Được sự đồng ý của nhà trường, Khoa Sau đại học – Trường đại học lâm nghiệp, cùng giáo viên hướng dẫn, tôi đã tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp với tên đề tài: “Nghiên cứu một số
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo học viên cao học tại trường Đại
học Lâm nghiệp, hoàn thiện kiến thức giữa lý thuyết, thực tiễn, đánh giá quá trình học tập, nghiên cứu của học viên, đồng thời giúp học viên nâng cao năng lực, củng cố chuyên môn và kỹ năng chuyên ngành Được sự đồng ý của nhà trường, Khoa Sau đại học – Trường đại học lâm nghiệp, cùng giáo viên hướng dẫn, tôi đã tiến hành thực hiện luận văn tốt nghiệp với tên đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và khả năng nhân giống bằng hom loài Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu ).”
Sau một thời gian làm việc, nghiên cứu nghiêm túc và khẩn trương đến nay đề tài của tôi đã đạt được những kết quả bước đầu Trong thời gian triển khai thực hiện đề tài, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của GS.TS Ngô Quang Đê, của các thầy cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp, các nhà chuyên môn, nhân dân địa phương và cán bộ kiểm lâm, cán bộ phòng ban Vườn quốc gia Ba Vì cùng các bạn đồng nghiệp
Nhân dịp này tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới cá nhân và gia đình GS.TS Ngô Quang Đê Cùng lời cảm ơn sâu sắc tới các tập thể và cá nhân đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nghiên cứu tìm hiểu thu thập số liệu thực tế, tiến hành thí nghiệm, tham khảo các tài liệu có liên quan, cũng như xin ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà chuyên môn trong lĩnh vực và các bạn đồng nghiệp, nhưng do thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế, hơn nữa còn nhiều khó khăn trong công tác điều tra, nghiên cứu, nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Vậy tôi kính mong được sự giúp
Trang 2đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà chuyên môn và các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin cam đoan rằng số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và các thông tin trích dẫn trong lụận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2012
Tác giả Nguyễn Văn Hùng
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn ……… i
Mục lục ……… iii
Danh mục các từ viết tắt ……… vii
Danh mục các bảng ……… viii
Danh mục các hình ……… x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Nghiên cứu chi Camellia trên thế giới 4
1.2 Nghiên cứu chi Camellia ở Việt Nam 6
1.3 Nghiên cứu chi Camellia ở VQG Ba Vì 10
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 11
2.2 Đối tượng nghiên cứu 11
2.3 Giới hạn đề tài 11
2.4 Nội dung nghiên cứu 11
2.4.1.Tìm hiểu đặc điểm khu vực có loài Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu) sinh trưởng 11
2.4.2 Tìm hiểu về đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu) 12
2.4.3 Tìm hiểu một số đặc điểm sinh cảnh nơi có cây Trà hoa thơm Ba Vì phân bố 12
2.4.4 Tìm hiểu các đặc điểm tái sinh tự nhiên và nơi sống của Trà hoa thơm Ba Vì 12
Trang 42.4.5 Thử nghiệm nhân giống bằng hom loài Trà hoa thơm Ba Vì
(Camellia vietnamensis Huang ex Hu) 12
2.5 Phương pháp nghiên cứu 12
2.5.1 Phương pháp luận trong nghiên cứu 12
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 15
2.5.3 Tìm hiểu một số đặc điểm sinh cảnh nơi có cây Trà hoa thơm Ba Vì phân bố 20
2.5.4 Thử nghiệm nhân giống bằng hom Trà hoa thơm Ba Vì 20
2.5.5 Xử lý số liệu 24
Chương 3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đặc điểm tự nhiên 25
3.1.1 Vị trí địa lý 25
3.1.2 Địa hình, địa mạo khu vực nghiên cứu 26
3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng 26
3.1.4 Khí hậu, thủy văn 28
3.1.5 Hệ sinh thái khu vực 29
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 30
3.2.1 Dân số và dân tộc 30
3.2.2 Về điều kiện sản xuất 31
3.2.3 Về đời sống của người dân trong vùng 32
3.2.4 Những ảnh hưởng tác động đến khu vực có loài nghiên cứu 32
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Khu vực, phạm vi phân bố của loài Trà hoa thơm Ba Vì 34
4.2 Các đặc điểm hình thái loài Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu) 35
4.2.1 Đặc điểm hình thái cơ bản của chi Camellia 35
Trang 54.2.2 Đặc điểm hình thái cơ bản của loài Trà hoa thơm Ba Vì
(Camellia vietnamensis Huang ex Hu) 39
4.3 Đặc điểm sinh cảnh nơi có loài Trà hoa thơm (Camellia vietnamensis Huang ex Hu) 51
4.3.1 Địa hình, địa mạo 56
4.3.2 Địa chất và thổ nhưỡng 57
4.3.3 Xác định tính chịu bóng hay ưa sáng của loài Trà hoa thơm Ba Vì 60
4.4 Đặc điểm sinh trưởng và tái sinh loài Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu) 61
4.4.1 Đặc điểm sinh trưởng 61
4.4.2 Đặc điểm tái sinh của loài Trà hoa thơm Ba Vì 64
4.4.3 Đặc điểm cấu trúc khu vực có loài Trà hoa thơm Ba Vì phân bố. 66
4.5 Thử nghiệm nhân giống bằng hom loài Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu) 78
4.5.1 Nội dung nghiên cứu 78
4.5.2 Phương pháp nghiên cứu trong nhân giống bằng hom 79
4.5.3 Điều kiện khí hậu khu vực giâm hom 80
4.5.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng ơ ̉ ca ́ c nồng độ khác nhau đến khả năng ra rễ của hom loài Trà hoa thơm Ba Vì 82
4.5.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích sinh trưởng đến chất lượng rễ của hom 85
4.5.6 So sa ́ nh sự khác nhau giữa các nồng độ chất NAA và đối chứng 86
Trang 64.5.7 So sa ́ nh sự khác nhau giữa các nồng độ chất kích thích sinh
trưởng IBA và đối chứng 87
KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ 90
1 Kết luận 90
2 Tồn tại 91
3 Kiến nghị 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 718 G: tiết diện ngang
19 Đ –T: hướng Đông – Tây
20 Đk: đường kính
21 Ttb: Nhiệt độ không khí trung bình năm (oC)
26 R: Tổng lượng mưa năm (mm)
30 e: Tổng lượng bốc hơi năm (mm)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Đo kích thước lá loài Trà hoa thơm (Camellia vietnamensis ) 15
3.1 Số liệu khí tượng của các trạm trong vùng 28 4.1 Kết quả tính Hvn bình quân ở 3 ô tiêu chuẩn 42
4.7 Độ tàn che, che phủ của thảm tươi cây bụi và thảm khô 60 4.8 Kết quả đo đếm D00, Hvn, Dt, Hdc bình quân 62 4.9 Kết quả đánh giá sinh trưởng loài Trà hoa thơm Ba Vì
(Camellia vietnamensis Huang ex Hu)
63
4.10 Kết quả điều tra tái sinh loài Trà hoa thơm Ba Vì 64 4.11 Kết quả tính trữ lượng trên ô tiêu chuẩn và trữ lượng lâm phần 68
