1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất bền vững huyện ba chẽ, tỉnh quảng ninh đến năm 2020

119 429 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 911,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất nhằm xác định quỹ đất dành cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tránh được sự chồng chéo về nhu cầu sử dụng đất; phục vụ cho công tác quản l

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN TRỌNG BÌNH

Hà Nội, 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài Luận văn "Nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất bền vững huyện Ba

Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020" được thực hiện từ năm 2013 - 2014, tác

giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả Các số liệu, kết quả trong Luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên./

Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2014

Tác giả

Đoàn Văn Khánh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài Luận văn "Nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất bền vững huyện Ba

Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020" đã hoàn thành Trước hết tôi xin bày tỏ lòng

biết ơn Trường Đại học Lâm nghiệp, quý thầy giáo, cô giáo trong và ngoài trường

đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và thực tập làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS Nguyễn Trọng Bình - Trưởng khoa Lâm học, Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp tôi định hướng đề tài nghiên cứu

và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Trân trọng cảm ơn Uỷ ban nhân huyện Ba Chẽ, các phòng ban, chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đã giúp đỡ trong quá trình điều tra và cung cấp số liệu tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài

Trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Chẽ đã tạo điều kiện bố trí về thời gian và công việc để tôi có điều kiện tổ chức thực hiện đề tài Chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, giúp

đỡ tôi rất nhiều cả về vật chất và tinh thần trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do quỹ thời gian, trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết Tôi kính mong nhận được các ý kiến đóng góp

bổ sung của quý thầy cô giáo, các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp để bản luận văn này được hoàn chỉnh hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tha ́ ng 3 năm 2014

NGƯỜI THỰC HIỆN

Đoàn Văn Khánh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Nhận thức chung về Quy hoạch vùng lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) cấp huyện 3

1.2 Quy hoạch vùng lãnh thổ ở một số nước trên thế giới 6

1.3 Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Việt Nam 10

1.4 Quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 13

1.4.1 Một số nghiên cứu về cơ sở thực tiễn của QHSDĐ 13

1.4.2 Đánh giá ban đầu về vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 16

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 18

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 18

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 18

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 18

2.3 Nội dung nghiên cứu 18

2.3.1 Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất 19

2.3.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện Ba Chẽ 19

2.3.3 Đánh giá tình hình sử dụng đất qua các thời kỳ của huyện Ba Chẽ 19

Trang 6

2.3.4 Đánh giá tiềm năng và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực

huyện Ba Chẽ 19

2.3.5 Xây dựng quy hoạch sử dụng đất bền vững huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 19

2.4 Phương pháp nghiên cứu 19

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu 19

2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát và đánh giá 20

2.4.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 21

2.4.4 Phương pháp chuyên gia 23

Chương 3 24

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

3.1 Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất 24

3.1.1 Cơ sở lý luận 24

3.1.2 Cơ sở pháp lý đối với QHSDĐ bền vững huyện Ba Chẽ 27

3.1.3 Cơ sở thực tiễn quy hoạch sử dụng đất huyện Ba Chẽ 29

3.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Ba Chẽ 29

3.2.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường 29

3.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 33

3.2.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường 41

3.3 Đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất qua các thời kỳ của huyện Ba Chẽ 43

3.3.1 Thời kỳ 2006-2010 43

3.3.2 Giai đoạn 2011 - 2013 58

3.4 Đánh giá tiềm năng và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực huyện Ba Chẽ 60

3.4.1 Đánh giá tiềm năm đất đai 60

3.4.2 Định hướng dài hạn sử dụng đất 63

3.5 Xây dựng quy hoạch sử dụng đất bền vững huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 68

3.5.1 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong kỳ quy hoạch 68

Trang 7

3.5.2 Phương án quy hoạch 76

3.5.3 Đánh giá tác động của phương án quy hoạch sử dụng đất đến kinh tế xã hội huyện Ba Chẽ 84

3.5.4 Phân kỳ quy hoạch sử dụng đất 86

3.5.5 Lập kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (giai đoạn 2014 -2015) 94

3.5.6 Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 100

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 10

Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới chung của đất nước, nông nghiệp, nông thôn nước ta đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng, đời sống của nông dân ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn đã có nhiều khởi sắc Trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng cũng đã xác định “Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới Xây dựng các làng, xã, thôn bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh” Để thực hiện tốt theo Nghị quyết của Đảng đòi hỏi cả hệ thống chính trị phải cùng vào cuộc; từng bước cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng vào các quy hoạch, kế hoạch, chương trình dự án làm cơ sở để triển khai thực hiện hiệu quả, đặc biệt cấp cơ sở, cấp trực tiếp triển khai thực hiện

Trong thực tế, quy hoạch sử dụng đất vừa mang tính định hướng, vừa mang tính pháp lý giúp các cấp chính quyền tổ chức quản lý, sử dụng đất đai một cách chặt chẽ, có hiệu quả, tránh lãng phí, đồng thời cụ thể hoá các chiến lược phát triển kinh

tế xã hội trên địa bàn, nhằm đáp ứng được mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài, góp phần sử dụng nguồn tài nguyên đất đai một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững Xác định tầm quan trọng của vấn đề này, đồng thời để cụ thể hoá Luật Đất đai

và các văn bản pháp luật có liên quan, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành nhiều

Trang 11

văn bản pháp lý làm cơ sở để các cấp, tiến hành quy hoạch sử dụng đất như: Nghị định

số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/ 8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường qui định chi tiết về lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và nhiều văn bản phát lý khác có liên quan

Ba Chẽ là huyện miền núi đặc biệt khó khăn của tỉnh, xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, kinh tế lâm nông nghiệp là chủ đạo; cơ sở hạ tầng kỹ thuật kém phát triển, trình độ dân trí của người dân còn nhiều hạn chế, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Trong thời gian tới với mục tiêu là thoát khỏi huyện đặc biệt khó khăn, huyện sẽ tận dụng tối đa các nguồn lực đầu tư của Nhà nước, của tỉnh và các lợi thế của huyện, tập trung phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá; đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật kinh tế - xã hội; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần nhân dân trong huyện Quá trình phát triển kinh tế -

xã hội của huyện trong tương lai sẽ có áp lực lớn lên nhu cầu sử dụng đất, đặc biệt

là quỹ đất dành cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Vì vậy, việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất nhằm xác định quỹ đất dành cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tránh được sự chồng chéo về nhu cầu sử dụng đất; phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai của địa phương

Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của công tác quy hoạch trong quản

lý sử dụng đất và thực hiện Luật Đất đai, việc nghiên cứu đề xuất quy hoạch sử dụng đất hợp lý, có cơ sở khoa học cho huyện Ba Chẽ sẽ góp phần quan trọng trong việc quản lý chặt chẽ tài nguyên đất, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân, các ngành, các địa phương đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội; giảm nghèo nhanh, bền vững tại huyện Ba Chẽ Với những lý do nêu trên và yêu cầu của một Luận văn tốt

nghiệp cao học tại Trường Đại học Lâm nghiệp, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu quy

hoạch sử dụng đất bền vững huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020”

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để thực hiện quản lý, sử dụng đất tiết kiệm,

hiệu quả theo hướng xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đổi mới toàn diện

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Nhận thức chung về Quy hoạch vùng lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) cấp huyện

Theo từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 1992, thì quy hoạch là việc “bố trí, sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn”

Quy hoạch là sự phân bố và sắp xếp các hoạt động và các yếu tố sản xuất, dịch

vụ và đời sống trên một địa bàn lãnh thổ (quốc gia, vùng, tỉnh, huyện…) cho một thời kỳ trung hạn, dài hạn (có chia các giai đoạn) để cụ thể hóa chiến lược phát triển KT-XH trên lãnh thổ, theo thời gian và là cơ sở để lập các kế hoạch phát triển Phải dựa trên cơ sở tính toán và khai thác hợp lý, khoa học, có hiệu quả cao các điều kiện thiên nhiên, kinh tế, xã hội, các yếu tố của lực lượng toàn xã hội nhằm đạt mục tiêu

Nhiệm vụ của quy hoạch vùng lãnh thổ: (1) Xây dựng cơ cấu kinh tế đúng đắn

để chuyên môn hóa sản xuất và phát triển tổng hợp; (2) Bố trí cơ cấu đất đai phù hợp với cơ cấu kinh tế; (3) Xây dựng cơ sở hạ tầng (thủy lợi, giao thông, cơ khí, năng lượng, dịch vụ sản xuất và đời sống) Tổ chức lao động, xây dựng và phát triển các ngành phù hợp với lợi ích xã hội Xây dựng các biện pháp bảo vệ môi trường

Trang 13

Nguyên tắc của quy hoạch vùng lãnh thổ: Xây dựng nền kinh tế hàng hóa phù hợp với nhu cầu xã hội và cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Khai thác

sử dụng các nguồn tài nguyên đất, rừng và lao động một cách có hiệu quả nhằm tạo

ra cơ cấu kinh tế hợp lý, giải phóng và phát triển sức sản xuất

Trên cơ sở phát triển kinh tế, giải quyết yêu cầu nâng cao đời sống văn hóa, vật chất và tinh thần của mọi người

Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất và đời sống

Xây dựng hệ thống các điểm dân cư, tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ

về sản xuất, văn hóa đời sống tinh thần của nhân dân trong vùng

Áp dụng các quy trình công nghệ tiên tiến, hiện đại các giải pháp tổ chức lãnh thổ

và kinh tế kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất xã hội Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên với việc bảo vệ môi trường sống

Nội dung quy hoạch vùng lãnh thổ:

+ Phân tích các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng trên các mặt khó khăn, thuận lợi, tiềm năng và thách thức liên quan đến điều kiện cơ bản, kỹ thuật và công nghệ

+ Xác định phương hướng và mục tiêu cơ bản

+ Bố trí cơ cấu sử dụng đất; bố trí các cơ sở kết cấu hạ tầng

+ Xác định phương hướng, quy mô phát triển các ngành và các lĩnh vực

+ Tổ chức sử dụng lao động

+ Tổ chức các khu dân cư

+ Bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi trường

+ Ước tính nhu cầu vốn đầu tư cho phương án

+ Dự tính hiệu quả của phương án quy hoạch

Quy hoạch sử dụng đất huyện thuộc phạm trù quy hoạch vùng lãnh thổ được giới hạn trong đơn vị hành chính cấp huyện Vì quy hoạch vùng lãnh thổ mang tính chất hành chính kinh tế [10]

Trang 14

Quy hoạch sử dụng đất có vai trò và chức năng vô cùng quan trọng, nó tạo ra những điều kiện cần thiết để tổ chức quản lý, sử dụng đất có hiệu quả cao, bền vững QHSDĐ là một hoạt động định hướng nhằm sắp xếp, bố trí sử dụng đất một cách hợp lý vào thời điểm hiện tại và phù hợp với mục tiêu trong tương lai QHSDĐ

là tiền đề vững chắc cho bất kỳ giải pháp nào nhằm phát huy đồng thời những tiềm năng to lớn, đa dạng và các điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khác QHSDĐ là tiến hành phân chia, sắp xếp hợp lý về mặt không gian và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh theo các cấp quản lý sản xuất khác nhau, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu về mặt Nông lâm sản cho nền kinh tế địa phương và Quốc dân Đặc biệt trong sản xuất Nông - lâm nghiệp QHSDĐ có nhiệm vụ quy hoạch sử dụng các loại đất Nông - lâm nghiệp, các phương pháp thâm canh trong Nông - lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và các giải pháp bảo vệ đất chống xói mòn, bảo vệ rừng và môi trường sinh thái QHSDĐ là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn Do đó, công tác QHSDĐ cần có sự phối hợp chặt chẽ, lồng ghép với quy hoạch phát triển nông thôn mới nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành, các lĩnh vực Thực chất của công tác quy hoạch là tổ chức về không gian

và thời gian phát triển cho một ngành hoặc một lĩnh vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể

Vấn đề QHSDĐ có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế xã hội Nếu QHSDĐ hợp lý thì nền kinh tế xã hội sẽ phát triển bền vững, trong điều kiện ngược lại thì sự phát triển của nền kinh tế xã hội sẽ gặp những cản trở, khó khăn Ngày nay, trong điều kiện nhu cầu của xã hội về đất canh tác, đất xây dựng cơ sở hạ tầng,… ngày càng cao thì vấn đề QHSDĐ một cách bền vững càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết

Nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp huyện bao gồm:

+ Xác định cụ thể diện tích các loại đất trên địa bàn huyện đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất của cấp tỉnh;

Trang 15

+ Xác định diện tích các loại đất để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của cấp huyện, bao gồm: đất nuôi trồng thủy sản không tập trung; đất làm muối; đất khu dân cư nông thôn; đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp cấp huyện; đất để xử

lý, chôn lấp chất thải nguy hại; đất cơ sở sản xuất kinh doanh; đất sản xuất vật liệu xây dựng gốm sứ; đất phát triển hạ tầng cấp huyện; đất có mặt nước chuyên dùng; đất nghĩa trang, nghĩa địa do huyện quản lý;

+ Diện tích các loại đất chuyển mục đích sử dụng phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đáp ứng nhu cầu của huyện;

+ Xác định diện tích đất chưa sử dụng để đưa vào sử dụng;

+ Xây dựng bản đồ quy hoạch sử dụng đất của cấp huyện;

+ Giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất

1.2 Quy hoạch vùng lãnh thổ ở một số nước trên thế giới

+ Một số nước Châu Âu và Mỹ:

- Liên Xô (cũ): Ở Liên xô, nghiên cứu tổ chức lãnh thổ (Quy hoạch) thế hiện ở

tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất cả nước và các vùng vĩ mô, đây cũng là cơ sở cho nghiên cứu quy hoạch vùng (ray-on-naia plan-nhia-rôpka) Nội dung quy hoạch vùng gắn với quy hoạch đất đai, thực hiện trên qui mô một tỉnh, một tiểu vùng Những tư liệu luận chứng kinh tế kỹ thuật này được chấp nhận là cơ sở khoa học cho công tác xây dựng kế hoạch Sơ đồ quy hoạch vùng thể hiện cơ cấu kiến trúc

- quy hoạch, bảo đảm các điều kiện hợp lý cho sự phát triển sản xuất, dịch vụ, xây dựng đô thị, sử dụng hợp lý điều kiện tự nhiên và bảo vệ môi trường [11] Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội phải gắn được với phương hướng sử dụng đất Quy mô diện tích của bản quy hoạch vùng hành chính tỉnh (Liên Xô cũ) giới

vận tải, xây dựng được bố trí từ việc hình thành mạng lưới các điểm dân cư đô thị

và nông thôn, kéo theo là các dịch vụ đời sống, các khu văn hóa - vui chơi giải trí, nơi an dưỡng trên cơ sở sử dụng hợp lý quỹ đất, nguồn nước, môi trường Từ đó mới tiến hành sơ đồ thiết kế mặt bằng tỷ lệ 1/100.000, bố trí các cơ sở kinh tế xã hội

Trang 16

chính, khu công nghiệp, nhà hát, trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí, các khu dân cư, các vành đai giao thông vận tải, cảng biển, sông, nhà ga đường sắt, hàng không, các vành đai nông nghiệp, khu xanh, khu đệm, khu dự phòng, bảo vệ môi trường (bản đồ tỷ lệ 1/25.000 - 1/50.000) Trên cơ sở bản thiết kế quy hoạch này tiến hành quy hoạch các cụm công nghiệp, kế hoạch xây dựng mặt bằng thành phố, vùng cây xanh (bản đồ tỷ lệ 1/1.000-1/25.000) [11]

- Ở các nước phương Tây, các chương trình, dự án phát triển vùng đều tiến hành dựa trên sơ đồ cơ cấu kiến trúc - quy hoạch vùng gắn với quy hoạch sử dụng đất, dựa trên phương hướng mục tiêu phát triển (hay chiến lược) của vùng vĩ mô [11] Nội dung tổ chức lãnh thổ (organisation du territoire) ở nước Pháp là chấn chỉnh lãnh thổ, chia cả nước thành 21 vùng, sau nâng lên thành 22 vùng, 95 tỉnh Năm 1965 thành lập cơ quan chuyên trách về tổ chức lãnh thổ, lấy mục tiêu cân bằng để chấn chỉnh lãnh thổ, khống chế dân số và ngành nghề quá tập trung vào vùng Thủ đô Paris; sử dụng các biện pháp kinh tế và hành chính để phát triển các vùng núi lạc hậu; chú trọng xây dựng đô thị mới, phát triển du lịch và bảo vệ môi trường trên cơ sở các sơ đồ kiến trúc - quy hoạch chi tiết tỉnh, thành phố [11]

Nghiên cứu phát triển vùng ở nước Anh thể hiện chủ yếu trong công tác kế hoạch hóa vùng (Regional Planning), nhằm sử dụng hợp lý quỹ đất quốc gia trong chính sách định vị công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và các đô thị; giải quyết những vấn đề cơ cấu liên ngành, liên vùng, liên ngành - liên vùng, xây dựng các phương án phân vùng vĩ mô (11 và 16 vùng); với các chính sách can thiệp thúc đẩy các vùng mới, cải thiện các vùng đình đốn [11]

- Từ thế kỷ thứ XIX, khi nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa bắt đầu phát triển với tốc độ mạnh do ngành công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu khối lượng gỗ ngày càng tăng Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa Chính

hệ thống hoàn chỉnh về lý luận QHSDĐ đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy và đã được đề cập đến, được thực hiện một cách triệt để, nghiêm túc, nhằm thoả mãn nhu cầu của thực tế khách quan xã hội loài người Thời kỳ này đã có những

Trang 17

công trình nghiên cứu về QHSDĐ, phần lớn các công trình nghiên cứu này đều xuất phát tại Mỹ [31].

