp nuôi
Phần tử cơ bản của rơle dòng ba pha bsừng bán dẫn la phần tử tổng hợp tín hiệu vào Phần tử này
có vài ba cửa vào không phụ thuộc vào nhau Sau khi tổng hợp các tín hiệuđầu vào, tín hiệu được đưa đến
bộ khuyếch đại và được gửi tới bộ trigơ
Sơ đồ của khối tổng hợp tín hiệu vào được giới thiệu trên hình 8
Hình 7.8 : Sơ đồ tổng hợp tín hiệu đầu vào
Tín hiệu lấy từ các biến dòng đưa tới các đầu ab,ac,ad tỷ lệ thuận với điện áp rơi trên R1, R2 và R3 Các điện áp này được chỉnh lưu nửa chu kỳ qua các đi ốt D1, D2 và D3 Trên đầu đấu dây ef ta nhận đượcđiện áp một chiều mấp mô Ucf với biên độ tỷ lệ thuận với trị số dòng điện các pha lệch nhau góc 120o.Điện áp đầu ra của bộ tổng hợp tín hiệu có thể được trực tiấp đưa trên trigơ hoặc thông qua khuyếchđại dong một chiều Cả hai trường hợp đều điều chỉnh được trị số xác định của điện áp từ phần tử tổnghợp tín hiệu Trên cửa ra của rơle dòng bằng bán dẫn là bộ trigơ để gây ra điện áp một chiều đột biến ởcửa ra
Tæng hîp tÝn hiÖu vµo
U ra
s
1R a
S
R
Tõ r¬le thêi gian c1, c2 hay c3h×nh
dßng
Trang 9(H.7.9 Sơ đồ đấu nối rơ le bảo vệ quá tải cắt các phụ tải phông quan trọng)
§ 7.4 BẢO VỆ CÔNG SUẤT NGƯỢC
1) Các nguyên nhân gây ra công suất ngược cho các máy phát
Khi các máy phát công tác song song với nhau hay với ắc qui và các bộ chỉnh lưu, nó có thể trởthành động cơ (máy phát công tác ở chế độ động cơ) Trong chế độ công tác này chiều của công suất sẽngược lại với chế độ công tác của máy phát
Máy phát trở thành một phụ tải tiêu thụ năng lượng điện Nguyên nhân gây ra hiện tượng công suấtngược là do công tác không bình thường của động cơ truyền động cho máy phát, như gián đoạn việc cấpnhiên liệu, hỏng khớp nối giữa máy phát và động cơ truyền động
Đối với máy phát một chiều, chuyển sang chế độ công tác động cơ còn do mất điện áp kích từ hayđiện áp máy phát bị giảm tức là sức điện động của máy phát nhỏ hơn điện áp trên thanh cái
Hiện tượng máy phát chuyển sang chế độ công tác động cơ gây quá tải cho các máy phát còn lại vànhư vậy có thể dẫn đến cắt các máy phát đó Để đề phòng hiện tượng trên, các máy phát công tác songsong đều được trang bị thiết bị bảo vệ chống công suất ngược mà ta thường gọi là rơle công suất ngược
3) Các phương pháp bảo vệ công suất ngược cho máy phát đồng bộ
Thiết bị bảo vệ chống công suất ngược cho máy phát đồng bộ phải có phần tử cảm biến được chiềucủa công suất Nó được gọi là rơ le bảo vệ công suất ngược (REVERSE POWER RELAY )
Trên tàu thủy thường được ứng dụng hai loại rơle công suất ngược đó là rơle công suất ngược cảmứng UM 149) và hay bị tác động xấu và rơle công suất ngược bằng bán dẫn (điện tử)
Rơle công suất ngược cảm ứng được lắp dặt trên các tàu đóng cách đây không lâu lắm Nhược điểmcủa loại này là chịu tác động của môi trường tàu thủy quá lớn như rung động, chấn động và có hệ số hồiphục nhỏ
a) Dùng rơ le công suất ngược kiểu đĩa quay UM-149.
Trên các tàu do của Nga đóng thường lắp đặt rơle công suất ngược cảm ứng ký hiệu UM - 149) và hay bị tác động xấu được giới
thiệu ở hình 10
Nèi víi biÕn ¸p
Nèi víi
23
4
5
I
89
I
u
Trang 10Hình 7.10: Sơ đồ cấu tạo rơle UM-149) và hay bị tác động xấu
Cấu tạo của rơle UM - 149) và hay bị tác động xấu bao gồm các phần tử : các khung từ 1 và 2, trên khung từ 1 được quấncuộn dòng 4 và lấy tín hiệu từ biến dòng của máy phát Trên khung từ 2 được quấn cuộn áp 5 và lấy tínhiệu từ biến áp đo lường Đĩa 3 bằng nhôm được cố định trên trụ quay có các gối đỡ Tiếp điểm 8 được cốđịnh cùng với trụ quay của đĩa nhôm 3 Tiếp diểm 9) và hay bị tác động xấu đặt cố định Khi đĩa nhôm 3 được quay theo mộtchiều nhất định tiếp điểm 8 và 9) và hay bị tác động xấu sẽ tiếp xúc Đĩa nhôm 3 chỉ được quay theo hướng nhất định Hướngngược lại không quay được và đã bị hãm bằng chốt
Ta hãy xét quá trình xảy ra trong rơle UM - 149) và hay bị tác động xấu
Muốn có từ trường quay ta phải tạo ra hai từ thông 1 và u lệch pha nhau về không gian và thời gian.
Hình vẽ 7.11: Sơ đồ véc tơ rơle UM-149) và hay bị tác động xấu
Từ sơ đồ véc tơ ta có :
Véc tơ điện áp đưa vào cuộn 5 (áp) U, véc tơ của dòng đưa vào cuộn 4 là I, góc lệch pha giữa U
và I Iu - dòng chạy trong cuộn áp 5 Do có sự tổn hao nên vectơ và I lệch nhau một góc nhỏ Như vậyhai từ thông 1 và u lệch pha đó tạo tạo ra từ trường quay và gây ra mômen quay trên đĩa nhôm 3 ta cóthể tính:
M1 = K I U sin
Khi từ chế độ máy phát chuyển sang chế độ động cơ thì véc tơ dòng quay đi một góc 180o Góc tạothành giữa véc tơ I’ và U’ sẽ là 180o - và góc tạo bởi U và ’I là 180o +
Lúc này mômen quay trên đĩa 3 là :
M2 = K ’I U sin (180o + )
Trang 11Hỡnh vẽ 7.12: Sơ đồ đấu rơle cụng suất ngược UM-149) và hay bị tỏc động xấu
b) Rơ le cụng suất ngược dạng dựng biến ỏp nhậy pha.
Bờn cạnh rơle cụng suất ngược UM - 149) và hay bị tỏc động xấu trờn cỏc tàu Nga cũn ứng dụng rơle cụng suất ngược mà phần tử
cảm biến là cỏc biến ỏp nhậy pha như hỡnh 13
Hỡnh vẽ 7.13 : Sơ đồ đấu rơle cụng suất ngược kiểu biến ỏp nhạy pha
Rơle này bao gồm hi phần chớnh :
- Phần nhạy pha
S T R
G
Nơi đến của các thiết bị khác
_+
P
Bd
BA