4.14 Kết quả điều tra cây tái sinh sinh cảnh rừng có loài Trà hoa
thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu)
75
4.16 Diễn biến nhiệt độ, độ ẩm trong thời gian giâm hom 80
Trang 94.18 Ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng ở các nồng
đô ̣ khác nhau đến khả năng ra rễ của hom Trà hoa thơm Ba Vì
Trang 104.3 Quả hình cầu (A C.hakodae), hình cầu dẹt (B C.petelotii) và
khi mở để lộ trụ quả (C C.tamdaoensis)
37
4.8 Các dạng tán trà có trong tự nhiên và làm cảnh 41
4.10 Biểu đồ so sánh Hvn bình quân Trà hoa thơm Ba Vì 42 4.11 Biểu đồ so sánh D00 bình quân Trà hoa thơm Ba Vì 43
4.16 Giải phẫu hoa Trà Camellia vietnamensis Huang ex Hu 48
4.17 Hoa, nụ Trà Camellia vietnamensis Huang ex Hu 49
4.18 Cành mang hoa, quả, hạt Trà hoa thơm (Camellia vietnamensis
Huang ex Hu)
49
4.20 Biểu đồ Gausen – Walter tại khu vực nghiên cứu 54
Trang 114.21 Biểu đồ sánh sinh trưởng của loài Trà hoa thơm Ba Vì 63 4.22 Biểu đồ so sánh các cấp sinh trưởng chiều cao Trà hoa thơm Ba Vì 65 4.23 Biểu đồ so sánh trữ lượng của các ô tiêu chuẩn 69
4.25 Biểu đồ so sánh cấp chiều cao cây tái sinh 77
4.27 Biểu đồ diễn biến nhiệt độ, độ ẩm trong thời gian giâm hom 81 4.28 Biểu đồ so sánh nhiệt độ trong, ngoài luống giâm 82 4.29 Bố trí thí nghiệm giâm hom Trà hoa thơm Ba Vì 83 4.30 Rễ hom Trà hoa thơm Ba Vì xử lý bằng NAA 86 4.31 Biểu đồ ảnh hưởng của chất NAA các nồng độ 87 4.32 Rễ hom Trà hoa thơm Ba Vì xử lý bằng IBA 88
Trang 122008, cho tới nay Vườn Quốc gia Ba Vì có 1201 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 649 chi và 160 họ Như vậy, qua kết quả nghiên cứu mới nhất đã khẳng định
sự phong phú đa dạng loài thực vật của vườn Trong đó có nhiều loài cây cho gỗ, cây thuốc, cây làm cảnh… một số chưa được nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh thái, khả năng sinh trưởng, tái sinh của chúng Vì thế việc khai thác, kinh doanh lợi dụng rừng còn rất hạn chế Đặc biệt là việc nghiên cứu sử dụng và bảo tồn bền vững các loài cây đặc hữu, quý hiếm, điển hình trong đó là loài Trà thơm tại
Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu)
Camellia là một chi lớn thuộc họ Chè (Theaceae) Các loài trong chi Camellia
không những có vai trò quan trọng tham gia vào cấu trúc hệ thực vật nhiệt đới vùng núi mà còn có ý nghĩa về mặt kinh tế Nhiều loài Trà được dùng làm đồ uống, dầu
ăn, làm thuốc và đặc biệt phải kể đến đó là giá trị về mặt cây cảnh Các loài trong chi Camellia đều có hoa to và đẹp, nhiều màu sắc khác nhau, mùa nở hoa của chúng lại đúng vào dịp Tết Tiềm năng kinh tế về mặt làm cây cảnh của các loài trong chi
Camellia là rất lớn
Loài Camellia vietnamensis, chi Camellia sống chung trong các quần thể rừng
trên núi cao Đây là cây thân gỗ nhỏ, thẳng có lá màu xanh quanh năm, hoa có màu trắng tinh khiết, điểm đặc biệt của loài này so với các loài trà khác là hoa có hương thơm, đẹp một cách tự nhiên Trà là một loài cây đặc biệt, lịch sử biết về Trà với
Trang 13nhiều nét đẹp đoan trang, sắc sảo nhưng lại thanh khiết, tao nhã Chẳng bởi thế mà người Trung Quốc xem hoa Trà là Thập đại danh hoa
Các loài chi trà – Camellia được biết trước kia ở nước ta không hề có hương thơm, tuy được xếp vào hạng Kỳ hoa nhưng lại được biết đến là loài ”Hữu sắc vô
hương” Ở loài Camellia vietnamensis có một mùi hương đặc biệt, không hề đậm
đặc mà chỉ thấy thoang thoảng một thứ hương lạ, tinh khiết
Nhưng gần đây loài hoa này còn rất ít do mở rộng du lịch, mưu sinh của người dân trong vùng Vì là giống trà hoa quý, xanh tốt đến cả bốn mùa, mùa hoa nở kéo dài từ trước tết dương lịch đến sau tết âm lịch, mà trong vài năm trở lại đây nhân dân các xã ven núi đến mùa hoa nở thường vào rừng bẻ hoa về chơi, bán Một số người do thích sự độc đáo của loài này còn đào cả cây trong rừng đem về nhà trồng làm cảnh, do là loài đặc hữu núi cao, không được chăm sóc nên đa phần cây đánh
về đều không sống được
Camellia là những loài cây rất được ưa chuộng ở nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Mỹ, Việt Nam và cho đến bây giờ là cả thế giới Tuy nhiên số cá thể trà thơm tại Ba Vì trong tự nhiên còn rất ít và phạm vi phân bố hẹp nên các nhà khoa học thế giới rất quan tâm đến loài này Đã có hàng trăm hội thảo trong nước
và nước ngoài nghiên cứu về Trà hoa và ta cũng đã có nhiều chương trình hợp tác nghiên cứu bảo tồn loài này Ở nước ta, hiện nay do nạn chặt phá rừng bừa bãi, đốt nương làm rẫy và đặc biệt là do người dân đã biết phần nhiều đến giá trị của Trà
hoa nói chung và loài Camellia vietnamensis nói riêng nên phạm vi phân bố của nó
ngày càng bị thu hẹp, nguồn gen quý càng ngày mất dần đi Vì vậy chúng ta cần phải có biện pháp để bảo tồn phát triển nó Gây trồng và phát triển rộng rãi các loài
Trà quý nói chung và loài Camellia vietnamensis nói riêng là một hướng đi đúng
đắn, góp phần phát triển bền vững nguồn tài nguyên luôn được coi là đa dạng và phong phú của nước ta
Được sự đồng ý của Khoa Sau đại học – Trường đại học lâm nghiệp, phê duyệt, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Ngô Quang Đê cho tôi được thực hiện đề
tài“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học và khả năng nhân giống bằng hom loài Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu).”
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
* Tình hình nghiên cứu các loài trong chi Trà - Camellia
Chi Camellia thuộc họ Chè (Theaceae) có phạm vi phân bố khá rộng ở vùng núi có khí hậu từ nhiệt đới đến á nhiệt đới Vùng rừng núi Việt Nam cũng là nơi phân bố của nhiều loài cây trong họ Chè và đặc biệt là các loài cây trong chi Camellia Hiện nay trên thế giới người ta đã phát hiện và thống
kê được khoảng trên 300 loài thuộc chi Camellia (Theo tài liệu của Trương Hồng Đạt, năm 1998 ở Trung Quốc đã phát hiện thấy 238 loài và theo tài liệu của các nước lân cận như Việt Nam, Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin… đều có các loài thuộc chi Camellia) Ở Việt Nam, tuy chưa được điều tra thống kê đầy đủ nhưng theo kết quả bước đầu đã phát hiện ra có khoảng 48 loài, gồm các loài hoa trắng, hoa vàng và hoa đỏ, chúng phân bố ở nhiều vùng khí hậu và lập địa khác nhau
Từ lâu người dân địa phương thường khai thác các loài cây này để sử dụng cho các mục đích khác nhau vì chúng thường có giá trị kinh tế cao và giá trị thẩm mỹ lớn Một số loài còn là nguyên liệu cho công nghiệp( chiết xuất tinh dầu, làm dược phẩm…) cho các sản phẩm phục vụ đời sống con người và đơn giản hơn là có thể nấu nước uống hàng ngày của dân ta từ bao đời…