- Tại Mỹ, năm 1929 bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai trong đó có quy định nguyên tắc sử dụng đất Lâm nghiệp, tiếp theo là xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin, kế hoạch này đã xác định các diện tích cho sử dụng Lâm nghiệp, Nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí Năm 1966 Hội đất học và Hội nông dân học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng QHSDĐ Tại Đức tác giả Haber năm 1972

đã xuất bản tài liệu “Khái niệm về sử dụng đất khác nhau, đây được coi là lý thuyết sinh thái về quy hoạch sử dụng đất dựa trên quan điểm về mối quan hệ hợp lý giữa tính đa dạng của hệ sinh thái cũng như sự ổn định của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh Từ năm 1967 Hội đồng Nông nghiệp Châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và QHSDĐ [31] Các hội nghị này khẳng định rằng quy hoạch vùng nông thôn trong đó quy hoạch các ngành sản xuất như Nông nghiệp, Lâm nghiệp, chăn nuôi, chế biến nhỏ,… cũng như quy hoạch cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai Năm 1971 và 1975 các chuyên gia tư vấn họp tại Rome (Italia) và Geneve (Thụy sỹ) để thảo luận về phương pháp luận quy hoạch nông thôn Nội dung các cuộc thảo

- Những kết quả phân tích hệ thống canh tác tại Châu á, châu Phi và Nam Mỹ

đã xác nhận rằng phân tích hệ thống canh tác là một công cụ quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất cấp địa phương Năm 1990, Luning đã nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với phân tích hệ thống canh tác cho QHSDĐ [32]

Trong nghiên cứu các hệ thống canh tác, Robert Chamers (1985) đã đưa ra các cách tiếp cận sau [12]: (1) Tiếp cận Sondeo của Peter Hildeband - (Hilđebran, 1981); (2) tiếp cận “Nông thôn - trở lại - về nông thôn” của Robert Rhoades - (Rhoades, 1982); (3) cách sử dụng cụm kiến nghị của L.W Harrington (Harrington, 1984); (4) cách tiếp cận theo tài liệu của Robert Chamberrs: “Nghiên cứu nông nghiệp cho nông dân nghèo”; (5) cách tiếp cận “chuẩn đoán và thiết kế” của ICRAF

Trang 18

(Rainree) và (6) Chương trình nông nghiệp quốc tế - bản phân tích theo vùng các hệ canh tác của trường Đại học Cornel (Garrett và đồng tác giả, 1987)

+ Một số nước Châu Á:

- Malaysia: Phát triển kinh tế lãnh thổ ở Malaysia được tiến hành mạnh từ năm

1972, Quốc hội phê chuẩn thành lập 7 vùng; cùng với sự chỉ đạo của Bộ Tài nguyên đất và Phát triển vùng ở Trung ương, mỗi vùng có cơ quan phát triển vùng chỉ đạo trực tiếp các trọng điểm, soạn thảo chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đưa ra các quyết định ngân sách đảm bảo thực thi các dự án như một động lực thúc đẩy mọi hoạt động sản xuất, lưu thông phân phối trong công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, gắn kết các đô thị lớn hình thành mạng lưới các cực tăng trưởng trong phát triển vùng và các điểm dân cư ở các vùng biên giới [11]

- Nhật Bản: Chương trình phát triển vùng ở Nhật Bản là một mục tiêu trong kế hoạch toàn diện quốc gia, phải mang tính toàn diện, không chỉ vì kinh tế xã hội, mà phải đảm bảo tiêu chuẩn sử dụng hiệu quả quỹ đất quốc gia, tài nguyên nước, năng lượng, giao thông…Sau chiến tranh phải tập trung vào những khu vực liền kề các thành phố lớn Tokyo - Osaka - Chibu, hình thành vành đai Thái Bình Dương Sau

đó bố trí phân tán các công xưởng mới ở ngoại vi các thành phố lân cận tạo thành các trung tâm công nghiệp mới, khống chế đô thị lớn, chấn hưng địa phương theo loại hình phân tán nhiều cực, khai thác các vùng định cư, nhằm phát triển cân đối toàn quốc Phát triển mạng lưới quốc gia có vai trò chiến lược trong gia tăng nguồn lực trên các vùng chậm phát triển, kết hợp chính sách công nghệ với chính sách vùng Chiến lược được thực hiện bởi các sơ đồ kiến trúc - quy hoạch cụ thể [11]

- Trung Quốc: Khoảng 300 năm trước công nguyên, nước Trung Hoa đã mô tả đất, nước và sản vật các vùng trên bản đồ, lấy sản xuất nông nghiệp là chính, xoay quanh các trung tâm là thành thị, có nhiều đường nhỏ chạy ngang dọc, xung quanh

là ruộng, vườn; ở thời kỳ đó đã tính đến bao nhiêu đất có thể nuôi sống bao nhiêu người, xây dựng bao nhiêu thành thị thị trấn là thích hợp Sản vật đã mở rộng nhiều mặt hàng nông lâm thủy sản, khoáng sản, thủ công nghiệp; thành phố được khảo sát tại những nút giao thông quan trọng, đi lại thuận lợi, hàng hóa giao lưu xuất nhập

Trang 19

phồn vinh Những mô tả và phân tích bố trí sản xuất và định cư đã phản ánh tư tưởng quy hoạch vùng, tuy còn sơ lược

Sau cách mạng công nghiệp, quy hoạch vùng là vấn đề kinh tế xã hội đặt ra nhằm giải quyết mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp và mở rộng thành thị Chủ

xí nghiệp tự lựa chọn vị trí vùng công nghiệp, tuyến đường giao thông, vị trí vùng cảng , gây nhiều lộn xộn và xung đột giữa sản xuất Dân số thành thị tăng nhanh, hình thành nhiều điểm dân cư, nẩy sinh mối quan hệ giữa nội thị và ngoại ô, gắn với công trình giao thông, cấp nước, xử lý nước thải, giáo dục, bệnh viện, khu nghỉ ngơi, khu bảo vệ tự nhiên, đòi hỏi phải tiến hành điều hòa xây dựng và quản lý đất đai Ngày nay những nội dung này được hoàn thiện với tên gọi là Quy hoạch vùng với sơ đồ “kiến trúc - quy hoạch”

Năm 1956, Ủy ban xây dựng Quốc gia Trung Quốc thành lập Cục Quản lý quy hoạch vùng và quy hoạch thành thị, đến 1958 - 1960 nhiều tỉnh đã xây dựng tổng sơ

đồ và sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất và sơ đồ quy hoạch vùng với

sự giúp đỡ của đoàn cố vấn Liên Xô

Sau năm 1985, do sự thúc đẩy của công tác quy hoạch lãnh thổ quốc gia, lấy chấn chỉnh khai thác tổng hợp làm quy hoạch phát triển vùng các cấp, triển khai toàn diện trong phạm vi cả nước Theo nhận xét của các nhà khoa học Trung Quốc thì hiện nay quy hoạch vùng của nước này còn chưa hoàn toàn thoát khỏi sự trói buộc bởi tư tưởng của thể chế kinh tế cũ, còn mang màu sắc kế hoạch và mệnh lệnh, phương án quy hoạch, chiến lược vĩ mô quá nhiều mà tính hiện thực khả thi kém,

do sự kết hợp phân tích định tính và nghiên cứu định lượng chưa đầy đủ, đề xuất các chính sách còn ít Để khắc phục những yếu kém, Trung Quốc đã đưa quy hoạch vào quỹ đạo lập pháp pháp chế thay cho kế hoạch [10]

1.3 Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Việt Nam

Từ “quy hoạch” được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc khi giúp ta xây dựng khu công nghiệp Việt Trì, khu gang thép Thái Nguyên trong những năm 50 -

60 của thế kỷ trước; sau đó quy hoạch vùng lúa Đồng Bằng Sông Hồng, vùng bò

Trang 20

sữa Ba Vì Trong khi đó, ở miền Nam sử dụng từ hoạch định từ khi có khu công nghiệp Biên Hòa [10]

Về góc độ lãnh thổ, trong những năm 70, được sự giúp đỡ của Liên Xô, để phân biệt với nội dung quy hoạch vùng thuộc phạm vi xây dựng cơ bản như đã nêu

ở trên, Nhà nước đã triển khai lập Tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất cho cả nước, sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất cho các ngành, các vùng vĩ mô và các tỉnh Nhưng sau khi Liên Xô tan rã, đến năm 2000 chương trình này kết thúc Từ đó đến nay công tác nghiên cứu lãnh thổ được gọi là quy hoạch tổng thể KT-XH vùng và tỉnh, làm cở sở khoa học cho việc soạn thảo kế hoạch thuộc sự chỉ đạo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, còn nhiệm vụ quy hoạch vùng như cơ cấu kiến trúc - quy hoạch trước đây thuộc sự chỉ đạo của Bộ Xây dựng thì nay chuyển đổi với tên gọi là quy hoạch đô thị và nông thôn; đương nhiên vẫn phải dựa vào bản cơ cấu kiến trúc - quy hoạch và phương hướng mục tiêu của quy hoạch tổng thể KT-XH vùng [10]