Trong cuốn “Danh ưu trà hoa Trung Quốc” (Bắc Kinh năm 2000) của Lương Thịnh Nghiệp cho biết “Trà hoa có lịch sử gây trồng lâu đời ở Trung Quốc” và có tác dụng như:
+ Có giá trị thưởng thức độc đáo
+ Có giá trị làm thuốc (nhiều loại thuốc) từ lá, hoa, thân đều có thể làm thuốc, như làm mát máu người (người nóng máu), cầm máu, tiêu độc, tan nhọt Cùng với sự phát triển của khoa học càng ngày người ta càng nghiên cứu sâu rộng các bài thuốc từ hoa Trà
Trang 151.1 Nghiên cứu chi Camellia trên thế giới
Chi Camellia đã bắt đầu được nghiên cứu từ đầu thế kỷ 17, Tên Camellia do nhà thực vật học nổi tiếng của Thụy Điển tên là Line đặt Trong cuốn “Genera plantarum” để tưởng nhớ người cha cố kính yêu là “Camellus Job” và gần 20 năm sau mới có một số loài được nghiên cứu và mô tả Loài đầu tiên được nghiên cứu và mô tả là Camellia japonica, tiếp sau đó là loài Camellia sinensis Mặc dù ít, song cũng có thể nói nó đã đánh dấu một bước khởi đầu cho sự nghiên cứu chi Camellia này Tuy nhiên lịch sử nghiên cứu
về các loài trong chi Camellia có rất nhiều thay đổi và chi Camellia mới thực
sự được các nhà thực vật học chú ý nghiên cứu kỹ từ khoảng cuối thế kỷ 17
+ Ở Châu Á: Có thể nói Trung Quốc là nước đi đầu trong việc nghiên cứu ứng dụng và khai thác nguồn lợi từ các loài cây Trà, đặc biệt trong lĩnh vực cây làm cảnh Theo Trương Hồng Đạt (Trung Quốc) thì việc nghiên cứu các loại Trà đã có ở Trung Quốc từ rất lâu và đến thế kỷ thứ 17 đã tạo ra được những loài cây Trà làm cảnh có hoa đẹp, hấp dẫn du khách Từ năm 1673 –
1681 đã có một số người Nhật Bản dẫn giống hoa Trà từ Vân Nam (Trung Quốc) về trồng
Việc nghiên cứu về chi Camellia ở Trung Quốc đã được thực hiện rất bài bản và có hệ thống từ thế kỷ 20, như nghiên cứu của Cheng Jin Shui và các cộng sự đã tiến hành phân loại các loại hoa Trà, tiến hành lai chéo để tạo
ra các giống mới và sau 20 năm đã tạo ra được hơn 100 loài Trà cho hoa khác nhau Trình Kim Thuỷ và Trương Hồng Đạt đã tiến hành phân loại chi Camellia thành 4 chi phụ đó là: Protocamellia, Camellia, Thea và Metacamellia Sau này nghiên cứu tiếp của Chung Hung Ta đã được giới thiệu trong cuốn “Camellius” xuất bản năm 1981 ở Trung Quốc vẫn thống nhất trên cơ sở chia chi Camellia thành 4 chi phụ và chia tiếp thành 20 chi nhánh, trong đó ông đã xếp các loại trồng vào chi phụ Thea Ngoài ra, trong
Trang 16công trình nghiên cứu của ông cho thấy sự phân bố của chi Camellia rất tập trung ở một số tỉnh ở miền Nam Trung Quốc như Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam và kéo xuống miền Bắc Việt Nam Quan điểm và kết luận đó rất giống với quan điểm của một số nhà thực vật học Trung Quốc như Xia Ljang, Quan Kaijun Khi giới thiệu về những loài thuộc chi Camellia hoa vàng trong cuốn “An introduction to the yellow Camellia” Đồng thời trong cuốn
“Camellia” ông đã đưa ra một số đặc điểm quan trọng để có thể phân biệt với
3 chi lớn khác nhau trong họ như:
+ Các thành phần của hoa thường nhiều và ít có sự phân hoá
+ Sự phân bố của nhị thường tập trung Do vậy số loài trên một đơn vị diện tích có thể là lớn hơn hẳn so với các chi trong họ (xem bảng 1- sự phân
bố của chi Camellia – theo thống kê của TS Trần Ninh)
+ Chi Camellia gồm nhiều nhóm rất phức tạp, với mối quan hệ trong hệ thống nhất phát sinh chúng, loại, giống, loài rõ ràng hơn so với các chi khác trong họ
Bảng 1.1: Sự phân bố của chi Camellia
Trang 17Cũng theo hệ thống phân loại này thì ở Việt Nam đã phát hiện được 48 loài thuộc chi Camellia, trong đó có 4 loài thuộc chi phụ Protocamellia, 13 loài thuộc chi phụ Thea, còn 31 loài thuộc chi phụ Camellia và Metacamellia
Theo Trương Hồng Đạt cho thấy ở Trung Quốc cây Trà có sự phân bố
tự nhiên ở 16 tỉnh và có giá trị thẩm mỹ cao Việc nghiên cứu vể các loài Trà hoa được bắt đầu ở Trung Quốc từ năm 40 của thế kỷ 20 Bằng kết quả của việc chọn giống, nhân giống, gây tạo đã đưa số chủng loại hoa Trà từ 20 lên
120 loài Đầu những năm 1950 ở Côn Minh (Trung Quốc) đã thực hiện nghiên cứu Trà hoa thành trọng điểm và đã đi sâu vào nghiên cứu nguồn giống, phân loại, lai tạo ra các giống mới để phát triển hoa Trà và thiết lập các nguồn giống, xây dựng thành ngân hàng gen phục vụ cho các mục tiêu sản xuất nguyên liệu công nghiệp, đồ uống và cây cảnh
Các nhà khoa học của Trung Quốc nghiên cứu về các loài hoa Trà đã đi sâu điều tra nghiên cứu, xây dựng các nguồn gen, đẩy mạnh công tác chọn giống, lai tạo và xây dựng hệ thống những biện pháp nghiên cứu các loài Camellia
+ Ở Châu Âu: Từ những năm đầu của thế kỷ 20 (1904-1931) nhà sưu tầm thực vật học G Forest (Người Anh) đã đến Vân Nam – Trung Quốc và thu thập các loài Camellia reliculata saluenensis… về trồng tại vườn thực vật Hoàng Gia Anh và nhà thực vật học Robert Sealy cũng đã đi sâu và nghiên cứu kỹ chi Camellia trong cuốn “A Revision of the genus Camellia” năm
1958, ông đã giới thiệu mô tả 82 loài trong đó có 62 loài ông đã căn cứ vào những đặc điểm cần thiết để phân loại chúng thành 12 nhánh, còn lại 20 loài không được xếp vào nhánh nào có lẽ vì thiếu những đặc điểm cần thiết
1.2 Nghiên cứu chi Camellia ở Việt Nam
Trong những năm trước đã có những công trình nghiên cứu về các loài trong
họ Theceae và trong chi Camellia, nhưng việc nghiên cứu mới chỉ tập trung
Trang 18vào một số loài cây lấy lá làm dược liệu, chế biến nước giải khát, có hạt cho tinh dầu Còn việc nghiên cứu chi Camellia với mục đích phân loại thống kê, bảo tồn loài, bảo vệ đa dạng sinh học… thì còn ít, chưa sâu, chưa toàn diện Trong mấy năm gần đây chi Camellia mới thực sự được các nhà thực vật học Việt Nam chú ý
Người đầu tiên nghiên cứu chi Camellia ở Việt Nam là L.Pierre, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp, sau khi nghiên cứu hệ thực vật ở một số nơi như Biên Hoà, Hà Tây và đầu nguồn sông Đồng Nai, năm 1987 ông đã
giới thiệu một số loài của chi Camellia trong cuốn “Flore forestiere de là
cochinchine” dưới tên chi Thea như: The dormoyana, Thea piquetiana, Thea
drupiera, Thea caudata…
Năm 1910 nhà thực vật học người Pháp là Pitard đã nghiên cứu thực vật ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam như Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hoà Bình và cũng trong cuốn “Flora Generale de L’lndochine” ông đã giới thiệu 3 loài mới đều lấy tên chi Thea đó là Camellia tonkinensis dưới tên Thea tonkinensis, Camellia flava dưới tên Thea flava, Camellia amplexicaulis dưới tên Thea amplexicaulis, trong đó có 2 loài hoa vàng
Hơn 30 năm sau, vào năm 1943 nhà thực vật học Gagnepain đã nghiên cứu hệ thống mô tả chi tiết 30 loài thuộc chi Camellia nhưng khi so sánh, đối chiếu với tài liệu của Sealy và Chang thì đã có một số loài là tên đồng nghĩa, nên số loài thực chất Gagnepain công bố chỉ còn lại 28 loài Bên cạnh đó qua các cuộc khảo sát thực vật của các vùng khác nhau của các chuyên gia thực vật hai nước Việt Nam và Trung Quốc, một số loài mới được công bố như: Camellia aurea, Camellia vietnammensis, Camellia indochinensis…
Năm 1994 dựa trên các công trình nghiên cứu của tác giả người Pháp cùng với việc nghiên cứu của Nguyễn Hữu Hiến đã thống kê tất cả các loài của họ Chè, trong đó chi Camellia có 37 loài
Trang 19Mấy năm gần đây việc nghiên cứu chi Camellia mới thực sự được các
nhà thực vật học Việt Nam quan tâm Năm 1995 trong cuốn luận văn “Phân
loại chi Camellia” của Trần Thị Phương Anh, tuy rằng chỉ mới nghiên cứu ở
một địa điểm là Vườn Quốc gia Cúc Phương với những loài đã nghiên cứu trước đây, song cũng đã phần nào góp phần vào việc khẳng định chi tiết hơn
sự đa dạng của chi Camellia tại Việt Nam Cũng vào năm 1995 trong tạp chí
“Di truyền và ứng dụng” tiến sĩ Trần Ninh công bố hai loài Trà hoa vàng thu được ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, trong đó có loài Trà hoa vàng Camellia cucphuongensis là loài mới cho khoa học Những năm tiếp theo tiến sĩ Trần Ninh công bố loà Trà hoa vàng mới là Camellia rosmannii (1998), Camellia kirinoi (1999) Cùng với chuyên gia Trà Trương Hồng Đạt (Trung Quốc) và Hakoda (Nhật Bản), Tiến sĩ Trần Ninh công bố 4 loài mới: Camellia crasiphylla; Camellia megasepala; Camellia murauchii và Camellia rubriflora Tính đến nay 48 loài thuộc chi Camellia đã được phát hiện tại Việt Nam
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu điển hình về các loài trong chi Camellia ở Việt Nam như:
Nghiên cứu của PGS.TS Ngô Quang Đê về điều tra phát hiện khu vực phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái của một số loài hoa Trà tại Ba Vì – Hà Tây đã cho thấy ở Ba Vì có 2 loài Camellia có triển vọng thuần hoá làm cây cảnh, những loài này đang được nghiên cứu và thử nghiệm tiếp
“Khảo sát điều kiện sống của Trà hoa vàng tại Ba Vì (Hà Tây) và Sơn Động (Bắc Giang)” (PGS.TS Ngô Quang Đê, Ngô Quang Hưng, Lê Sỹ
Doanh Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam)
“Kết quả giâm hom Trà hoa vàng Ba Vì (Camellia tonkinensis) và Trà hoa vàng Sơn Động (C.euphlebia)” (PGS.TS Ngô Quang Đê , Lê Thanh Sơn,
Đinh Thị Lê)
Trang 20Hai tác giả là Hoàng Minh Chúc và Bùi Văn Khánh đã nghiên cứu về hình thái, sinh thái, sinh trưởng của hai loài Camellia hoa trắng và hoa vàng tại VQG Ba Vì Công trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc điều tra tổ thành loài cây, xác định quan hệ của loài với môi trường sống thông qua yếu
tố khí hậu tại nơi nghiên cứu
Năm 1997 có nghiên cứu của Lê Xuân Trường về đặc điểm hình thái, sinh thái và sinh trưởng của loài Camellia hoa vàng ở Sơn Động – Bắc Giang nhưng chưa xác định chính xác được tên khoa học của đối tượng nghiên cứu Kết quả nghiên cứu còn cho biết loài Camellia hoa vàng tại Sơn Động chỉ thích nghi ở khu vực có lượng mưa bình quân năm từ 1738-2427mm và loài này chỉ phân bố ở ven suối, nơi có độ ẩm đất lớn, phân bố ở độ cao tuyệt đối
từ 300-350m thuộc địa hình đồi thấp và chân núi, đất chua và có hàm lượng mùn tương đối ít
Năm 2000 có nghiên cứu của Đỗ Đình Tiến, “Bước đầu nghiên cứu
một số đặc điểm hình thái, sinh thái và khả năng nhân giống bằng hom loài trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia petelotii(Merrill) Sealy)” Đối với Camellia
ở Tam Đảo cũng có một số tác giả quan tâm và tổ chức nghiên cứu Trong đó nổi bật vẫn là TS Trần Ninh (Bộ môn Thực vật học – Khoa Sinh – trường đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội) đã điều tra, phân loại và xác định có 11 loài thuộc chi Camellia Tam Đảo và bước đầu đã có một số mô tả về các đặc điểm hình thái của các loài mới phát hiện ở đây Còn các nghiên cứu kỹ về đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng, tái sinh… của các loài trên thì chưa có một công trình nào thực hiện được
“Nghiên cứu giâm hom Trà hoa vàng Tam Đảo - Vĩnh Phúc (Camellia tamdaoensis) và Trà hoa vàng Ba Vì - Hà Nội (Camellia tonkinensis)” (Th.S
Ngô Quang Hưng, Nguyễn Thị Thu Phương)
Trang 21“Nhân Gen mã hóa RARN 5,8S ở loài Trà hoa vàng Tam Đảo Camellia petelotii vườn quốc gia Tam Đảo” (Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Văn Mùi,
Trương Quốc Phong Khoa Sinh học, ĐHKHTN Hà Nội)
1.3 Nghiên cứu chi Camellia ở VQG Ba Vì
Qua các thông tin về tài liệu trên cho thấy việc nghiên cứu tìm hiểu về loài trong chi Camellia ở VQG Ba Vì còn chưa được toàn diện và đồng bộ, chưa có một hệ thống phân loại đầy đủ và chi tiết cho chi Camellia ở VQG Ba
Vì Đặc biệt đối với việc tìm hiểu về đặc điểm, đặc tính sinh vật học của loài
thì mới chỉ tiến hành được ở một số loài (Camellia tonkinensis, Camellia
flava) và ở trên một địa điểm nhất định, nhưng khi so sánh và đối chiếu các
kết quả nghiên cứu thì thấy giữa các loài có những đặc điểm khác nhau và có thể chúng là những loài khác nhau, phân bố trên những địa bàn khác nhau Một số công trình nghiên cứu trên còn chưa đề cập tới biện pháp chọn giống, nhân giống để bảo vệ, bảo tồn nguồn gen của các loài có giá trị kinh tế và giá trị thẩm mỹ cao Vì vậy cần có những biện pháp bổ sung về các đặc tính hình thái, sinh thái, phân loại, chọn và nhân giống để góp phần từng bước đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về hoa, quả, dược liệu, làm cảnh của chi Camellia và qua đây xác định được biện pháp cụ thể trong việc khai thác, sử dụng một cách hợp lý và ổn định bền vững các loài trong chi Camellia tại Vườn Quốc
Ba Vì, trong đó có loài Camellia vietnamensis
Trang 22Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng và khả năng nhân
giống bằng hom loài Trà hoa thơm tại Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang
ex Hu) Từ đó đề xuất phương hướng, biện pháp bảo vệ, nhân rộng và sử dụng loài này, làm tiền đề, cơ sở ban đầu nhằm tìm hiểu kỹ thuật nhân giống chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo Cung cấp những cơ sở khoa học góp phần bảo tồn chúng ở khu vực
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là loài Trà hoa thơm (Camellia vietnamensis
Huang ex Hu) tại vườn quốc gia Ba vì cùng với các yếu tố sinh thái tại vị trí
có phân bố tự nhiên của loài Trà hoa này
2.3 Giới hạn đề tài
Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học như: hình thái, sinh thái, sinh trưởng cũng như tái sinh và khả năng nhân giống bằng hom của loài Trà hoa
thơm tại Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu)
2.4 Nội dung nghiên cứu
Nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra, đề tài tập trung tiến hành nghiên cứu với các nội dung:
2.4.1.Tìm hiểu đặc điểm khu vực có loài Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu) sinh trưởng
Xác định các đặc điểm sinh thái, quan hệ giữa nhân tố khí hậu, nhân tố đất đai với loài Trà hoa thơm và quan hệ của loài này với một số loài khác trong quần thể rừng tự nhiên tại Ba Vì nơi có cây Trà hoa thơm phân bố
Trang 232.4.2 Tìm hiểu về đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Trà hoa thơm Ba
Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu)
Bao gồm các nội dung:
- Đặc điểm hình thái thân cây, rễ, vỏ cây, cành cây, lá cây, tán cây, hoa
và quả (nếu có) của loài Camellia vietnamensis
- Đặc điểm vật hậu: mùa ra lá, mùa rụng lá, mùa ra hoa, kết quả của
loài Camellia vietnamensis
2.4.3 Tìm hiểu một số đặc điểm sinh cảnh nơi có cây Trà hoa thơm Ba Vì phân bố
Xác định các yếu tố có mặt trong sinh cảnh, nơi sống của Trà hoa thơm
Ba Vì (Camellia vietnamensis Huang ex Hu)
2.4.4 Tìm hiểu các đặc điểm tái sinh tự nhiên và nơi sống của Trà hoa thơm Ba Vì
2.4.4.1 Đặc điểm tái sinh tự nhiên
2.4.4.2 Điều kiện sống của loài Trà hoa thơm Ba Vì với các loài cây khác
2.4.5 Thử nghiệm nhân giống bằng hom loài Trà hoa thơm Ba Vì
(Camellia vietnamensis Huang ex Hu)
Kỹ thuật chọn hom, cắt hom
Số lượng hom, công thức thí nghiệm,…
Thu thập số liệu
So sánh kết quả giữa các công thức thí nghiệm, đánh giá về khả năng nhân giống bằng hom loài Trà hoa thơm
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp luận trong nghiên cứu
Hoàn thiện cơ bản một đề tài nghiên cứu khoa học đa ̣t kết quả thì cần phải có phương pháp nghiên cứu thích hợp Vì vâ ̣y phải căn cứ vào từng đối tươ ̣ng nghiên cứu, nô ̣i dung cần nghiên cứu, mục tiêu đề ra, căn cứ vào các
Trang 24điều kiê ̣n, phương tiê ̣n, thiết bi ̣ có thể có phu ̣c vu ̣ cho công tác nghiên cứu
cù ng với viê ̣c tiếp thu, tham khảo dựa trên nguyên tắc kế thừa những kết quả nghiên cứu củ a các nhà khoa ho ̣c đi trước ( Kế thừa các tài liệu cơ bản như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương cùng các tài liệu liên quan
về vấn đề nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước phục vụ cho nghiên cứu)
Đề tài nghiên cứu này thuô ̣c lĩnh vực sinh ho ̣c Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của một loài, nghiên cứu về sự sống, miêu tả những đặc điểm hình thái và tập tính của loài đó, cách thức các cá thể và loài tồn tại, và những tác động qua lại lẫn nhau và với môi trường Khi nghiên cứu về mọi sinh vật sống, chúng đều có mối quan hệ với các sinh vật khác và môi trường của chúng Một trong những nguyên nhân dẫn tới sự phức tạp khi nghiên cứu các
hệ thống sinh học là do mối tương tác phức tạp này Đó là lý do cần nghiên cứu đặc điểm sinh vật học song song với việc nghiên cứu sự phân bố và sinh sống của các sinh vật sống, và mối quan hệ qua lại giữa các sinh vật với nhau
và với môi trường sống
Trong phạm vi đề tài, đố i tượng nghiên cứu là các thực thể cây rừng và môi trường sống của nó Nếu với môi trường nghiên cứu là những cây có
vòng đời ngắn, kích thước nhỏ bé thì có thể bố trí thí nghiê ̣m trên diê ̣n tích nhỏ và có các thiết bi ̣ hiê ̣n đa ̣i để khống chế, điều chỉnh và ta ̣o ra điều kiê ̣n hoàn cảnh đáp ứng với yêu cầu của công tác nghiên cứu Còn đối với đối tươ ̣ng nghiên cứu là những loài cây có kích thước lớn, tuổi đời dài thì những công thứ c thí nghiê ̣m trong phòng chỉ phù hợp với giai đoa ̣n ha ̣t – mầm, cây con Còn ở giai đoa ̣n cây có kích thước lớn thì chỉ nghiên cứu nó trên các cây tiêu chuẩn, trong ô tiêu chuẩn định vi ̣ hoă ̣c ta ̣m thời, với những cây gỗ lớn, số ng lâu năm, để nghiên cứ u đă ̣c tính sinh thái và các yếu tố khác ở các giai đoa ̣n tuổi của cây thì thời gian cần cho nghiên cứu có thể phải hàng chu ̣c năm
mớ i có kết quả Để khắc phu ̣c ha ̣n chế này, rút ngắn thời gian nghiên cứu
Trang 25người ta thường mở rô ̣ng không gian và cùng mô ̣t lúc tiến hành nghiên cứu trên nhiều cá thể ở các giai đoa ̣n tuổi khác nhau trong cùng mô ̣t hoàn cảnh sinh thái Trong lâm nghiệp, khi nghiên cứu rừng tự nhiên hoặc các loài cây trong rừng (cấp độ quần thể) thì thường áp dụng biện pháp này Tuy nhiên độ chính xác của kết quả còn phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên và quá trình thực hiện việc nghiên cứu
Trong nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài, hiện nay trên thế giới tồn tại một số quan điểm sau:
- “Loài là thực thể duy nhất trong tự nhiên” Theo quan điểm này người
ta coi loài cây là thực thể duy nhất trong tự nhiên, nên mọi nghiên cứu cần tập trung vào loài, vị trí nghiên cứu tới các cá thể trong loài Còn các đặc điểm chung của quần xã của hệ sinh thái được hình thành nên từ các đặc điểm của
cá thể, của loài, dù chúng có tác động, ảnh hưởng hỗ trợ hoặc kìm hãm lẫn nhau cũng không được chú trọng Điển hình của quan điểm này là các nhà khoa học như: Gleason (Mỹ), Whitaker Brow (Anh), Ranenski (Nga), Fournier và Lenoble (Pháp)
- Quan điểm về quần thể loài: Quan điểm này nhấn mạnh các đặc điểm
do quần thể loài tạo nên và nghiên cứu được tập trung vào các đặc điểm quần thể và hệ sinh thái mà ít chú trọng đến nghiên cứu các đặc điểm của cá thể Điển hình của quan điểm này là: Sukasop (Nga), Water (Đức), Paglovxki( Ba Lan), Clemelt (Anh), và Blalquet (Pháp)…
- Các nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài hiện nay thường dựa trên quan điểm dưới đây vì nó mang tính duy vật biện chứng hơn cả Đó là quan điểm mà những nghiên cứu dựa trên các nghiên cứu tổng quan của cả hai quan điểm trên, quan điểm này cho rằng khi nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài cần kết hợp giữa nghiên cứu cá thể và nghiên cứu quần thể Đại diện cho quan điểm này là: Tensley (Anh), Poniatropxkaia( Nga) và Thái Văn Trừng (Việt Nam)…