Cho đến nay, các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các đơn vị hành chính: Từ toàn quốc tới Tỉnh (Thành phố trực thuộc trung ương), huyện (thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận) và xã (phường) Để phát triển mỗi đơn vị đều phải xây dựng phương

án quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH, quy hoạch phát triển các ngành sản xuất

và quy hoạch dân cư, phát triển văn hóa, xã hội [11]

Quy hoạch sử dụng đất là một khâu quan trọng trong toàn bộ quy trình kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân Quy hoạch phải gắn với chiến lược phát triển KT-

XH [2] và làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch thực hiện

Quy hoạch ngành và quy hoạch huyện, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải căn cứ vào Chiến lược và định hướng quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của vùng Quy hoạch sử dụng đất và tất cả các quy hoạch chi tiết như quy hoạch xây dựng hay quy hoạch mặt bằng, quy hoạch vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi, quy hoạch khu công nghiệp Phải căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh dựa trên quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, chiến lược phát triển của Trung ương, của tỉnh Từ quy hoạch chiến lược phát triển

Trang 21

của tỉnh, vùng, Trung ương và quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia mới tiến hành nghiên cứu và xây dựng quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Như vậy, quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH chính là sự cụ thể hoá của chiến lược phát triển [11]

Những căn cứ xác định quy hoạch sử dụng đất của tỉnh:

Chiến lược phát triển KT-XH của cả nước

Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH và quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia Các nghị quyết, quyết định về chủ trương phát triển của Đảng, Quốc hội và Chính phủ

Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh và các chủ trương phát triển KT-XH của Đảng

bộ tỉnh

Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của vùng

Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực (cấp quốc gia)

Quy hoạch xây dựng, đô thị và quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia liên quan

đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Quy hoạch xây dựng, đô thị và quy hoạch sử dụng đất của tỉnh giai đoạn trước

đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Các kết quả điều tra cơ bản, khảo sát và hệ thống số liệu, tài liệu liên quan [1]

Những căn cứ xác định quy hoạch sử dụng đất của huyện:

Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH của vùng, của tỉnh và của huyện

Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện và các chủ trương phát triển KT-XH của Đảng bộ huyện

Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực (cấp tỉnh)

Quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh liên quan đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Quy hoạch xây dựng, quy hoạch sử dụng đất cấp huyện giai đoạn trước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

Hệ thống số liệu thống kê, các kết quả điều tra, khảo sát, các số liệu, tài liệu liên quan và dự báo trong tỉnh, huyện và các huyện lân cận [1]

Trang 22

1.4 Quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam

1.4.1 Một số nghiên cứu về cơ sở thực tiễn của QHSDĐ

- Ở Việt Nam, từ thế kỷ 15 Lê Quý Đôn đã tổng kết kinh nghiệm của mình về canh tác nông nghiệp trong “Vân đài loại ngữ” Ông đã khuyên nông dân áp dụng luân canh với cây họ đậu để tăng năng suất lúa trong sản xuất nông nghiệp

- Trong thời kỳ Pháp thuộc, các công trình nghiên cứu đánh giá và QHSDĐ đã được các nhà khoa học Pháp nghiên cứu phát triển với quy mô rộng lớn

- Giai đoạn 1955 - 1975, công tác điều tra phân loại đất đai đã được tổng hợp một cách có hệ thống trong phạm vi toàn miền Bắc Nhưng đến sau năm 1975 các

số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác nhau triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986; Đỗ Đình Sâm, 1994 ) Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu biện pháp đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất, công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng đất Những thành tựu về nghiên cứu đất đai trong giai đoạn trên là cơ sở quan trọng góp phần vào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả trên toàn Quốc Tuy nhiên, ở nước ta vấn đề QHSDĐ cấp

vi mô có sự tham gia của người dân mới được nghiên cứu ứng dụng trong những năm gần đây Cấp vi mô thực chất đã được đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau; tuy vậy, cho đến nay những nghiên cứu trên vẫn còn hết sức tản mạn và chưa có sự phân tích tổng hợp thành cơ sở lý luận để có thể áp dụng vào thực tiễn

- Công trình “Sử dụng đất tổng hợp và bền vững” của tác giả Nguyễn Xuân Quát (1996) [14] đã phân tích tình hình sử dụng đất đai cũng như mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững, mô hình khoanh nuôi và phục hồi rừng ở Việt Nam Đồng thời đề xuất tập đoàn cây trồng thích hợp cho các mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững

- Tài liệu về ''Đất rừng Việt Nam'' [6], Tác giả Nguyễn Ngọc Bình đã đưa ra những quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặc điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam

Trang 23

- Về luân canh, tăng vụ, trồng xen, trồng gối vụ để sử dụng hợp lý đất đai đã được nhiều tác giả như: Phạm Văn Chiểu 1964; Lê Trọng Cúc 1971; Bùi Huy Đáp 1977; Nguyễn Ngọc Bình 1987; Vũ Tuyên Hoàng 1987; Bùi Quang Toản 1991 đề cập tới nhằm mục đích lựa chọn hệ thống cây trồng phù hợp trên đất dốc vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam

- Năm 1996, công trình QHSDĐ Nông nghiệp ổn định ở vùng trung du và miền núi nước ta đã được tác giả Bùi Quang Toản đề xuất sử dụng đất Nông nghiệp vùng đồi núi và trung du Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) trong chương trình tập huấn hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội của trường Đại học Lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về hệ thống sử dụng đất và đề xuất một số hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất bễn vững trong điều kiện Việt Nam [12]

- Nghiên cứu hệ thống canh tác ở nước ta được đẩy mạnh hơn từ sau khi đất nước thống nhất, Tổng cục địa chính đã tiến hành quy hoạch đất 3 lần vào các năm

1978, 1985 và 1995 Từ góc độ sinh thái lâm nghiệp, Việt Nam được chia thành chín vùng sinh thái khác nhau, bao gồm: vùng Tây Bắc, vùng Trung tâm, vùng Đông Bắc, vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung bộ, vùng Nam Trung bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam bộ, vùng Tây Nam bộ

- Vấn đề hệ thống chính sách và những quy định về quản lý và sử dụng đất đai, cũng như hệ thống quản lý sử dụng đất các cấp được đề cập khá đầy đủ và chi tiết trong báo cáo tóm tắt khảo sát đợt 1 về LNXH, nhóm luật và chính sách 1998 của trường Đại học Lâm nghiệp; Tài liệu tập huấn “Những quy định và chính sách quản lý sử dụng đất” của Trần Thanh Bình (1997) [7]; Tài liệu tập huấn “Các chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế trang trại” của Trường Đại học lâm nghiệp (1997) [16]

- Về việc sử dụng đất gắn với việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất và môi trường

ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, Lê Vĩ (1996) đã nêu ra [27]: (1) Tiềm năng đất vùng trung du, (2) Hiện trạng đất vùng trung du và (3) Các kiến nghị về sử dụng đất bền vững

Trang 24

- Qua nghiên cứu hệ thống Nông nghiệp tại khu vực đồng bằng Sông Hồng, Đào Thế Tuấn (1998) đã phát hiện được nhiều tồn tại, nguyên nhân của nó và đã đề xuất các mục tiêu và giải pháp khắc phục

- Trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước các tác giả Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Phạm Chí Thành và Phạm Đức Viên (1993) đã xây dựng giáo trình hệ thống nông nghiệp Ngoài phần hệ thống hoá nông nghiệp, các tác giả đã đề xuất chiến lược phát triển, dự kiến cấu trúc

và thứ bậc hệ thống nông nghiệp, công trình hỗ trợ đắc lực cho công tác nông nghiệp trên các phương diện về lý luận và thực tiễn

- Về định hướng QHSDĐ cho cả nước đến năm 2000, năm 1994 Tổng cục Địa chính xây dựng định hướng QHSDĐ trên quy mô cả nước giai đoạn 1995 - 2000 Trong đó việc lập kế hoạch giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác cũng được đề cập tới Báo cáo đánh giá tổng quát hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển đến năm 2000 làm căn cứ để các các ngành, các địa phương thống nhất triển khai công tác quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất Chương trình tập huấn dự án hỗ trợ LNXH năm 1997 của trường Đại học Lâm nghiệp đã đề cập đến các phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân Các tác giả: Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biên và Trần Ngọc Bình (1997) đã phối hợp với các chuyên gia trong và ngoài nước biên soạn [15] tài liệu với những vấn đề chính như sau: (1) Các khái niệm và phương pháp tiếp cận trong quá trình tham gia; (2) Các công cụ của phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân; (3) Tổ chức quá trình đánh giá nông thôn và (4) Thực hành tổng hợp