Trang 262.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.2.1.Tìm hiểu một số đặc điểm hình thái của loài Trà hoa thơm Ba Vì
(Camellia vietnamensis )
Để nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm hình thái, vật hâ ̣u của loài Trà hoa thơm Ba Vì tôi sử du ̣ng phương pháp quan sát kết hơ ̣p với mô tả ở thực đi ̣a, đồng thời thu thâ ̣p các thong tin phỏng vấn từ người dân và các cán bô ̣ lâm nghiệp có kinh nghiê ̣m, so sánh, đối chiếu với các tài liệu nghiên cứu trước đây để xác đi ̣nh được những nô ̣i dung sau:
Mô tả về hình thái của thân, lá, hoa, quả của loài Trà hoa thơm Ba Vì Quan sát hiện tươ ̣ng chồ i, nu ̣, hiê ̣n tươ ̣ng ra hoa, ru ̣ng lá, quả non, quả già của loài Trà hoa thơm Ba Vì
Từ kết quả điều tra D1.3, Hvn chọn ra mô ̣t cây (go ̣i là cây tiêu chuẩn) có
D1.3, Hvn bằng hay xấp xỉ với D1.3, Hvn bình quân của mỗi ô Trên cây đó cho ̣n
ra 9 cành: 1 cành ở ngo ̣n, 4 cành ở giữa tán, 4 cành gần dưới tán, theo các hướng Đông – Tây – Nam – Bắc Trên mỗi cành cho ̣n ngẫu nhiên 4 lá đã thành thục, không sâu bệnh, không bi ̣ di ̣ da ̣ng và không bi ̣ tổn thương cơ giới để đo đếm các chỉ tiêu về lá
Kích thướ c lá thì đo chiều dài phiến lá từ sát cuống đến đỉnh, chiều rộng phiến lá đo theo bề ngang rô ̣ng nhất bằng thước có đô ̣ chính xác đến
mm, số gân lá, chiều dài cuống lá, kết quả ghi vào mẫu biểu sau:
Biểu 2.1: Đo kích thước lá loài Trà hoa thơm (Camellia vietnamensis )
Ô tiêu chuẩn : Địa điểm điều tra :
Ngày điều tra : Người điều tra :
STT Chiều dài lá
(cm)
Chiều rộng lá (cm)
Trang 27Kích thước nu ̣, hoa, quả (nếu có) Trong thời gian thực hiê ̣n đề tài nếu gặp thì thu các mẫu nụ, hoa, quả (n>=30) Cách thu mẫu mô ̣t cách ngẫu nhiên,
các bô ̣ phâ ̣n này phải là bộ phâ ̣n phát triển bình thường, không sâu bê ̣nh, không bị tổn thương cơ giới Dùng thước kẹp Palme đo kích thước về chiều
rộng hoă ̣c đường kính và ghi vào biểu
Biểu 2.2: Kích thước nụ (hoa, quả)
Tính số lượng lá bắc, đài, tràng, nhi ̣, nhụy: cho ̣n ngẫu nhiên mô ̣t hoa (n>=30), đồng thời với việc quan sát tiến hành mô tả các bô ̣ phâ ̣n, giải phẫu hoa, vẽ hoa đồ và đo đếm các bô ̣ phâ ̣n Ghi kết quả vào mẫu biểu:
Biểu 2.3: Biểu giải phẫu hoa
STT
(hoa)
Số lá
bắc Số đài Số tràng Số nhị Số ô bầu Ghi chú
Mô tả cây, hình dáng chung của thân cây, tán, da ̣ng thân, màu sắc vỏ,
đo Hvn, D1.3, Dt, …cho tất cả các cây Trà hoa thơm Ba Vì có trong các ô tiêu chuẩn
Lấy mẫu tiêu bản, chu ̣p ảnh các bô ̣ phâ ̣n của cây đã nghiên cứu
Trang 282.5.2.3 Đặc điểm sinh thái loài Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis)
Tìm hiểu các đă ̣c điểm sinh thái loài Trà hoa thơm Ba Vì, tức là nghiên
cứu mối quan hệ giữa các loài cây đó với điều kiê ̣n môi trường mà nó đang tồ n tại “Môi trường ở đây là toàn bô ̣ tổng thể vật chất, năng lượng và các hiê ̣n tượng ảnh hưởng đến cơ thể sống” (Racovitza – 1972) Hay có nghĩa là các nhân tố khí hậu, đất đai, sinh vâ ̣t
2.5.2.4 Điều tra tình hình sinh trưởng, tái sinh tự nhiên khu vực có Trà hoa thơm
Điều tra phân bố và đặc điểm sinh học của Trà hoa thơm Theo phương pháp điều tra thực vật truyền thống, bao gồm: Điều tra thực vật trên tuyến: Dựa vào bản đồ hiện trạng khu vực( nếu có), lập tuyến điều tra trong khu vực qua các dạng địa hình khác nhau như sườn núi, dông núi, đường mòn dân sinh, các con suối chính Trên các tuyến điều tra tiến hành thống kê, thu thập mẫu thực vật, chụp ảnh, định vị toạ độ loài Trà hoa thơm xuất hiện Điều tra thực vật trên ô tiêu chuẩn: lập ô tiêu chuẩn (ÔTC) đại diện Diện tích ô tiêu chuẩn là 1000m2 (40 x 25m) Trong ô tiêu chuẩn điều tra thành phần loài, các chỉ tiêu sinh trưởng đối với tầng cây gỗ, thu mẫu tiêu bản của các loài chưa biết Cây tái sinh và cây bụi, thảm tươi được điều tra trên các ô dạng bản (ODB) có diện tích 25m2 Diện tích điều tra là 10% diện tích ÔTC
Điều tra tình hình sinh trưởng tự nhiên
Lập ô điều tra đại diện cho khu vực nghiên cứu, tiến hành điều tra, đo đếm hết các cây
- Mô tả tình hình chung của ô điều tra như số thứ tự ô tiêu chuẩn, loa ̣i rừng, đơn vị quản lý, lô khoảnh, kinh đô ̣ – vĩ đô ̣, khoảng cách tới kênh nước
và đường giao thông gần nhất,…(vẽ sơ đồ nếu cần)
- Điều tra độ tàn che, độ che phủ của thảm tươi cây bu ̣i và thảm khô trong ô điều tra
Trang 29Biểu 2.4: Biểu điều tra độ tàn che, độ che phủ của thảm tươi cây bụi và
thảm khô
(m) D t1 (m) D t2 (m)
H vn (m)
H dc (m) Ghi chú
- Điều tra cây Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis ), tiến hành đo
đếm tất cả những cây Trà hoa thơm Ba Vì có mặt trên ô điều tra
Biểu 2.6: Biểu điều tra Trà hoa thơm trên ô tiêu chuẩn
- Để đánh giá đươ ̣c tình hình, khả năng sinh trưởng phát triển của loài
Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis ) bên ca ̣nh những cây bản đi ̣a
Trang 30xung quanh nó tiến hành điều tra ô tiểu chuẩn 6 cây trong ô tiêu chuẩn nghiên
cứ u Cho ̣n ra 3 cây Trà hoa thơm đại diê ̣n trên ô tiêu chuẩn, mỗi cây Trà hoa thơm xác đi ̣nh 6 cây xung quanh có khoảng cách gần nhất với cây Trà hoa thơm tiến hành đo đếm đường kính D1.3, chiều cao Hvn Hdc, đường kính tán,…
Kết quả đo đếm về các ô tiêu chuẩn 6 cây trong ô tiêu chuẩn nghiên cứu thu được ghi vào biểu sau:
Biểu 2.7: Biểu điều tra ô tiêu chuẩn 6 cây
(m)
Dt1 (m)
Dt2 (m)
Hvn (m)
Hdc (m)
KC (m)
Điều tra tái sinh tự nhiên
Lập 5 ô da ̣ng bản trong ô tiêu chuẩn để điều tra cây tái sinh, diê ̣n tích 25
m2 (kích thước 5m x 5m)
Tiến hành đo đếm tất cả các cây Trà hoa thơm Ba Vì tái sinh có trong ô
dạng bản và chia theo cấp chiều cao, chất lươ ̣ng (tốt, trung bình, xấu), nguồn gố c (hạt, chồi) Kết quả đo đếm cây tái sinh được nghi vào biểu:
Biểu 2.8: Biểu điều tra tầng cây tái sinh
Địa điểm điều tra: Trạng thái rừng:
Trang 312.5.3 Tìm hiểu một số đặc điểm sinh cảnh nơi có cây Trà hoa thơm Ba Vì phân bố
2.5.3.1 Địa hình, địa mạo
Mô tả chi tiết dạng địa hình: độ dốc, hướng phơi như sườn núi, dông núi, đường mòn dân sinh, các con suối chính nơi có xuất hiện cây Trà hoa thơm Ba Vì
2.5.3.2 Địa chất và thổ nhưỡng
Mô tả phẫu diện, phân tích tính chất lý hoá học của đất Vì xét trong cùng một điều kiện khí hậu thì đất là một chỉ tiêu quan trọng trong sinh thái của thực vật
Phương pháp thu thập mẫu đất: Tại khu vực nghiên cứu, nơi có cây
Trà hoa thơm Ba Vì phân bố, tiến hành lấy mẫu đất tổng hợp đại diện Đào một phẫu diện đất gần gốc cây, xác định các chỉ tiêu đất qua phẫu diện đó Phương pháp nghiên cứu kế thừa tài liệu và phỏng vấn nhân dân
Phân tích tính chất lý hoá học của đất: Tại phòng phân tích đất theo
các phương pháp thông dụng hiện hành Cụ thể như sau: Xác định hàm lượng mùn Xác định các chất đạm Xác định các chất lân dễ tiêu Xác định các chất kali dễ tiêu Xác định đạm tổng số Xác định lân tổng số Xác định kali tổng
số Xác định pH KCl bằng máy đo pH metter Xác định độ chua trao Xác định độ chua thủy phân Xác định độ no bazơ Xác định tổng Ca++ và Mg++ trao đổi Xác định thành phần cơ giới
2.5.4 Thử nghiệm nhân giống bằng hom Trà hoa thơm Ba Vì
Ca ́ ch lấy hom: Hom cành của Trà hoa thơm được lấy từ cây Trà hoa
thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis ) đã trưởng thành, được di thực về sống
tại khu vực Xuân Mai – Chương Mỹ - Hà Nội Hom được lấy từ cây me ̣ đã thành thu ̣c có thân và hình tán đe ̣p, cây sinh trưởng tốt, không sâu bê ̣nh, có hoa to đe ̣p Cho ̣n các cành thứ cấp (cành cấp 2, 3), hoă ̣c hom chồi vượt càng tố t, các cành có hom đươ ̣c cho ̣n là cành bánh tẻ, mới ra trong mùa sinh trưởng, khoảng cách các đốt tương đối đều, mỗi hom sau khi về cắt phải được ít nhất 2 đốt (khoảng 3 lá)
Trang 32Ca ́ ch cắt hom: Hom được cắt vát 450 ở phần gốc cách chồi ngủ lá cuối cùng từ 1,5 – 2cm, cắt bỏ lá cuối cùng, mỗi hom phải đảm bảo có 2 – 3 lá, trên mỗi lá thì cắt bỏ 2/3 diện tích phiến lá, chỉ để 1/3 phần lá phía dưới gốc lá để giảm diện tích thoát hơi nước Điều đặc biệt cần phải chú ý là hom phải cắt bằng kéo cắt cành hoặc dao sắc để tránh dập nơi vết cắt Điều này rất quan trọng, nó quyết định đến sự sống chết của hom giâm, nếu cắt bị dập thì hom dễ bị thối, chiều dài hom
từ 8 – 10 cm
Xư ̉ lý và cắm hom: Hom cắt xong xử lý ngay bằng nước sa ̣ch để tránh
mất nước Trướ c khi xử lý hóa chất hom đươ ̣c ngâm vào dung di ̣ch benlat 0,1
% trong 15 phút để diệt nấm Sau đó với ra và lần lượt xử lý hóa chất IBA, NAA theo những công thức có nồng đô ̣ khác nhau Các nồng đô ̣ đươ ̣c xử lý là 0,5%, 1%,1,5%, 50ppm, 100ppm và 150ppm, trong thời gian 2giờ (chỉ nhúng phần gốc hom 1,5 – 2cm vào hoá chất), thuốc bột với các nồng độ 0,5% và 1% (chấm gốc hom vào hóa chất sao cho hóa chất tiếp xúc hết với diện tích vết cắt ở gốc hom) Sau khi xử lý hom thì tiến hành cắm hom theo sơ đồ bố trí các công thức để tiện theo dõi, cắ m xong cần tướ i đủ nước
Thể nề n để giâm hom: Nền đất ở vườn bố trí hom phải được làm sa ̣ch cỏ
dại, nhặt sỏi đá, dọn sa ̣ch, san bằng nền đất, sau đó đổ cát song đã xử lý (sàng bỏ sỏi, rác, tạp chất và đã được phơi khô nhiều nắng để diê ̣t khuẩn và ha ̣n chế sâu
bệnh) Cát được lên luống cao khoảng 5 – 10cm, tạo bờ tránh mất nước, rửa trôi
Theo do ̃i, chăm sóc hom: Chăm sóc hom giâm là công việc cực kỳ quan
trọng, nó không thể thiếu được trong quá trình giâm hom Sau khi cắm hom, tưới đủ ẩm cho đất nền (thể nền), chụp khung nilong Hàng ngày tưới ẩm 2 -
3 lần (những ngày trời nắng to thì tưới phun 3 lần), 2–3 ngày thì tưới ẩm cho nền cát một lần, nền cát luôn giữ ẩm 60–70% Ở giai đoạn đầu, khi hom tách rời hoàn toàn khỏi cơ thể mẹ, hom bị mất nước rất nhanh nếu không tưới nước kịp thời và thường xuyên thì hom sẽ bị chết Tưới nước vừa đủ, nếu tưới nhiều sẽ dẫn đến hom dễ bị thối và chết, nếu tưới ít thì lượng nước này sẽ
Trang 33không cung cấp đủ cho mọi hoạt động sống của hom, dần dần hom mất nước nhiều sẽ dẫn đến chết Khi hom ra rễ thì tưới nước ít hơn
Trong khâu chăm sóc, ngoài việc tưới nước còn phải chú ý đến nhiệt độ
và ánh sáng trong cả quá trình giâm hom Hàng ngày đều theo dõi nhiệt độ, độ
ẩm của luống giâm Tôi sử dụng lồng Polyetylen để giâm hom Lồng Polyetylen
có thể tạo ra môi trường thuận lợi cho quá trình ra rễ của hom giâm Theo nghiên
cứu của Hudson T Hartmann và Dale E Kester thì màng Polyetylen có chiều
dày từ 0,1 đến 0,15mm cho 85% ánh sáng đi qua và trong đó có tất cả các ánh sáng cần thiết cho sự phát triển của thực vật, đồng thời cho ôxy, cacbon đi qua nhưng lại ngăn cản sự bốc hơi nước Như vậy trong lồng Polyetylen có thể duy trì được độ ẩm cao Bên trên lồng còn có giàn che bởi lưới đen và giàn hoa, dây leo, giảm bớt nhiệt độ và che nắng cho hom, duy trì độ tàn che 0,6%
(Tài liệu tập huấn dự án WEP 4304,1997, GS TS Lê Đình Khả)
- Lập sổ theo dõi các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giâm hom theo mẫu biểu sau:
Biểu 2.9: Diễn biến nhiệt độ, độ ẩm trong thời gian giâm hom
Biểu 2.10: Biểu theo dõi nhân giống bằng hom
Ngày bắt đầu liền sẹo
Ngày bắt đầu ra rễ
Ngày ra bầu
Ghi chú
Trang 34- Sau 4 tháng giâm hom khi hom đã ra rễ được một thời gian có thể ra bầu được thì tiến hành ra bầu, thống kê mô tả hom loài Trà hoa thơm Ba Vì, kết quả thu được ghi vào bảng sau:
Biểu 2.11: Biểu mô tả hom Trà hoa thơm Ba Vì
Người cấy hom:
Stt
hom Số rễ
Chiều dài rễ dài nhất
Ghi chú
Stt hom Số rễ
Chiều dài rễ dài nhất
Ghi chú
- Tính toán nội nghiệp: từ số liệu thu thập được tiến hành tính toán nội nghiệp theo các chỉ tiêu: số rễ trung bình, chiều dài rễ trung bình, tỉ lệ ra rễ,
sử dụng tiêu chuẩn X 2 với mức ý nghĩa 5 % ( số bâc tự do k = (m – 1)( n-1))
để so sánh tỉ lệ ra rễ của các công thức thí nghiệm
Biểu 2.12: Biểu tổng hợp nhân giống bằng hom Trà hoa thơm Ba Vì
Stt Công
thức
Số hom/
lần lặp
Ngày bắt đầu
ra rễ
Tỉ lệ
ra rễ (%)
Chiều dài rễ
TB (cm)
Số rễ
TB (cái)
% sống sau khi ra bầu 4 tháng
Biểu 2.13: Biểu tổng hợp các chỉ tiêu so sánh cho các công thức thí
nghiệm theo tiêu chuẩn X 2
Trang 35Từ các kết quả thu được so sánh, kết hợp với các chỉ tiêu theo dõi khác đưa ra công thức thí nghiệm thích hợp nhất để giâm hom loài Trà hoa thơm
Ba Vì (Camellia vietnamensis)
2.5.5 Xử lý số liệu
- Điều tra sinh trưở ng của loài Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia
vietnamensis) thu thập số liệu tiến hành tính toán các chỉ số trung bình của
loài: dung lượng mẫu quan sát sử dụng tính toán cho các nội dung đều > 30 và được rút ra từ kết quả điều tra của từng nội dung
- Điều tra, nghiên cứu sinh cảnh rừng, nơi sống của loài Trà hoa thơm
Ba Vì thu thập số liều, xác định tổ thành loài cây: sử dụng công thức Ntb > N/m
Trong đó: Ntb là số cây TB của một loài, N là số cây điều tra, m là số loài điều tra
Những loài được xác định là loài chính khi có N > Ntb, đây là những loài tham gia vào trong công thức tổ thành rừng có cây Trà hoa thơm Ba Vì