- Để làm cơ sở cho chiến lược sử dụng đất hợp lý có hiệu quả theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, trong luận án Phó tiến sỹ khoa học nông nghiệp, Nguyễn Huy Phồn (1997) [17], đã tiến hành đánh giá các loại hình đất chủ yếu trong Nông - lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng trung tâm của miền núi Bắc bộ Việt Nam Trên cơ sở đánh giá một cách tương đối có hệ thống về đất đai và hiện trạng sử dụng đất Nông - lâm nghiệp vùng trung tâm miền núi Bắc

Trang 25

bộ, tác giả đã xây dựng bản đồ thích nghi sử dụng đất tỷ lệ 1/250.000, đối với một

số loại hình sử dụng đất bền vững phục vụ các mục tiêu kinh tế và môi trường cho toàn vùng

- Tài liệu tập huấn về QHSDĐ và GĐLN có sự tham gia của người dân tác giả Trần Hữu Viên (1997) [28] Trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp QHSDĐ trong nước và phương pháp QHSDĐ của một số dự án quốc tế đang áp dụng tại một số vùng có dự án ở Việt Nam Trong đó, tác giả đã nêu lên khái niệm, nguyên tắc chỉ đạo, QHSDĐ và giao đất có sự tham gia của người dân

- Trong tài liệu hướng dẫn công tác QHSDĐ và GĐLN có sự tham gia của người dân, Đoàn Diễm (1997) [9] đã tập trung vào các chủ đề sau: (1) Phương pháp QHSDĐ và GĐLN ở Việt Nam; (2) Phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp của dự án GCP/VIE/024/ITA; (3) Những tồn tại của QHSDĐ và GĐLN ở Việt Nam và Quốc tế; (4) Kiến nghị phương pháp đơn giản về QHSDĐ và GĐLN có sự tham gia của người dân

- Năm 1999, Trần Hữu Viên và Lê Sỹ Việt [29] đã nêu rõ: xã là đơn vị quản lý hành chính nhỏ nhất, là đơn vị quản lý và tổ chức sản xuất Lâm nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân Công tác quy hoạch cần giải quyết những nội dung sản xuất, các giải pháp kinh tế, kỹ thuật và xã hội thật chi tiết và cụ thể

Những tài liệu nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng để tiến hành QHSDĐ và giao đất theo phương pháp người dân cùng tham gia ở nước ta

1.4.2 Đánh giá ban đầu về vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam

Đánh giá, phân tích các nghiên cứu và thử nghiệm về QHSDĐ ở Việt Nam có thể rút ra một số kết luận sau:

- Hiện tại ở Việt Nam đã có những nghiên cứu, thử nghiệm liên quan đến QHSDĐ cấp vi mô, nhưng những thử nghiệm này còn nhiều hạn chế, mới chỉ nghiên cứu chủ yếu đối tượng đất phục vụ cho sản xuất mà chưa chỉ ra được vai trò quan trọng của môi trường sinh thái

- Phương pháp QHSDĐ còn nhiều hạn chế và thiếu sự thống nhất, mỗi dự án

sử dụng một phương pháp riêng

Trang 26

- Phương pháp QHSDĐ có sự tham gia của người dân, đã được áp dụng ở một

số địa phương, tuy đã đạt được một số thành công nhưng chưa tổng kết xác định đối tượng cụ thể tham gia nên chưa xây dựng được phương pháp chung nhất cho QHSDĐ

- Thiếu sự phối kết hợp giữa các ngành kinh tế trong việc xây dựng phương án QHSDĐ dẫn tới việc lúng túng, chồng chéo trong sử dụng đất ở nhiều địa phương, nhiều bản quy hoạch phải liên tục bổ sung cập nhật, nên việc chỉ đạo và quản lý gặp nhiều khó khăn

- Phương pháp quy hoạch dựa trên thuộc tính của đất đai, ít xét đến tiềm năng đất đai, nhu cầu và khả năng của cộng đồng Công tác quy hoạch thường dựa vào ý kiến chủ quan của các nhà quy hoạch, thiếu sự đóng góp và tham gia ý kiến của người dân Chính vì vậy không khai thác được kinh nghiệm của người dân địa phương dẫn đến tính khả thi chưa cao

- Trong công tác QHSDĐ còn thiếu các nghiên cứu cơ bản hỗ trợ cho từng địa phương cụ thể, một số vấn đề cần tiến hành nghiên cứu trước như đánh giá tiềm năng đất đai, nghiên cứu chiến lược thị trường tiêu thụ Lâm nông sản, nghiên cứu tập đoàn cây trồng… dẫn tới tính khả thi của phương án QHSDĐ không cao Phương pháp quy hoạch có sự tham gia của người dân đang được chú ý và thí điểm

ở một số nơi Những kết quả đưa ra tuy đạt được một số thành công nhưng chưa được tổng kết, hiệu quả của quy hoạch chưa được khẳng định

Những nhận thức trên sẽ được đề tài vận dụng trong quá trình xây dựng phương án Quy hoạch sử dụng đất bền vững huyện Ba Chẽ

Trang 27

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Xây dựng được quy hoạch sử dụng đất bền vững huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, thực hiện việc quản lý, sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả theo hướng xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đổi mới toàn diện

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Bổ sung cơ sở khoa học cho quy hoạch sử dụng các loại đất huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

- Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng đất đai huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

- Xác định nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực và hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháp chế của Nhà nước về tổ chức quản lý, sử dụng đất đai khoa học, hiệu quả đối với huyện Ba Chẽ

- Phân bổ quỹ đất hợp lý để sử dụng đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện bảo vệ đất đai, bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái góp phần giảm nghèo bền vững tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội; hiện trạng quản lý, sử dụng đất; nhu cầu sử dụng đất của các ngành và lĩnh vực; các chính sách, pháp luật liên quan đến Quy hoạch sử dụng đất thuộc huyện Ba Chẽ

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, theo địa giới hành chính

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu đề ra, tác giả tiến hành nghiên cứu những nội dung chính sau:

Trang 28

2.3.1 Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất

2.3.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện Ba Chẽ

2.3.3 Đánh giá tình hình sử dụng đất qua các thời kỳ của huyện Ba Chẽ

2.3.4 Đánh giá tiềm năng và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực huyện Ba Chẽ

2.3.5 Xây dựng quy hoạch sử dụng đất bền vững huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu

Thu thập thông tin, dữ liệu, kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây sẽ giúp định hướng được các hoạt động điều tra vào một số hoạt động trọng yếu, tiết kiệm được các chi phí điều tra

- Các báo cáo kết quả hoạt động sản xuất lâm - nông nghiệp của huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh

- Tình hình sản xuất lâm - nông nghiệp của huyện Ba Chẽ từ năm 2006 đến 2013

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ giao đất lâm nghiệp của xã, tỷ lệ 1:10.000

- Số liệu về thời tiết, khí hậu thu thập tại trạm khí tượng thuỷ văn của địa phương

- Các số liệu thống kê về đất đai, cơ sở hạ tầng, kết quả sản xuất lâm - nông nghiệp, thị trường giá cả được thu thập tại Chi cục Thống kê, phòng Tài chính -

Kế hoạch, phòng Nông nghiệp và PTNT, phòng Kinh tế - Hạ tầng, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Chẽ

- Các tài liệu có liên quan: Quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp, quy hoạch

sử dụng đất, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện, của tỉnh; kết quả rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Quảng Ninh; các loại bản đồ sử dụng đất, giao đất lâm nghiệp, phương pháp quy hoạch sử dụng đất đã và đang áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh

Trang 29

- Chủ trương, đường lối chính sách đối với hoạt động sử dụng đất, hoạt động sản xuất lâm - nông nghiệp theo các vùng kinh tế của tỉnh

Áp dung quy phạm của ngành, các hướng dẫn kỹ thuật công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp do các tổ chức, chương trình, dự

án trong và ngoài nước áp dụng vào Việt Nam

2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát và đánh giá

Đây là phương pháp quan trọng và cần thiết Các số liệu thống kê và điều tra, phân tích sẽ là cơ sở để xây dựng các giải pháp điều chỉnh lại các quy hoạch chưa phù hợp làm cơ sở dự báo chính xác xu thế diễn biến nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực trong tương lai

2.4.2.1 Điều tra chuyên đề

- Lĩnh vực trồng trọt điều tra theo các chỉ tiêu: Tình hình giao đất nông lâm nghiệp, các thông tin về cây trồng, năng suất và sản lượng cây trồng của xã, tình hình sâu bệnh hại tổn thất cây trồng, thông tin về khuyến nông, khuyến lâm

- Lĩnh vực về chăn nuôi điều tra các chỉ tiêu: Tình hình chăn nuôi của xã, các chủng loại giống, bãi chăn thả, tình hình dịch bệnh, tình hình cải tạo giống vật nuôi của xã, thông tin về khuyến nông khuyến lâm thôn bản

- Lĩnh vực lâm nghiệp điều tra các chỉ tiêu: Tình hình sử dụng đất lâm nghiệp, tình hình giao đất lâm nghiệp, tình hình quản lý bảo vệ rừng, sử dụng, kinh doanh rừng, PCCCR và công tác phát triển vốn rừng của địa phương

2.4.2.2 Phương pháp đánh giá đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất

+ Đánh giá tài nguyên đất của huyện Ba Chẽ dựa trên bản đồ hiện trạng, bản

đồ tài nguyên đất tỷ lệ 1:25.000 kết hợp với điều tra bổ sung ngoài thực địa cụ thể:

- Thống nhất ranh giới trên bản đồ và thực địa quản lý hành chính cấp tỉnh, huyện, xã theo quyết định 364/CP

- Thống nhất ranh giới phân chia theo xã

- Xác định ranh giới các loại đất, loại rừng bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp (có rừng và không có rừng)

Trang 30

- Tính toán diện tích của các kiểu hình sử dụng đất như: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng

+ Đánh giá phân tích hiệu quả sử dụng đất theo các bước sau:

- Sử dụng tài liệu có sẵn như bản đồ địa giới hành chính huyện, bản đồ hiện trạng và các tài liệu có liên quan

- Căn cứ vào bản đồ, tiến hành xác minh hiện trạng sử dụng đất trên thực địa, khoanh vẽ xác định ranh giới huyện và các kiểu sử dụng đất

- Vẽ bản đồ được thực hiện theo 2 bước: (Bước 1) Hoàn chỉnh bản đồ ngoại

nghiệp bằng cách: Dùng GPS cầm tay đo ranh giới các loại đất, loại rừng và bổ sung địa hình địa vật lên bản đồ Từ số liệu đo đếm ngoài thực tế ta dùng phần mềm

Mapinfo 10.5 tiến hành số hóa lên bản đồ hiện trạng (Bước 2) Xây dựng bản đồ

thành quả tỷ lệ 1: 25.000 theo quy phạm của Viện điều tra quy hoạch rừng năm 1984

2.4.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu

2.4.3.1 Tổng hợp và phân tích thông tin cơ bản

+ Điều kiện tự nhiên như: vị trí địa lý, địa hình địa vật, khí hậu thuỷ văn, thổ

nhưỡng, thực vật tự nhiên được thu thập chắt lọc từ tài liệu gốc của huyện

+ Các thông tin về điều kiện kinh tế xã hội như: Dân cư (dân số, thành phần dân tộc); Cơ cấu xã hội: (xã, thôn, nhóm hộ, hộ gia đình); Nghề nghiệp, việc làm các dịch vụ xã hội và cơ sở hạ tầng (y tế, giáo dục, giao thông, thông tin liên lạc, giá

cả thị trường)

2.4.3.2 Tổng hợp và phân tích thông tin điều tra chuyên đề

+ Thông tin thu thập được để phục vụ quy hoạch sử dụng đất cho phát triển sản xuất lâm - nông nghiệp được tổng hợp theo phương pháp tối ưu hoá mục tiêu và phân tích đa tiêu chuẩn áp dụng cho xây dựng kế hoạch Bài toán phân tích kinh tế được sử dụng cho việc lựa chọn các phương án

+ Thông tin được tổng hợp cho phân tích các hệ thống canh tác theo hệ thống bảng, bản đồ phân chia 3 loại rừng và phân cấp rừng phòng hộ, xây dựng bản đồ quy hoạch tỷ lệ 1:10.000 được kết hợp giữa khảo sát hiện trường và tính toán nội nghiệp Sau đó được chuyển hóa lên bản đồ tại hiện trạng

Trang 31

+ Trong quá trình xử lý tài liệu, tiến hành chỉnh lý và sắp xếp các thông tin theo thứ tự ưu tiên, mức độ quan trọng của vấn đề, phân tích các ý kiến, quan điểm

để lựa chọn tìm ra giải pháp

2.4.3.3 Dự báo dân số và nhu cầu đất ở

a Dự báo dân số huyện Ba Chẽ đến năm 2020 được tính theo công thức:

Trong đó: - H: Là tổng dân số huyện đến năm 2020

- Hnt: Là dân số tính theo tăng tự nhiên

- Hch: Là dân số tăng cơ học

+ Dân số gia tăng tự nhiên đến năm 2020: Tính theo công thức:

Trong đó: - Htn: Là dân số tính theo tăng tự nhiên

- Ho: Là dân số năm hiện tại

- n: Là tỷ lệ gia tăng tự nhiên bình quân trong kỳ quy hoạch

- t: Là số năm định kỳ quy hoạch

+ Dân số tăng cơ học: Tính theo công thức cân bằng lao động:

)(100

100

C B

Ax Nt

Trong đó: - Nt: là dân số tăng cơ học đến năm 2020

- A: là lao động cơ bản 2.814 người

- B: Tỷ lệ thành phần phục vụ (tính 10%)

- C: Tỷ lệ thành phần lệ thuộc (tính 47%)

b Dự báo nhu cầu đất ở đến năm 2020 được tính theo công thức:

C = H x S (2.4) Trong đó: - C là nhu cầu đất ở tăng lên trong kỳ quy hoạch

- S là định mức cấp đất ở mới

- H là số hộ có nhu cầu cấp đất ở mới

c Cơ sở để xác định diện tích khu dân cư nông thôn, khu dân cư đô thị đến năm

2020 của huyện Ba Chẽ:

Trang 32

- Hiện trạng sử dụng đất khu dân cư nông thôn năm 2013

- Dân số phát sinh và nhu cầu sử dụng đất của nhân dân

- Số hộ đang gặp khó khăn về đất ở hiện tại

- Định mức giao đất ở trên 1 hộ

- Tập quán khu dân cư nông thôn, khu dân cư đô thị tại địa phương

- Định hướng sử dụng đất khu dân cư nông thôn, khu dân cư đô thị phát triển khu dân cư nông thôn, khu dân cư đô thị đến năm 2020

- Hạn mức giao đất ở theo quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

2.4.4 Phương pháp chuyên gia

Đây là phương pháp quan trọng và cần thiết trong quy hoạch sử dụng đất Thông qua việc sử dụng các chuyên gia chuyên sâu trong từng lĩnh vực để đánh giá, làm cơ sở xây dựng các phương án khả thi trong nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất cấp huyện

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Cơ sở khoa học của quy hoạch sử dụng đất

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và quan trọng đối với tất cả các ngành, đặc biệt là nông, lâm nghiệp Việc tổ chức quản lý, sử dụng đất đai hợp lý là vấn đề rất quan trọng và cần thiết QHSDĐ bền vững phải được xây dựng trên nền tảng cơ sở

lý luận và thực tiễn thì mới đảm bảo tính khả thi, mang lại hiệu quả thiết thực cả về kinh tế, xã hội và môi trường

3.1.1 Cơ sở lý luận

3.1.1.1 Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện trong hệ thống sử dụng đất vĩ mô

Hệ thống quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam được khởi xướng từ năm 1963 và được hoàn thiện dần theo thời gian Trước đây, quy hoạch sử dụng đất thường dựa vào các đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, xã) hoặc theo ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản…); quy hoạch sử dụng đất cho các ngành chủ yếu thường dựa vào điều kiện

tự nhiên mà ít quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng của người dân cũng như sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái, nên hiệu quả sử dụng đất không cao

Luật đất đai năm 2003 quy định hệ thống QHSDĐ ở 4 cấp quản lý hành chính nhà nước: Cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện (gọi là cấp vĩ mô); cấp xã (gọi là cấp vi mô) QHSDĐ cấp huyện là cấp chuyển tiếp giữa QDSDĐ cấp tỉnh và cấp xã, là cơ sở

để lập QHSDĐ cấp xã Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải kết hợp hài hoà giữa quy hoạch cấp tỉnh và cấp xã, nghĩa là vừa quy hoạch định hướng vừa quy hoạch quản lý sản xuất

Các nội dung trong quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô có tính chất định hướng, nguyên tắc và luôn gắn với ý đồ phát triển kinh tế của các cấp quản lý lãnh thổ Cấp

xã, thôn, bản là các cấp thấp bên dưới Do đó QHSDĐ cấp huyện phải đánh giá được đầy đủ hiện trạng sử dụng đất, biến động đất đai, tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước; nghiên cứu phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011 - 2020; làm định hướng cho việc lập quy hoạch

Trang 34

sử dụng đất cấp xã, các ngành; là cơ sở cho việc lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàng năm, khắc phục tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất trên địa bàn

3.1.1.2 Các bước lập Quy hoạch sử dụng đất

Các bước lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định tại Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường bao gồm:

- Bước 1: Điều tra, thu thập các thông tin, dữ liệu và bản đồ

- Bước 2: Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và biến đổi khí hậu; các chỉ tiêu quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực tác động đến việc sử dụng đất

- Bước 3: Phân tích, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất, biến động sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước và tiềm năng đất đai

- Bước 4: Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất

- Bước 5: Xây dựng kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu

- Bước 6: Xây dựng báo cáo thuyết minh tổng hợp, hoàn chỉnh tài liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trình thông qua, xét duyệt và công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

3.1.1.3 Quy hoạch sử dụng đất theo quan điểm bền vững

Trong những năm gần đây, thuật ngữ “Bền vững” được quan tâm và nghiên cứu

một cách rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực nói chung và trong sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng Việc nghiên cứu, đề xuất các phương pháp sử dụng đất mới như: Nông lâm kết hợp, VAC, SALT trên cơ sở chính sách giao đất để phát triển kinh tế hộ gia đình ở các vùng nông thôn, nhất là các vùng trung du, miền núi đã góp phần đảm bảo tính bền vững trong sử dụng đất và đạt được những hiệu quả thiết thực đối với người dân

Công tác quy hoạch sử dụng đất bền vững phải được xem xét một cách tổng hợp và toàn diện nhằm thực hiện các mục tiêu: (1) Thích hợp về mặt môi trường;

Trang 35

(2) Có lợi về mặt xã hội; (3) Có thể chấp nhận về mặt kinh tế; (4) Thích hợp về mặt

sinh thái

Sử dụng đất bền vững là một vấn đề không chỉ của Việt Nam mà nó mang tính chất toàn cầu Để một hệ thống sử dụng đất được bền vững cần tập trung vào một số vấn đề sau: (1) Duy trì được sự cân bằng dinh dưỡng trong đất; (2) Áp dụng các hệ thống nông lâm kết hợp, đa dạng hoá sản xuất và sản phẩm; (3) Sử dụng các tập đoàn cây đa mục đích và cây cố định đạm; (4) Xây dựng các mô hình tổng hợp về các hệ

thống và kỹ thuật canh tác trên đất dốc trên cơ sở có sự tham gia của người dân

Như vậy, tính bền vững chỉ có thể đạt được khi mà các hoạt động sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định, được xã hội chấp nhận đồng thời phải đảm

bảo duy trì được sự bền vững về mặt môi trường và cân bằng sinh thái

Biện pháp sử dụng đất bền vững bao gồm các cách thức và giải pháp tác động hay quy trình công nghệ sử dụng đất, các chính sách và các hoạt động có liên quan đến

sử dụng đất nhằm hội nhập được những lợi ích kinh tế xã hội và mối quan tâm về môi

trường nhằm mục tiêu phát triển sản xuất ổn định lâu dài Cụ thể:

- Ứng dụng Nông lâm kết hợp theo phương châm lấy ngắn nuôi dài đồng thời cải

thiện được điều kiện đất đai

- Kết hợp trồng nhiều loài cây đa mục đích để tận dụng hết tiềm năng đất đai

- Chọn các loài cây và con giống thích hợp cho từng vùng đất

- Thực hiện các kỹ thuật canh tác tổng hợp

- Ứng dụng triệt để kỹ thuật canh tác trên đất dốc để giữ màu, giữ nước cho đất

3.1.1.4 Quy hoạch sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường

Dựa vào sự phân tích khoa học về cung - cầu ở thị trường và của mỗi vùng để xác định phương hướng và quy mô sản xuất hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể Trong đó phải trả lời được 4 vấn đề cơ bản: (1) Sản xuất và dịch vụ cái gì? (2) Sản xuất bao nhiêu? (3) Sản xuất và dịch vụ như thế nào và cho ai? (4) Lợi nhuận thu

được bao nhiêu?

Trên cơ sở xác định được phương hướng quy mô sản xuất hàng hoá và dịch vụ

mà mục đích cuối cùng của các chủ thể sản xuất là mục tiêu kinh doanh Trên cơ sở đó

Trang 36

quy hoạch tổ chức các biện pháp kinh doanh, quản lý sử dụng đất đai, phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp để đạt được những mục tiêu đã đề ra Vì vậy, quy hoạch

sử dụng đất cần bám sát các mục tiêu kinh doanh đã xác định, căn cứ vào những điều kiện cơ bản của khu vực có liên quan đến sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, sự tiến bộ của khoa học công nghệ và điều kiện khác có liên quan để quy hoạch mặt bằng sử dụng đất và cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với mục đích kinh doanh

3.1.2 Cơ sở pháp lý đối với QHSDĐ bền vững huyện Ba Chẽ

Trong công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước hiện nay, công tác quy hoạch, quản lý, sử dụng đất có vai trò vô cùng quan trọng; nó chính là động lực giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát huy tối đa tiềm năng của đất đai và quản lý sử dụng đất một cách bền vững Chính vì vậy nhà nước đã ban hành nhiều chính sách quan trọng có liên quan đến công tác quy hoạch sử dụng đất được thể hiện trong hệ thống pháp luật và các văn bản pháp quy cụ thể như sau:

- Hiến pháp của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu rõ Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo

sử dụng đúng mục đích và hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình

và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài [23]

- Luật đất đai năm 2003 nêu rõ [24]: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những công cụ quan trọng nhất để Nhà nước thống nhất quản lý đối với toàn

bộ đất đai; đảm bảo cho đất đai được sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả Trong giai đoạn hiện nay, nội dung QHSDĐ còn giải quyết một cách đồng bộ những yêu cầu về môi trường, về giải pháp tổ chức thực hiện đảm bảo đúng với mục tiêu của kỳ quy hoạch đồng thời phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử dụng đất [26]

- Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 phân định rõ 3 loại rừng: rừng sản xuất; rừng phòng hộ; rừng đặc dụng làm cơ sở cho QHSDĐ [20]

- Chỉ thị 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc

rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng [20]; Chỉ thị số 09/2007/CT-TTg, ngày 06/4/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý sử dụng đất của các quy hoạch và

dự án đầu tư [21]

Trang 37

- Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài vào mục đích nông nghiệp”; Nghị định này đã nói đến vai trò của cấp xã trong việc giao đất nông nghiệp trong các Điều 8, 12, 15

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư [8]

- Quyết định số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ

về việc thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp [18]; Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ

về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng [19]; Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới [22]

- Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/4/2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn một số điều của Nghị định số 181/2004NĐ-CP ngày 29/10/2004 [4]; Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [5]; Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/08/2009 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới [2]; Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/02/2010 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới [3]

- Quy chế quản lý rừng năm 2006 Quy định về việc tổ chức quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng bao gồm diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được Nhà nước giao, cho thuê hoặc quy hoạch cho Lâm nghiệp

Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định vai trò của quy hoạch sử dụng đất một cách rất rõ ràng Đây chính là tiền đề, là cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất bền vững được tiến hành thuận lợi, lấy quy hoạch tổng thể làm định hướng, song rất tôn trọng sự tham gia của người dân trong xây dựng phương án

Trang 38

3.1.3 Cơ sở thực tiễn quy hoạch sử dụng đất huyện Ba Chẽ

- Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ba Chẽ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 được phê duyệt tại Quyết định số 2349/QĐ-UBND ngày 24/7/2008 của UBND tỉnh Quảng Ninh

- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Ba Chẽ lần thứ XXIII (nhiệm kỳ

- Quy hoạch xây dựng chi tiết thị trấn Ba Chẽ tỷ lệ 1/2000;

- Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020;

- Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/2000 cụm công nghiệp chế biến lâm sản tại xã Nam Sơn, huyện Ba Chẽ;

- Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đến năm 2020 tỉnh Quảng Ninh

- Kết quả thống kê đất đai huyện Ba Chẽ năm 2011, 2012, 2013;

- Quy hoạch sản xuất nông lâm ngư nghiệp huyện Ba Chẽ được phê duyệt;

- Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Ba Chẽ được phê duyệt;

- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới của các xã đã được phê duyệt;

3.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Ba Chẽ

3.2.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường

3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Huyện Ba Chẽ cách thành phố Hạ Long 95 km theo đường quốc lộ 18A hướng

Hạ Long đi Móng Cái Huyện Ba Chẽ có toạ độ địa lý và tiếp giáp với các đơn vị hành chính như sau:

Trang 39

Phía Bắc giáp huyện Đình Lập - tỉnh Lạng Sơn, Phía Nam giáp huyện Hoành

Bồ và thành phố Cẩm Phả, Phía Đông giáp huyện Tiên Yên, Phía Tây giáp huyện Sơn Động - tỉnh Bắc Giang

b Địa hình, địa mạo

Địa hình Ba Chẽ bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi và các con sông, suối tạo thành các thung lũng hẹp Độ cao trung bình từ 300 - 500 m so với mực nước biển

manh mún, không thập trung, không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, phát triển sản xuất lâm nghiệp và khai thác các nguồn lợi từ rừng là thế mạnh của địa phương

c Khí hậu

Ba Chẽ nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều Theo số liệu của Trạm dự báo và phục vụ khí tượng thuỷ văn Quảng Ninh khu vực miền Đông, khí hậu của huyện có những đặc trưng sau:

+ Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối trung bình hàng năm ở Ba Chẽ là 83%, cao nhất và tháng 3, 4 đạt 88%, thấp nhất vào tháng 11, 12 đạt tới 76%

+ Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.285 mm Năm có lượng mưa lớn nhất là 4.077 mm, nhỏ nhất là 1.086 mm

+ Gió: Ba Chẽ thịnh hành 2 loại gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam

d Thuỷ văn

Hệ thống sông suối của huyện Ba Chẽ chịu ảnh hưởng sự chia cắt của địa hình

đã hình thành nên hệ thống sông suối chằng chịt Sông Ba Chẽ là con sông lớn nhất trong hệ thống sông suối của Huyện được bắt nguồn từ các dãy núi phía Tây Bắc chạy dọc theo các xã rồi đổ ra biển Ngoài ra còn hệ thống các sông, suối nhỏ như: Sông Quánh, Sông Đoáng, Sông Làng Cổng, Suối Khe Hương, Khe Lầy, Khe Liêu, Khe Buông, Khe Tráng …

Trang 40

Do có hệ thống sông suối chằng chịt nên vào mùa mưa (nhất là vào tháng 8, tháng 9) thường xảy ra lũ lụt gây thiệt hại cho nền kinh tế và phá huỷ hệ thống cơ sở

hạ tầng của địa phương

3.21.2 Các nguồn tài nguyên

a Tài nguyên đất

Theo báo cáo thuyết minh bản đồ thổ nhưỡng nông hoá tỉnh Quảng Ninh của Trung tâm Tài nguyên và Môi trường thuộc Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp thì trên địa bàn huyện Ba Chẽ có 3 nhóm đất chính Cụ thể như sau:

+ Nhóm đất phù sa (P) - FLUVISOLS (FL): Đất phù sa được hình thành từ các sản phẩm bồi tụ chủ yếu của các con sông Đất phù sa phân hoá theo mẫu chất, điều kiện địa hình và hệ thống sử dụng đất Nhóm đất này phân bố khắp các xã của Huyện nhưng tập trung nhiều ở các xã Đồn Đạc, Nam Sơn, Thị trấn Ba Chẽ Đất phù sa có diện tích 1768,55 ha chiếm 2,91% tổng diện tích tự nhiên của huyện + Nhóm đất vàng đỏ (F) - ACRISOLS (AC): Đất vàng đỏ chiếm diện tích lớn 59068,79 ha chiếm 97,06% tổng diện tích tự nhiên, phân bổ rộng hầu hết ở các xã trong huyện Đất vàng đỏ phân bố ở những khu vực địa hình có độ dốc thấp đến nơi

có độ dốc cao, nên tuỳ thuộc vào độ dốc để có định hướng sử dụng đất bền vững và hiệu quả

+ Nhóm đất nhân tác (NT) - ANTHROSOLS (AT): Đất nhân tác là đất hình thành do tác động của con người, tầng đất bị xáo trộn mạnh bởi các hoạt động của con người như hoạt động san ủi làm ruộng bậc thang Tuy nhiên đây là loại đất tốt ở địa hình bằng thoải, hầu hết có độ phì nhiêu khá, gần nguồn nước; rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

b Tài nguyên nước

Ba Chẽ có hệ thống sông suối chằng chịt vì thế tạo nên nguồn nước dồi dào phục

vụ cho sản xuất và sinh hoạt Ngoài lượng nước mặt trên các con sông suối, Ba Chẽ còn có nguồn nước ngầm có trữ lượng lớn có thể khai thác phục vụ cho sinh hoạt

Ngày đăng: 29/08/2017, 09:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2003), Thông tư 05/2003/TT-BKH ngày 22/7/2003 Hướng dẫn về nội dung, trình tự, thẩm định và quản lý các dự án Quy hoạch phát triển ngành và QHTT phát triển KT-XH lãnh thổ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 05/2003/TT-BKH ngày 22/7/2003 Hướng dẫn về nội dung, trình tự, thẩm định và quản lý các dự án Quy hoạch phát triển ngành và QHTT phát triển KT-XH lãnh thổ
Tác giả: Bộ Kế hoạch và đầu tư
Năm: 2003
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2009 hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2009 hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2009
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư số 07/2010/TT- BNNPTNT, ngày 08/2/2010 về việc hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày 08/2/2010 về việc hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
4. Bộ Tài nguyên & Môi trường (2005), Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT về việc hướng dẫn một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT về việc hướng dẫn một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP
Tác giả: Bộ Tài nguyên & Môi trường
Năm: 2005
5. Bộ Tài nguyên & Môi trường (2009), Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT về việc quy định chi tiết việc lập, diều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT về việc quy định chi tiết việc lập, diều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Tác giả: Bộ Tài nguyên & Môi trường
Năm: 2009
6. Nguyễn Ngọc Bình (1996), Đất rừng Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất rừng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
7. Trần Thanh Bình (1997), Những quy định và chính sách quản lý sử dụng đất, Tài liệu tập huấn dự án hỗ trợ LNXH, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định và chính sách quản lý sử dụng đất
Tác giả: Trần Thanh Bình
Năm: 1997
8. Chính phủ (2009), Nghị định số 69/2009/NĐ-CP Quy định bổ sung về QHSDĐ, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 69/2009/NĐ-CP Quy định bổ sung về QHSDĐ, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
9. Đoàn Diễm (1997), QHSDĐ và GĐLN có sự tham gia của người dân, Tài liệu hội thảo, trường ĐHLN, tr 1-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: QHSDĐ và GĐLN có sự tham gia của người dân
Tác giả: Đoàn Diễm
Năm: 1997
11. Nguyễn Hiền (2007), “Quy hoạch trên thế giới và Việt Nam”, Tạp chí kinh tế và dự báo, (số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Quy hoạch trên thế giới và Việt Nam"”", T"ạp chí kinh tế và dự báo
Tác giả: Nguyễn Hiền
Năm: 2007
12. Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997), Khái niệm về hệ thống sử dụng đất, Tài liệu tập huấn dự án hỗ trợ LNXH, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm về hệ thống sử dụng đất
Tác giả: Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ
Năm: 1997
13. Nguyễn Hải Nam (1998), “Một số vấn đề về hoạt động quản lý đất đai của Chương trình phát triển nông thôn miền núi”, Thông tin chuyên đề Chương trình phát triển nông thôn miền núi Việt Nam - Thuỵ Điển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hoạt động quản lý đất đai của Chương trình phát triển nông thôn miền núi”," Thông tin chuyên đề Chương trình phát triển nông thôn miền núi Việt Nam - Thuỵ Điển
Tác giả: Nguyễn Hải Nam
Năm: 1998
14. Nguyễn Xuân Quát (1996), Sử dụng đất tổng hợp và bền vững, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đất tổng hợp và bền vững
Tác giả: Nguyễn Xuân Quát
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
15. Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biên, Trần Ngọc Bình (1997), Các phương pháp đánh giá nông thôn, Tài liệu tập huấn dự án hỗ trợ LNXH, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp đánh giá nông thôn
Tác giả: Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biên, Trần Ngọc Bình
Năm: 1997
16. Trường Đại học Lâm nghiệp (1997), Các chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế trang trại, Tài liệu tập huấn dự án hỗ trợ LNXH, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế trang trại
Tác giả: Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 1997
17. Nguyễn Huy Phồn (1997), Đánh giá các loại hình đất chủ yếu trong nông lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng trung tâm miền núi Bắc Bộ Việt Nam, Luận án PTS. KHNN, Viện KH và KTNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các loại hình đất chủ yếu trong nông lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng trung tâm miền núi Bắc Bộ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Phồn
Năm: 1997
18. Thủ tướng Chính phủ (1998), Quyết định số 245/1998/QĐ -TTg về việc thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp ra ngày 21/12/1998, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 245/1998/QĐ -TTg về việc thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp ra ngày 21/12/1998
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 1998
19. Thủ tướng Chính phủ (1998), Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 1998
20. Thủ tướng Chính phủ (2005), Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2005
21. Thủ tướng Chính phủ (2009), Chỉ thị số 09/2007/CT-TTg về việc tăng cường quản lý sử dụng đất của các quy hoạch và dự án đầu tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 09/2007/CT-TTg về việc tăng cường quản lý sử dụng đất của các quy hoạch và dự án đầu tư
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: Diện tích, cơ cấu các loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp - Nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất bền vững huyện ba chẽ, tỉnh quảng ninh đến năm 2020
Bảng 3.2 Diện tích, cơ cấu các loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp (Trang 59)
Bảng 3.5: Diện tích, cơ cấu các loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp - Nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất bền vững huyện ba chẽ, tỉnh quảng ninh đến năm 2020
Bảng 3.5 Diện tích, cơ cấu các loại đất trong nhóm đất phi nông nghiệp (Trang 68)
Bảng 3.7: Phân bổ diện tích đất đô thị - Nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất bền vững huyện ba chẽ, tỉnh quảng ninh đến năm 2020
Bảng 3.7 Phân bổ diện tích đất đô thị (Trang 90)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w