(Camellia vietnamensis) phân bố
Lựa chọn các phương trình hợp lý để mô tả các mối quan hệ và tương quan giữa các nhân tố điều tra trong các nội dung nghiên cứu Phương trình được sử dụng là phương trình mô tả tất cả các mối quan hệ và có hệ số tương quan (R) cao, trong giới hạn sai số cho phép đồng thời thỏa mãn các tiêu chuẩn kiểm tra mà thống kê toán học đã đặt ra Trong xử lý và tính toán các
số liệu đều quán triệt các nguyên tắc sử dụng và tôn trọng các quy trình tính toán số liệu do thống kê toán học yêu cầu và luôn dùng các tiêu chuẩn kiểm tra để đánh giá kết quả
- Giâm hom loài Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis)
Trang 36Chương 3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Hình 3.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu 3.1 Đặc điểm tự nhiên
Trang 373.1.2 Địa hình, địa mạo khu vực nghiên cứu
Ba Vì là vùng núi trung bình và núi thấp, đồi núi tiếp giáp với vùng bán sơn địa, nổi lên giữa đồng bằng, cách hợp lưu sông Đà và Sông Hồng 20Km
về phía Nam
Trong Vườn quốc gia Ba Vì có một số đỉnh núi có độ cao trên 1000m như Đỉnh Vua (1296), đỉnh Tản Viên (1227m), đỉnh Ngọc Hoa (1131m), đỉnh Viên Nam (1081m) và một số đỉnh thấp hơn như đỉnh Hang Hùm 800, Chàng
Kể 776, đỉnh Gia Dê 714m
3.1.3 Địa chất và thổ nhưỡng
Ba Vì là một dãy núi đất và đá vôi lớn trải trên một phạm vi rộng chừng
5000 ha ở ba huyện Ba Vì (Hà Nội), Lương Sơn và Kỳ Sơn (Hòa Bình)
3.1.3.1 Địa chất
Khu vực này được hình thành từ những vận động tạo sơn Iđoxini cách đây 150 triệu năm Thành phần đá mẹ phân bố trong khu vực Ba Vì rất phong phú và đa dạng gồm các loại đá chính sau:
Đá biến chất: Phân bố từ Đá Chông đến ngòi Lặt và chiếm hầu hết ở sườn phía đông, ngoài ra chúng còn phân bố ở Đồng vọng, xóm sẩm thành phần chính của nhóm này gồm: diệp thạch kết tinh, đá gơnai, diệp thạch xêrixít lẫn các lớp quazit Đá vôi: Phân bố ở khu vực núi Chẹ, xóm Mít, suối
Mơ và xóm quýt Đá trầm tích-phún trào: Phân bố ở hầu hết toàn bộ khu vực vườn quốc gia và một số xã vùng đệm Đá trầm tích: phân bố ở xã Ba Trại từ suối Đò, cầu gỗ đến Mỹ Khê Đá bở rời: phân bố ở phía tây Xuân Khanh, Mỹ Khê và dọc các suối lớn
3.1.3.2 Thổ nhưỡng
Nền đất chính của dãy núi ba Vì là phiến thạch sét và sa thạch với các loại đất chính sau:
Trang 38- Đất Feralit mầu vàng phân bố ở độ cao >1000m, tầng đất mỏng có nhiều đá lẫn và đá lộ đầu phân bố ở xung quanh đỉnh Ngọc Hoa Các loài thực vật thường gặp như: Bách xanh, thông tre, chè sim, thích lá dài, Chè hồi sồi
dẻ, đỗ quyên
- Đất Feralit mầu vàng nâu phát triển trên đá phiến thạch sét, sa thạch phân bố rộng tập trung ở độ cao 500m-1000m, tầng đất từ mỏng đến trung bình, có nhiều đá lẫn nhiều nơi có đá lộ đầu Các loài thực vật thường gặp: Trương vân, Cồng sữa, Dẻ gai, Re
- Đất phù sa cổ phân bố thành một dải hẹp kéo dài ven sông Đà thuộc 2 xã Khánh Thượng và Minh Quang loại đất này đang có chiều hướng thoái hoá bị rửa trôi
- Theo tài liệu điều tra lập địa cấp I vùng phục hồi sinh thái xác định diện tích ở các dạng lập địa như sau:
+ Đất bằng nông nghiệp: 150ha (B) chiếm 2,3%
+ Đất phẳng có độ dốc 3-70 : 250ha (P) chiếm 4,4%
+ Đất Feralit phát triển trên đá mác ma kiềm và trung tính Phiến thạch sét và biến chất có độ dốc 8-150 (SFK, SFS): 2.665ha chiếm 57,
+ Đất Feralit phát triển trên đá mác ma kiềm và trung tính Phiến thạch sét
và biến chất có độ dốc 16-250 (S'FK, S'FS): 974ha chiếm 21%
+ Đất Feralit phát triển trên đá mác ma kiềm và trung tính Phiến thạch sét
và biến chất có độ dốc 26-350 (DFK, DFS): 83ha chiếm 1.8%
+ Đất Feralit phát triển trên đá mác ma kiềm và trung tính Phiến thạch sét
và biến chất có độ dốc >350 (D'FK, D'FS): 523ha chiếm 11,2%
+ Các loại đất hồ, thổ cư, đất lầy thụt: 91ha chiếm 1,9%
Trang 393.1.4 Khí hậu, thủy văn
3.1.4.1 Khí hậu
Đặc điểm chung của khu vực núi Ba Vì bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa đông lạnh và khô Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,40C Ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,70C; nhiệt độ tối cao lên tới
420C Ở độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm 20,60C; Từ độ cao 1000m trở lên nhiệt độ chỉ còn 160C Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,20 C Nhiệt
độ cao tuyệt đối 33,10C Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8 Độ ẩm không khí 86,1% Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1 Từ độ cao 400m trở lên không có mùa khô Mùa đông có gió Bắc với tần suất >40% Mùa Hạ
có gió Đông Nam với tấn suất 25% và hướng Tây Nam Với đặc điểm này, đây là điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sinh vật sinh sống và phát triển
Bảng 3.1: Số liệu khí tượng của các trạm trong vùng
Nhiệt độ tối cao TB (TCTB1) 31.5 32,9 33,5
Nhiệt độ tối thấp TB (TTTB2) 12,1 13,1 8,1
(Số liệu quan trắc bình quân nhiều năm của các Trạm khí tượng Láng, Ba Vì, Sơn Tây)
Trang 403.1.4.2 Thủy văn
Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượng nguồn núi
Ba Vì và núi Viên Nam Các suối lớn và dòng nhánh chảy theo hướng Bắc, Đông Bắc và đều phụ lưu của sông Hồng Ở phía Tây của khu vực, các suối ngắn và dốc hơn so với các suối ở phía Bắc và phía Đông, đều là phụ lưu của sông Đà Các suối này thường gây lũ và mùa mưa Về mùa khô các suối nhỏ thường cạn kiệt Các suối chính trong khu vực gồm có: Suối Cái, suối Mít, suối Ninh, suối Yên Cư, suối Bơn…Sông Đà chảy ở phía Nam núi Ba Vì, mực nước năm cao nhất dưới 20m và thấp nhất là 7,7m (1971) so với mực nước biển Ngoài sông Đà khu vực
Ba Vì không có sông, hầu hết các suối đều nhỏ dốc, sông Đà rộng cùng với hệ suối khá dày như suối ổi, suối Ca, suối Mít, suối Xoan thường xuyên cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân quanh vùng Bên cạnh còn có các
hồ chứa nước nhân tạo như hồ suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ Hóoc cua và các hồ chứa nước khác vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung cấp cho hàng chục ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân Đồng thời, tạo nên không gian cảnh quan đa dạng cho vùng Nguồn nước ngầm trong khu vực tương đối dồi dào, ở sườn Đông cũng dồi dào hơn bên sườn Tây do lượng mưa lớn hon và địa hình đỡ dốc hơn
3.1.5 Hệ sinh thái khu vực
Ba Vì đã phát hiện và giám định được tên cho : 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch