Lời cam đoan Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: "Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
ĐẤT DỐC TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60020115
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Đức Thuận
HÀ NỘI-2014
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: "Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của
phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên " là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chính xác Luận văn sử dụng một số thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, các thông tin này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc trích dẫn
Hà Nội, ngày 02 tháng 04 năm2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Phi Thanh
Trang 3Lời cảm ơn
Hoàn thành luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế của mình ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của rất nhiều cá nhân và tập thể
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo hướng dẫn, Tiến sỹ Đinh Đức Thuận đã chỉ dẫn tận tình và dành nhiều thời gian quý báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô trong khoa Kinh tế Nông nghiệp, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong các bước tiến hành luận văn, đóng góp những ý kiến rất bổ ích cho sự thành công của luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn ông Mai Xuân Chi, phó trưởng phòng Kinh
tế huyện Điện Biên Đông, phòng Thống kê và phòng Kế hoạch huyện Điện Biên Đông, UBND xã Keo Lôm, UBND xã Na Son và các hộ nông dân tại hai
xã điều tra đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới bạn bè, gia đình, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Hà Nội, ngày 02 tháng 04 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Phi Thanh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị x
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.2.1 Mục tiêu chung: 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 3
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 3
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: 4
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ CỦAPHƯƠNG THỨC TRỒNG NGÔ TRÊN ĐẤT DỐC 5
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 5
1.1.2 Một số đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản xuất ngô trên đất dốc 11
1.1.3 Đất dốc 13
1.1.4 Khái niệm và vai trò của vật liệu che phủ trên đất dốc 15
1.1.5 Phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc 18
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 19
1.2.1 Phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc ở một số nước trên thế giới 19
1.2.2 Phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc ở Việt Nam 21
Trang 51.2.3 Những công trình nghiên cứu phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu
che phủ trên đất dốc ở Việt Nam 23
CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 26
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 57
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 57
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 57
2.2.3 Phương pháp điều tra thực nghiệm tại hiện trường 59
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 59
2.3 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU CỦA PHƯƠNG THỨC TRỒNG NGÔ CÓ SỬ DỤNG VẬT LIỆU CHE PHỦ TRÊN ĐẤT DỐC 60
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 63
3.1 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NGÔ VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA PHƯƠNG THỨC TRỒNG NGÔ TRUYỀN THỐNG TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG 63
3.1.1 Tình hình bố trí các loại cây trồng chính trên đất dốc 63
3.1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng ngô tại huyện Điện Biên Đông và của các nhóm hộ tại 2 xã điều tra 65
3.1.3 Đầu tư chi phí sản xuất ngô theo phương thúc truyền thống 68
3.1.4 Hiệu quả kinh tế sản xuất ngô theo phương thúc truyền thống 70
3.2 HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA PHƯƠNG THỨC TRỒNG NGÔ CÓ SỬ DỤNG VẬT LIỆU CHE PHỦ TRÊN ĐẤT DỐC TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG 73
3.2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng của phương thức trồngngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông và các nhóm hộ tại 2 xã điều tra 73
Trang 63.2.2 Đầu tư chi phí của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ
trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông 77
3.2.3 Hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông 80
3.3 ƯU ĐIỂM, NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG THỨC TRỒNG NGÔ CÓ SỬ DỤNG VẬT LIỆU CHE PHỦ TRÊN ĐẤT DỐC TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG 90
3.3.1 Ưu điểm của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông 90
3.3.2 Nhược điểm của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông 93
3.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông 94
3.4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HQKT CỦAPHƯƠNG THỨC TRỒNG NGÔ CÓ SỬ DỤNG VẬT LIỆU CHE PHỦ TRÊN ĐẤT DỐC TẠI HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG 95
CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
4.1 KẾT LUẬN 104
4.2 KIẾN NGHỊ 106
Danh mục các tài liệu tham khảo 109
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Hiệu quả của vật liệu che phủ đến năng suất cây ngô 16
xói mòn 16
trên đất dốc 17Bảng 1.4: Diện tích phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên thế giới 17Bảng 2.1: Đặc điểm thời tiết khí hậu của tỉnh Điện Biên năm 2012 29Bảng 2.2: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Điện Biên Đông qua 3 năm
2010 - 2012 31Bảng 2.3: Tình hình cơ cấu các dân tộc trong huyện Điện Biên Đông 37Bảng 2.4: Tình hình nhân khẩu lao động của huyện Điện Biên Đông qua 3 năm 2010 - 2012 39Bảng 2.5: Cơ sở vật chất chủ yếu của huyện Điện Biên Đông năm 2013 40Bảng 2.6: Kết quả sản xuất ngành trồng trọt của huyện Điện Biên Đông qua 3 năm 2010 - 2012 44
2015 - 2020 47Bảng 2.8: Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi của huyện qua 3 năm 48Bảng 2.9:Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Điện Biên Đông qua 3 năm
2010 – 2012 50Bảng 2.10: Tình hình cơ bản của 2 xã điều tra năm 2013 52Bảng 2.11: Tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra năm 2013 54Bảng 2.12: So sánh hiệu quả kinh tế giữa phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ và phương thức truyền thống trên đất dốc 61
3 năm 2010 - 2012 64
Trang 9Bảng 3.2: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô qua3 năm 2010 - 2012 67
xã điều tra năm 2013 68Bảng 3.4: Đầu tư chi phí cho sản xuất ngô tại hai xã điều tra năm 2013 70
nhóm hộ điều tra 71
xã điều tra 72Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế sản xuất ngô theo phương thức truyền thống tại các nhóm hộ điều tra 74
dụng vật liệu che phủ qua 3 năm 75
năm 2013 76Bảng 3.10: Đầu tư chi phí cho sản xuất ngô tại hai xã điều tra năm 2013 79Bảng 3.11: Đầu tư chi phí sản xuất của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ tại các nhóm hộ điều tra 80Bảng 3.12: Hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ tại 2 xã điều tra năm 2013 81Bảng 3.13: Hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ của nhóm hộ điều tra năm 2013 83Bảng 3.14: So sánh kết quả và hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô truyền thống và phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ giữa các
xã điều tra năm 2013 85Bảng 3.15: Kết quả và hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô truyền
hộ điều tra năm 2013 86
Trang 10Bảng 3.16: Hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô có sử dụng một số
hộ điều tra 88Bảng 3.17: Kết quả và hiệu quả kinh của phương thức trồng ngô có sử dụng một số loại vật liệu che phủ khác nhau so với phương thức truyền thống tại các nhóm hộ điều tra 90
giữa hai phương thức 94
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Điện Biên Đông 27
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu đất đai của huyện Điện Biên Đông 32
Biểu đồ 2.2: Tốc độ phát triển sản xuất bình quân 3 năm 51
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành trong huyện 51
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu diện tích các loại cây trồng cạn trong huyện các nhóm hộ điều tra năm 2013 65
Trang 12PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đồi núi (đất dốc) chiếm trên 3/4 diện tích trong tổng số 32,929 triệu
ha đất tự nhiên của Việt Nam và là địa bàn cư trú của 28 triệu người của 54 dân tộc anh em, phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số Đất đai đồng bằng ưu tiên cho việc đảm bảo lương thực, thực phẩm đã khai thác gần tới hạn Do vậy, việc phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tiếp theo phải dựa vào quản lý canh tác đất đồi núi vốn giàu tiềm năng nhưng cũng bị thoái hóa trầm trọng trở thành đất trống đồi núi trọc đặc thù Do hậu quả của việc du canh du cư cùng với việc khai thác rừng làm rẫy một cách tự phát, với tác nhân rửa trôi xói mòn của thiên nhiên đã làm cho tầng đất mặt ở vùng đất đồi núi, nơi có độ dốc cao ngày càng bị cạn kiệt, nhiều nơi đã bị trơ sỏi đá, lớp thực vật che phủ chỉ còn các cây bụi và cỏ dại thưa thớt
Việc nghiên cứu phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc không chỉ có ý nghĩa góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất này mà còn bảo vệ môi trường để phát triển bền vững Vì vậy, phương thức trồng ngô
có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc đã và đang được nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm nhằm có những giải pháp canh tác hợp lý diện tích đất đồi núi đã bị thoái hóa do tác động của thiên nhiên, con người Cây ngô là nguồn thu nhập rất quan trọng, đặc biệt là của đồng bào H’mông và các dân tộc sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa Theo TS Lê Quốc Doanh thì ở miền núi phía Bắc Việt Nam có tới 62% hộ nông dân có thu nhập từ sản xuất ngô và bình quân cây ngô chiếm tới 15% thu nhập của họ [15] Trong những năm gần đây, nhờ có những thành tựu trong nghiên cứu và phát triển sản xuất ngô lai mà năng suất ngô tăng vọt (từ 2,1 tấn/ha năm 1995 lên 4,5 tấn/ha năm 2006)[14] Cùng với sự ổn định về thị trường, vai trò kinh
Trang 13tế của cây ngô ngày càng trở nên quan trọng hơn.Đây là điều đáng mừng vì cây ngô đã đóng góp nhiều trong việc cải thiện đời sống nông dân miền núi Tuy nhiên, một khi tiềm năng năng suất cây ngô đã đạt đến mức trần thì lãi suất thực sẽ giảm Nguyên nhân là do nông dân chỉ quan tâm sử dụng giống mới và tăng hàm lượng phân hóa học với giá khá đắt mà không sử dụng nguồn vật liệu rẻ tiền và sẵn có của địa phương như các loài cây phân xanh, phân hữu cơ hoặc tàn dư cây trồng để làm vật liệu che phủ
Sử dụng vật liệu che phủ trong sản xuất có tác dụng bảo vệ đất chống xói mòn và nâng cao độ mùn cho đất, làm cho đất màu mỡ hơn, kiểm soát cỏ dại, giữ nước, tăng cường sức chống chịu của cây trồng đối với sâu bệnh, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng, tăng thu nhập cho người dân và không gây ô nhiễm môi trường sinh thái
Huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên là một huyện điển hình canh tác trên đất dốc ở vùng Tây Bắc Phần lớn diện tích đất ở đây là đất dốc với tầng đất canh tác dày do cộng đồng người Thái và người H’mông sử dụng Cây trồng trong hệ thống chủ yếu là ngô và lúa nương Phương thức trồng ngô ở đây là dọn sạch và đốt mọi tàn dư thực vật trước khi gieo trồng, mặt đất không được che phủ Vì thế lượng chất hữu cơ bề mặt bị xói mòn và rửa trôi sau những trận mưa là rất lớn, làm suy thoái đất, giảm năng suất dẫn đến hiệu quả thu lại từ cây ngô không cao
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên” làm
luận văn nghiên cứu của mình
Trang 141.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc, đề tài sẽ đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất ngô trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về HQKT của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc
+ Đánh giá được hiện trạng của sản xuất ngô và phân tích hiệu quả kinh
tế sản xuất ngô theo phương thức truyền thống tại huyện Điện Biên Đông + Đánh giá và phân tích được hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Phương thức và hiệu quả kinh tế của sản xuất ngô truyền thống trên đất dốc của các hộ nông dân
+ Phương thức và hiệu quả kinh tế của sản xuất ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc của các hộ nông dân
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Đề tài được triển khai nghiên cứu trên địa bàn huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
Trang 15+ Phạm vi về thời gian: Thực hiện đề tài thông qua thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu qua 3 năm từ 2010 - 2012 và số liệu điều tra năm 2013
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
+ Lý luận về hiệu quả kinh tế
+ Cơ sở lý luận và thực tiễn về HQKT của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc
+ Hiện trạng của sản xuất ngô và phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất ngô theo phương thức truyền thống tại huyện Điện Biên Đông
+ Hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông
+ Một số giải pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc tại huyện Điện Biên Đông
Trang 16CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ CỦA
PHƯƠNG THỨC TRỒNG NGÔ TRÊN ĐẤT DỐC
- Quan điểm thứ nhất cho rằng HQKT được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra (các nguồn nhân, tài, vật, lực, tiền vồn) để đạt kết quả đó
Đại diện cho hệ thống quan điểm này, Culicốp cho rằng: “Hiệu quả sản
xuất là tính kết quả của một nền sản xuất nhất định Chúng ta sẽ so sánh kết quả với chi phí cần thiết để đạt kết quả đó Khi lấy tổng sản phẩm chia cho vốn sản xuất chúng ta được hiệu xuất vốn, tổng sản phẩm chia cho số lao động được hiệu suất lao động [16] Tác giả Trần Đức cho rằng HQKT là:
“Quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí của nền sản xuất xã hội, phạm trù
HQKT thể hiện phương pháp và chất lượng kinh doanh vốn có của một phương thức sản xuất nhất định” [17], đó là sự so sánh về số lượng, giữa kết
quả sản xuất với chi phí sản xuất Một số ý kiến khác cũng xác định theo góc
Trang 17độ toán học: Biểu hiện của hiệu quả như là tỷ lệ của các kết quả có thể đo được hoặc so sánh được của nền sản xuất xã hội với các chi phí có thể tính toán được
- Quan điểm thứ hai cho rằng HQKT được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó
Thể hiện quan điểm này, có tác giả nêu khái niệm chung nhất của HQKT là đại lượng thu được của hiệu số giữa kết quả thu được và hao phí (chi phí bỏ ra) để thực hiện mục tiêu đó
HQKT = Kết quả sản xuất - Chi phí
Tác giả Đỗ Thịnh nêu quan điểm: “Thông thường hiệu quả được biểu
hiện như một hiệu số giữa kết quả và chi phí … Tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa Do vậy, một cách linh hoạt và rộng rãi hơn nên hiểu hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp mong muốn” [18]
- Quan điểm thứ ba: Xem xét HQKT trong phần biến động giữa chi phí
và kết quả sản xuất
Theo quan điểm này, HQKT biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí, hay quan hệ tỷ lệ giữa kết quả bổ xung và chi phí bổ xung
Một số ý kiến chú ý đến quan hệ tỷ lệ giữa mức độ tăng trưởng kết quả sản xuất với mức độ tăng trưởng chi phí của nền sản xuất xã hội
HQKT =
: Phần tăng thêm của kết quả sản xuất
: Phần tăng thêm của chi phí sản xuất
Ngoài ra còn có ý kiến, quan điểm nhìn nhận HQKT trong tổng thể
Trang 18kinh tế - xã hội Theo L.N Carirốp: “Hiệu quả của sản xuất xã hội được tính
toán và kế hoạch hoá trên cơ sở những nguyên tắc chung đối với nền kinh tế quốc dân bằng cách so sánh các kết quả của sản xuất với chi phí hoặc nguồn dữ trữ đã sử dụng” Theo Anghlốp thì: “HQKT xã hội là sự tương ứng giữa kết quả
xã hội được khái quát trong khái niệm rộng hơn - sự tăng lên phần thịnh vượng cho những người lao động với mức tăng hao phí để nhận kết quả này”
+ Đối với Chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường tuân theo quy luật kinh
tế cơ bản nhằm thu được lợi nhuận tối đa cho từng doanh nghiệp thì HQKT chủ yếu được đánh giá bằng những chỉ tiêu phản ánh lợi ích kinh tế của từng doanh nghiệp
+ Trong nền kinh tế quản lý theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp (mô hình các nước xã hội chủ nghĩa trước đây) lấy mục tiêu số một là đáp ứng nhu cầu vật chất của xã hội, coi HQKT của sản xuất trước hết là năng lực sản xuất và cung ứng vật chất cho xã hội của từng cơ sở sản xuất
+ Ngày nay, nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới tạo điều kiện cho thành phần chủ yếu của các doanh nghiệp tư nhân phát triển trong cơ chế thị trường, nhưng luôn có sự can thiệp, điều chỉnh của Nhà nước để đáp ứng yêu cầu của thể chế chính trị kinh tế và xã hội hiện tại Ở Việt Nam, Nghị quyết Đại hội VIII Đảng Cộng sản Việt Nam xác định nền kinh tế hiện nay sẽ có nhiều thành phần tham gia và quản lý theo “cơ chế thị trường có định hướng
xã hội chủ nghĩa” cũng là xu hướng đó
Do vậy, khái niệm về HQKT ở các nền kinh tế khác nhau sẽ không đồng nhất Tùy điều kiện và mục đích của từng đơn vị sản xuất cũng như yêu cầu đặt ra của xã hội mà khái niệm HQKT được phát biểu theo giác độ khác nhau Như vậy, tiêu chuẩn của HQKT thể hiện ở trình độ đáp ứng yêu cầu của xã hội Nó cũng không chỉ dừng lại ở mức độ nào đó mà khoa học kinh tế còn phải có nhiệm vụ giải quyết cụ thể mức độ đáp ứng yêu cầu của
Trang 19quy luật cơ bản đó biểu hiện ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn phát triển kinh tế của từng nước
Nếu chỉ đánh giá HQKT ở khía cạnh lợi nhuận thuần tuý (kết quả sản xuất - chi phí) thì chưa xác định được năng suất lao động xã hội và so sánh khả năng cung cấp của cải vật chất cho xã hội của những cơ sở sản xuất đạt được hiệu số của kết quả sản xuất - chi phí như nhau
Tuy nhiên, nếu tập trung vào các chỉ tiêu chỉ số giữa kết quả sản xuất với chi phí hoặc vật tư và lao động đã sử dụng thì lại chưa toàn diện bởi lẽ chỉ tiêu này chưa phân tích được sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực
tự nhiên (đất đai, khí hậu, thời tiết …) Hai cơ sở sản xuất đạt được tỷ số trên như nhau nhưng ở những không gian và thời gian khác nhau thì tác động của nguồn lực tự nhiên là khác nhau và như vậy HQKT cũng sẽ không giống nhau Với quan điểm xem xét HQKT chỉ ở phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung thì chưa đầy
đủ Trong thực tế kết quả sản xuất đạt được luôn là hệ quả của cả chi phí sẵn có cộng chi phí bổ sung
Như vậy, HQKT của một hiện tượng (một quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, các nguồn lực
tự nhiên và phương thức quản lý Nó được thể hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu nhằm phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sản xuất phù hợp với yêu cầu xã hội
b Nội dung và bản chất của phạm trù HQKT
Sự phát triển của một nền kinh tế gắn liền với quá trình phát triển của khoa học kỹ thuật và việc áp dụng chúng vào sản xuất Việc vận dụng một cách thông minh các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất và phấn đấu đạt HQKT cao trong việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật là một tất yếu Điều đó lại càng
có ý nghĩa quan trọng và bức thiết với nền sản xuất ở nước ta HQKT được biểu
Trang 20hiện là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Bản chất của HQKT xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp ứng ngày càng cao cho nhu cầu về vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Làm rõ vấn đề hiệu quả cần phân định sự khác nhau và mối liên hệ giữa "kết quả" và "hiệu quả" Công trình nghiên cứu của Farrell cũng đã thể hiện bản chất này của phạm trù HQKT Để giải thích cho lập luận này ông phân biệt HQKT gồm:
- Hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối
+ Hiệu quả kỹ thuật: là khả năng thu được kết quả sản xuất tối đa với những yếu tố đầu vào cố định
+ Hiệu quả phân phối: là việc sử dụng các yếu tố đầu vào theo những tỷ
lệ nhằm đạt lợi nhuận tối đa khi biết cụ thể các giá trị đầu vào
HQKT = Hiệu quả kỹ thuật x Hiệu quả phân phối [18]
- Tiêu chuẩn để đánh giá HQKT
Đây là một vấn đề phức tạp và còn nhiều ý kiến chưa được thống nhất Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế đều cho rằng, tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá HQKT là mức độ đáp ứng nhu cầu của xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các tài nguyên Tiêu chuẩn HQKT là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá HQKT trong những điều kiện cụ thể một giai đoạn nhất định Tuỳ theo nội dung của hiệu quả mà có tiêu chuẩn đánh giá HQKT cũng khác nhau [18]
c Phân loại HQKT
* Phân loại theo nội dung, bản chất
HQKT là một phạm trù kinh tế - xã hội Có thể phân biệt 3 phạm trù riêng biệt: HQKT, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế - xã hội Ba phạm trù này khác nhau về phạm vi, nội dung nhưng lại có quan hệ tác động qua lại
Trang 21biện chứng và gắn bó chặt chẽ với nhau
- HQKT: thể hiện mối tương quan giữa kết quả đạt được về mặt kinh tế
và chi phí bỏ ra để đạt hiệu quả đó
- Hiệu quả xã hội: xem xét mức độ tương quan giữa các kết quả đạt được về mặt xã hội (cải thiện điều kiện lao động, nâng cao đời sống văn hoá, vật chất và tinh thần, tạo ra các mối quan hệ lành mạnh, giải quyết công ăn việc làm …) và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó
- Hiệu quả kinh tế - xã hội: là phản ánh mối tương quan giữa các kết quả đạt được tổng hợp ở các lĩnh vực kinh tế và xã hội với các chi phí đã bỏ
ra để đạt kết quả đó
Như vậy, xét cho cùng thì HQKT là trọng tâm và quyết định nhất, HQKT được đánh giá đầy đủ nhất khi có sự kết hợp hài hoà với hiệu quả xã hội
* Phân loại theo phạm vi và đối tượng xem xét
Phạm trù này được đề cập đến mọi đối tượng của nền sản xuất xã hội như các địa phương, các ngành sản xuất, từng cơ sở, đơn vị sản xuất đến một phương án sản xuất hay một quyết định quản lý… Như vậy, cũng cũng có thể phân chia phạm trù HQKT theo phạm vi và đối tượng xem xét:
- HQKT quốc dân: là HQKT tính chung trong toàn bộ nền sản xuất -
xã hội
- HQKT ngành: tính riêng của từng ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp… Trong từng ngành lại chia nhỏ như ở nông nghiệp chia thành HQKT ngành cây lúa, ngành cà phê, ngành chăn nuôi gà, lợn…
- HQKT theo vùng lãnh thổ: tính riêng cho từng vùng, từng tỉnh, từng huyện…
- HQKT của từng quy mô tổ chức sản xuất - kinh doanh như hộ gia đình, Hợp tác xã, nông trường …
Trang 22- HQKT của từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố chi phí đầu tư vào sản xuất như biện pháp làm đất, chi phí phân bón, chi phí BVTV…
1.1.2 Một số đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản xuất ngô trên đất dốc
Cây ngô có nguồn gốc từ Mêxicô, trải qua 700 năm tiến hoá và phát triển qua quá trình chọn lọc tự nhiên và nhân tạo Cây ngô có sự đa dạng di truyền và khả năng thích ứng ở nhiều vùng, nhiều khu vực khác nhau Ngô có tên khoa học là Zeamays L do nhà thực vật học Thụy Điển Linnaeus đặt theo tên kép Hy Lạp – Latinh: Zea – từ Hy Lạp để chỉ cây ngũ cốc và Mays là từ
‘‘Maihs’’ tên gọi cây ngô của người bản địa da đỏ [2] Hiện nay, trong nền sản xuất nông nghiệp thì cây ngô được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới
1.1.2.1 Đặc điểm kinh tế của cây ngô
Cây ngô là cây lương thực có giá trị Trong ngô có nhiều chất dinh dưỡng với hàm lượng cao Những bộ phận chính của hạt ngô có thành phần hoá học khác nhau: vỏ hạt có có lượng chất xơ thô cao 87%, phôi nhũ chứa hàm lượng tinh bột khoảng 87.6%, prôtít 26% và phôi có hàm lượng dầu cao thô cao, trung bình khoảng 33% Lượng tinh bột và prôtít của hạt ngô có chủ yếu trong phôi còn chất xơ thô trong hạt phân bố chủ yếu ở vỏ hạt Sự phân
bố trọng lượng trong các bộ phận của hạt ngô, thành phần hoá học đặc biệt của chúng và giá trị dinh dưỡng là rất quan trọng trong việc chế biến ngô Do
đó, ngô là nguồn lương thực quan trọng, đặc biệt nó cung cấp bữa ăn hàng ngày cho những người dân nghèo ở nông thôn và miền núi
Ngô là cây lương thực ngắn ngày, có tính thời vụ, hạt ngô có tỷ trọng hàm lượng nước cao Do vậy, cần bố trí mùa vụ thích hợp và phơi sấy chế biến hợp lý để nâng cao hiệu quả kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh
- Khi xem xét đến giá trị kinh tế thì cây ngô là loại cây có giá trị kinh tế
đứng thứ ba sau cây lúa nước và cây lúa mì Sở dĩ cây ngô có vị trí như vậy là
Trang 23do nó có những ưu điểm như năng suất cao, khả năng thích ứng rộng và có nhiều công dụng, sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, chế biến thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp Ngoài ra, cây ngô còn là loại hạt cốc dễ tiêu hoá, nhiều thành phần trong hạt với hàm lượng chất dinh dưỡng cao Đặc biệt ngô là loại hạt cốc dễ bảo quản, dễ chế biến Từ ngô người ta đã sản xuất ra khoảng 670 mặt hàng khác nhau của các ngành công nghiệp, lương thực thực phẩm
Ngô là mặt hàng xuất khẩu có giá trị của nhiều quốc gia Quốc gia có lượng ngô xuất khẩu lớn nhất trên thị trường thế giới là Mỹ, chiếm khoảng 60%, sau đó là Trung Quốc 10 % và tiếp theo là Achentina, Pháp, Nam Phi, Thái Lan [19],[12]
Hiện nay ngô là nguồn tạo thu nhập hiệu quả Ngô đã và đang đóng góp nuôi sống gần 1/3 dân số thế giới và là phương tiện hữu hiệu cho việc đa dạng hoá và nâng cao tính bền vững của mùa vụ gieo trồng Vì vậy, phát triển sản xuất kinh doanh cần chú ý đến giá trị kinh tế và tăng cường công nghiệp chế biến để nâng cao hiệu quả kinh tế của ngô
- Cây ngô ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế còn có ý nghĩa về mặt xã hội Hiện nay, nhu cầu về cây lương thực của các nước đang phát triển tăng nhanh
do sức ép tăng dân số đã làm cho diện tích trồng ngô tăng mạnh ở khu vực này trong mấy thập kỷ qua Ở nhiều nước, cây ngô góp phần quan trọng vào
an ninh lương thực, tạo thu nhập cho cộng đồng dân cư nghèo Ở Việt Nam, một số nơi đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc cây ngô không chỉ là nguồn lương thực quan trọng mà còn là cây xoá đói giảm nghèo
1.1.2.2 Đặc điểm kỹ thuật của cây ngô
- Nhiệt độ là yếu tố khí tượng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của cây ngô Cây ngô là cây trồng khí hậu ấm, nhiệt độ yêu cầu từ khi trồng đến khi phun râu, suốt thời kỳ nảy mầm thích hợp vào khoảng 18,30C Nếu nhiệt độ quá thấp (dưới 120C) dẫn đến giảm năng suất
Trang 24- Bên cạnh nhiệt độ thì chế độ ánh sáng cũng là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và thời gian sinh trưởng của cây ngô Vào thời kỳ mọc đến khi hình thành bắp cây ngô cần ánh sáng dài ngày để tiến hành quang hợp và tích luỹ dinh dưỡng, đồng thời để trỗ cờ và đóng bắp
Trong các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây ngô thì yêu cầu
về nhiệt độ, ánh sáng, lượng nước, chế độ không khí, dinh dưỡng và quá trình chăm sóc cũng khác nhau
- Ngô là cây trồng cạn, bộ rễ phát triển rất mạnh nên có khả năng hút nước khoẻ hơn nhiều cây khác Tuy nhiên, cây ngô sinh trưởng nhanh và tạo
ra một lượng sinh khối lớn nên ngô cần một lượng nước lớn Một ha ngô cần
nước 1 vụ/ha)[2],[12]
- Do ngô là cây phàm ăn và có thể trồng trên các loại đất có các đặc tính lý hoá học khác nhưng muốn cho ngô đạt năng suất cao phải trồng ngô trên các loại đất giàu dinh dưỡng Do vậy, khi tiến hành trồng ngô chúng ta phải hiểu rõ nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô và đặc điểm của từng loại đất để xây dựng chế độ bón phân thích hợp
Ngô có tiềm năng cho năng suất cao vì vậy cần bón nhiều phân để duy trì các hoạt động sống và tạo năng suất Nếu ngô cho năng suất 10 tấn/ha thì 1
ha ngô phải lấy từ đất một lượng dinh dưỡng là 269 kg N, 111 kg P2O5, 229
kg K2O [2] Do vậy, căn cứ vào lượng dinh dưỡng mà cây ngô lấy để bổ sung lại cho đất một lượng phân tương ứng nhằm đảm bảo độ phì cho đất
1.1.3 Đất dốc
Đất dốc là hợp phần rất quan trọng trong quỹ đất của Việt Nam, chiếm trên 3/4 diện tích đất tự nhiên và được phân bố tập trung ở Bắc Bộ (8,923 triệu ha), Trung Bộ (4,935 triệu ha), Tây Nguyên (5,509 triệu ha)[7] Đây là những vùng đất rất giàu tiềm năng để phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh
Trang 25chính trị và xã hội của nước ta Tuy nhiên, do địa hình phân cắt mạnh, môi trường sinh thái rất nhạy cảm, lớp thực bì bị xâm hại nhiều nên xói mòn rửa trôi diễn ra nghiêm trọng Hầu hết diện tích đất dốc bị thoái hóa và bị chua, nhiều diện tích bị bỏ hoang hóa vì mất khả năng sản xuất nông lâm nghiệp Đây thực sự là điều khó khăn để tạo ra một nền nông nghiệp bền vững trên đất dốc [20]
Đất dốc Việt Nam rất đa dạng, ngay trên một diện tích hẹp đã có sự sai khác lớn về độ dốc, bề dày tầng canh tác, độ phì nhiêu tiềm tàng cũng như độ phì nhiêu thực tế
Về độ dốc :Đất có độ dốc < 150 chiếm 21,9% diện tích, đất có độ dốc từ
150- 250 chiếm 16,4% diện tích và đất có độ dốc > 250 chiếm 61,7% diện tích
Toàn bộ diện tích đất có độ dốc < 250 đã được khai phá hết để sử dụng cho nông nghiệp và nông lâm kết hợp
Điểm nổi bật và cũng là xu thế của nhiều vùng đất dốc chính là sự thoái hóa đất Nhìn chung, sự thoái hóa đất xảy ra là do ảnh hưởng của các quá trình sau :
- Sự giảm các chất dinh dưỡng nói chung và giảm hàm lượng hữu cơ trong đất nói riêng do khoáng hóa mạnh, xói mòn đất và rửa trôi
- Sự thoái hóa cấu tượng đất, đất bị nén chặt, trơ, cứng, không thấm nước Đây là những điều kiện vật lý không thuận lợi cho cây trồng Vì những hiện tượng trên mà vùng đất dốc đầy tiềm năng của Việt Nam và là địa bàn cư trú của hơn 28 triệu người từ 54 dân tộc khác nhau vẫn là vùng chậm phát triển, đời sống nông dân còn rất nhiều khó khăn, kinh tế nghèo nàn, văn hóa
thấp và hệ sinh thái mỏng manh rất dễ bị tổn thương đang bị đe dọa
Trang 261.1.4 Khái niệm và vai trò của vật liệu che phủ trên đất dốc
1.1.4.1 Khái niệm về vật liệu che phủ trên đất dốc
Vật liệu che phủ: là các loài cỏ dại, các loài cây dại như cỏ tranh, cỏ lào (Choromolaena odorata), cúc đắng và các cây họ đậu hoang dại sẵn có của địa phương, thân lá cây ngô, lúa sau thu hoạch
1.1.4.2 Vai trò của vật liệu che phủ trên đất dốc
Sản xuất ngô bền vững trên đất dốc là cải thiện và giữ gìn đất Biện pháp rẻ tiền và đa dạng nhất là tái sử dụng tàn dư cây trồng làm vật liệu che phủ [3] Sử dụng vật liệu che phủ để che phủ bề mặt đất và tính liên tục của lớp phủ bề mặt là hai yếu tố cơ bản để phát triển canh tác bền vững trên đất
dốc Cụ thể, sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên đất dốc có những vai trò như sau :
- Giảm xói mòn do mưa và gió; làm cho đất tơi xốp, tăng độ hấp thu
nước của đất, giảm dòng chảy bề mặt; giảm bốc hơi, tăng ẩm độ đất; dung hòa nhiệt độ bề mặt đất; tăng độ pH; chống kết vón và đóng váng bề mặt đất; giảm cỏ dại, tăng hiệu quả phân bón; giảm đầu tư: công làm cỏ, làm đất, phân bón; tăng hàm lượng chất hữu cơ cho đất; tạo điều kiện tốt cho hạt nảy mầm,
bộ rễ phát triển khỏe, cây sinh trưởng tốt; tăng và ổn định năng suất cây trồng
- Hạn chế du canh cải thiện nguồn tài nguyên đất, nước và rừng; chống
lắng đọng các lòng hồ, đặc biệt là hồ thủy điện; giảm lũ lụt ở miền xuôi; giảm
ô nhiễm hóa học ở các vùng lân cận; giảm lượng khí cacbonic thải vào không khí do đốt phá rừng, tàn dư thực vật; giảm nhu cầu sử dụng phân vô cơ, cũng
có nghĩa là giảm ô nhiễm nguồn nước, tiết kiệm năng lượng và giảm thải khí gây hiệu ứng nhà kính khi sản xuất ra chúng
Trang 27Bảng 1.1 : Hiệu quả của vật liệu che phủ đến năng suất cây ngô
(tấn/ha/vụ)
Nguồn: Dự án “Hệ thống nông nghiệp miền núi”, Bắc Kạn 2000 [4]
- Nhìn chung, phương thức sử dụng vật liệu che phủ đất mang lại nhiều lợi ích và đáp ứng được hầu hết các yêu cầu về sự bền vững trong canh tác đất dốc, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nông dân miền núi và bảo vệ môi trường
Bảng 1.2: Hiệu quả của vật liệu che phủ đến dòng chảy bề mặt
và lượng đất bị xói mòn
Lượng vật liệu
phủ(tấn/ha)
Dòng chảy bề mặt(%)
Những nghiên cứu về vai trò của vật liệu che phủ trên đất dốc trên thế giới cũng cho những kết quả tương tự Trong một nghiên cứu khác của Adeoye K.B ở Nigeria: che phủ cho ngô bằng cỏ dại có tác dụng làm giảm
Trang 28nhiệt độ đất ở giai đoạn cây con ở độ sâu 5 cm là 50 C so với không che phủ Năng suất ngô ở công thức che phủ bằng cỏ tăng trung bình 657 kg/ha so với không phủ [11]
1.1.4.3 Ưu điểm và nhược điểm của một số loại vật liệu sử dụng che phủ
Vật liệu che phủ là nhân tố tích cực góp phần làm tăng năng suất của cây ngô Hiện nay, người nông dân có thể sử dụng nhiều loại cây sẵn có của địa phương như: rơm rạ, thân lá ngô, cỏ dại, cỏ lào để làm vật liệu che phủ Tuỳ thuộc vào đặc tính của mỗi loại vật liệu che phủ mà có cách sử dụng cho
phù hợp với điều kiện của các hộ (xem bảng1.3)
Bảng 1.3: Ưu điểm và nhược điểm của một số loại vật liệu che phủ
cho ngô trên đất dốc
- Hệ thống đơn giản, dễ dàng thấy được tác dụng của các vật liệu che phủ (xói mòn, cỏ dại, các hoạt động sinh học trong đất )
- Bổ sung lượng mùn cho đất lớn
- Khả năng sẵn có của địa phương
- Lượng dinh dưỡng cho đất nhiều
- Kiểm soát cỏ dại
- Tốc độ phân huỷ nhanh
- Khó phủ đất đối với những cây già
- Cải tạo cấu trúc đất
trung bình
Nguồn: Dự án “Hệ thống nông nghiệp miền núi”, Bắc Kạn 2002 [4]
Trang 291.1.5 Phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc
- Chuẩn bị nương: Dọn sạch cỏ dại và tàn dư cây trồng vụ trước (làm
đất, cào sạch cỏ và giữ nguyên không đốt, sử dụng làm vật liệu phủ)
Chuẩn bị vật liệu phủ trước gieo 15 ngày
- Trong giai đoạn gieo trồng, nếu thiếu hoặc không có đủ vật liệu che phủ thì người dân có thể trồng trước phủ sau, khi đó cây ngô cao từ 15 cm đến
20 cm Lúc này là đầu mùa mưa nên nguồn vật liệu che phủ đất rất dồi dào
- Giống ngô: Giống ngô lai LVN 10 là giống ngô do Viện nghiên cứu
Ngô chọn tạo ra Thời gian sinh trưởng từ 115 - 120 ngày, tiềm năng năng suất từ 70 - 80 tạ/ha
- Thời vụ trồng Ở vùng núi Tây Bắc do điều kiện thời tiết khí hậu khắc
nghiệt nên ngô thường được gieo trồng giữa tháng 3 đầu tháng 4
Lượng giống: 25 kg/ha, gieo 2 hạt/hốc Mật độ khoảng cách giữa các cây là: 70 cm x 30 cm
- Kỹ thuật bón phân: Cây ngô có thời gian sinh trưởng dài nên phải bón
nhiều lần Lượng phân bón trên một ha là: 200 kg đạm Urê, 400 kg Lân và
120 kg Ka li
Cách bón: Bón lót toàn bộ phân lân + 1/3 lượng đạm Urê, bón ngay trước khi gieo Sau khi cây ngô được 3 - 4 lá thì bón thúc đợt 1gồm 1/3 lượng đạm Urê + 1/2 lượng Kali Khi cây ngô được 7-9 lá thì bón thúc đợt 2 gồm 1/3 lượng đạm Urê + 1/2 lượng Kali còn lại
- Chăm sóc và làm cỏ: Cần tỉa dặm cây sớm để đảm bảo mật độ và độ
đồng đều Chăm sóc, bón thúc vun cao gốc kết hợp với làm cỏ có tác dụng chống đổ, vùi phân và diệt cỏ dại
Trang 30- Phòng trừ sâu bệnh: Một số loại sâu thường gặp như: sâu sám, sâu
đục thân, rệp cờ, sâu cắn lá, bệnh khô vằn…nên dùng các loại thuốc bảo vệ thực vật như: Wofatox với nồng độ 5%, Puradan, Basa, Validacin
- Thu hoạch: Khi lá bi khô, hạt cứng tranh thủ nắng ráo thu hoạch ngay,
tránh cho hạt ngô bị ẩm ướt
có những bước tiến đáng kể Diện tích của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên toàn thế giới là 42,089 triệu ha [22]
* Ở các nước phát triển, nơi mà hiện nay phương thức trồng ngô có sử dụng sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc chiếm 88% diện tích trồng ngô trên thế giới Hiện nay, phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc ở các nước phát triển ngày càng có xu hướng mở rộng diện tích tăng lên do nhu cầu sử dụng ngô làm thức ăn cho gia súc và xuất khẩu Mỹ là nước đứng đầu về diện tích với 17 triệu ha, sau đó đến các nước như Brasil (13,499 triệu ha), Canada (6,5 triệu ha), Achentina (4,1 triệu ha) (xem bảng 2.4)[11]
* Ở các nước đang phát triển, đặc biệt là châu Á và châu Phi phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc chậm hơn so với các nước phát triển song diện tích trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ đã phát triển không ngừng (phương thức này chiếm 12% diện tích so với diện tích sử dụng vật liệu che phủ cho ngô trên thê giới) Nguyên nhân do phương thức
Trang 31trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc là một biện pháp rẻ tiền và
dễ thực hiện Thêm vào đó, do năng suất và sản lượng ngô tăng lên do sử dụng vật liệu che phủ nên đã kích thích người nông dân mở rộng diện tích gieo trồng Ngoài ra, sự gia tăng dân số ở nước châu Phi và cũng như một số nước châu Á đã thúc đẩy việc gia tăng diện tích áp dụng phương thức này cho sản xuất ngô để đảm bảo nhu cầu về lương thực
Cho đến nay, do thấy được hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường nên đã có rất nhiều quốc gia trên thế giới đưa phương thức trồng ngô này áp dụng vào trong sản xuất nông nghiệp
Bảng 1.4 Diện tích phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ
Nguồn: Hội nghị Quốc tế về NNBT lần 2, Iquasu, Brasil 2003 [11]
* Phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc ở một số nước trên thế giới
1 Brasil: Sau 23 năm áp dụng phương thức trồng ngô có sử dụng vật
liệu che phủ trên đất dốc cho thấy: diện tích phương thức trồng ngô có sử
Trang 32dụng vật liệu che phủ ở Brasil ngày càng được mở rộng dẫn đến sản lượng ngô đã tăng nhanh: năm 1980 là 20.372.000 triệu tấn đến năm 1992 là 30.506.000 triệu tấn và đến năm 2003 tăng lên 47.809.000 triệu tấn trong khi diện tích canh tác ngô tăng lên qua các năm từ 10.706.000 đến 13.499.000 ha
2 Mađagaxca: phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên
đất dốc bắt đầu được thử nghiệm ở Mađagaxca từ năm 1991 với diện tích là
200 ha Diện tích phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ không ngừng tăng lên và đến năm 2004 diện tích đã là 200 nghìn ha Bình quân năng suất đạt 3,2 tấn/ha với sản lượng tương ứng là 640 nghìn tấn
3 Mêxico: phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất
dốc có diện tích là 490.000 ha với năng suất bình quân đạt 3,4 tấn/ha, sản lượng 1.666.000 tấn Cho đến nay, phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc đã được áp dụng tại hầu hết các vùng của Mêxicô
Hiện nay, có rất nhiều nước thuộc vùng Đông Nam Á áp dụng phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc như: Indonesia, Thái Lan, Lào, Campuchia trong đó có Việt Nam
1.2.2 Phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc ở Việt Nam
Có thể thấy rằng tuy còn nhiều hạn chế, nhất là những khó khăn về đời sống, nhưng đồng bào các đân tộc miền núi rất nhạy cảm với tiến bộ khoa học mới Chỉ xét riêng lĩnh vực sản xuất ngô thì việc sử dụng vật liệu che phủ cho ngô đã có những thay đổi đáng kể trên cả phương diện về quy mô và sản lượng
Áp dụng phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc được dự án “Hệ thống nông nghiệp miền núi” của Trung tâm hợp tác quốc tế nghiên cứu Nông nghiệp phục vụ phát triển (CIRAD) kết hợp với Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam áp dụng vào sản xuất ngô ở
Trang 33nước ta từ năm 1999, cho đến nay đã có rất nhiều hộ nông dân ở các vùng, các địa phương khác nhau đã áp dụng Do đó, phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc có diện tích ngày càng được mở rộng, đặc biệt là ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên
Hiện nay, phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc ở Việt Nam có diện tích vào khoảng 1.000 ha Trong đó Sơn La là tỉnh có diện tích áp dụng phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốclà lớn nhất: 380 ha, Điện Biên 230 ha, Đắc Lắc 80 ha, … phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc đã mang lại năng suất cao
và thực sự đóng góp vào an ninh lương thực ở vùng cao, giúp nhiều hộ gia đình có thể xoá đói giảm nghèo
Điểm nổi bật nhất, gây ấn tượng nhất không chỉ với người trồng ngô
mà với nhiều nhà khoa học, các nhà quản lý đó là năng suất khi áp dụng phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc Trong những năm qua áp dụng phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc cho năng suất bình quân cao hơn so với không che phủ từ 1,5 đến 2 lần Bình quân năng suất đạt 3 - 5 tấn/ha Năm 2006 nhiều hộ gia đình đạt năng suất 6 - 7 tấn/ha (huyện Mai Sơn – tỉnh Sơn La, huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu) [22] Như vậy, áp dụng phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc cho năng suất cao và ổn định hơn so với phương pháp canh tác truyền thống không che phủ
Bên cạnh đó, mức tăng dân số ở khu vực trung du miền núi đang là áp lực đối với tài nguyên đất cũng như nhu cầu về lương thực Trong điều kiện diện tích đất bằng đã khai thác gần như tới hạn thì áp dụng phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên những vùng đất dốc sẽ mang tính chiến lược của nhiều tỉnh và địa phương Đây sẽ là nơi duy nhất có khả năng mở rộng diện tích áp dụng phương thức này cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là cây ngô, đồng thời cũng sẽ
Trang 34là nơi bảo vệ môi trường sống cho cộng đồng giúp cho cộng đồng phát triển nền nông nghiệp bền vững
1.2.3 Những công trình nghiên cứu phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc ở Việt Nam
Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu phương thức trồng ngô
có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc, song chủ yếu tập trung ở các nhà khoa học, các viện nghiên cứu Phần lớn các mô hình đều tập trung vào nghiên cứu các loại vật liệu che phủ khác nhau trên các loại địa hình độ dốc khác nhau để cho năng suất cao, bảo vệ môi trường và phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vừng
- Dự án: “Hệ thống nông nghiệp miền núi” ở Chợ Đồn - Bắc Kạn do Trung tâm hợp tác quốc tế nghiên cứu nông nghiệp phục vụ phát triển (CIRAD) tài trợ, đối tác là Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam (VASI) Dự án đi sâu vào nghiên cứu hiệu quả của các phương thức che phủ khác nhau như: che phủ bằng lớp phủ khô (các loại cỏ), lớp phủ sống (cây lạc dại, đậu mèo) và om đất Che phủ bằng đậu mèo cho năng suất cao nhất, trung bình 4,5 tấn/ha so với không che phủ là 3,12 tấn/ha
- Dự án: “Hệ thống nông nghiệp miền núi” ở Văn Chấn - Yên Bái do CIRAD và IRRI tài trợ, đối tác là Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp miền núi phía Bắc (NOMARC/VASI) Dự án đi sâu vào nghiên cứu hiệu quả của phương thức trồng ngô trên đất dốc sử dụng các loại vật liệu che phủ khác nhau ở những mức độ phủ khác nhau Kết quả cho thấy mỗi loại vật liệu che phủ khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau: che phủ bằng cây cỏ lào và cây đậu mèo sẽ cho năng suất cao hơn so với các loại vật liệu che phủ khác Mặt khác, ở nhũng mức độ che phủ khác nhau cũng cho năng suất khác nhau: với mức phủ từ 5 - 7 tấn vật liệu che phủ/ha sẽ cho năng suất cao hơn so với các
Trang 35mức phủ ít hơn và nếu phủ quá khối lượng trên thì cũng không tốt làm ảnh hưởng đến năng suất cây trồng
- Dự án phát triển nông thôn Sơn La - Lai Châu do cộng đồng chung Châu Âu tài trợ, đối tác là Sở nông nghiệp tỉnh Điện Biên, Sơn La và Lai Châu Dự án đã đưa ra các phương thức trồng ngô sử dụng các loại vật liệu che phủ khác nhau trên đất dốc như che phủ bằng rơm rạ, phủ sống bằng cây đậu mèo, lạc dại và che phủ ở các độ dốc khác nhau Kết quả cho thấy phương thức trồng ngô có sử dụng các loại vật liệu che phủ cho năng suất cao
và ổn định, chống sói mòn, giữ độ ẩm cho đất Do vậy đã được người dân tiếp nhận với diện tích ngày càng được mở rộng
- Chương trình: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cây trồng bền vững trên đất dốc” do Viện nghiên cứu nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (NOMASI) thực hiện tại các tỉnh Tây Nguyên Chương trình nghiên cứu đưa
ra các hệ thống cây trồng có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc như: cây cao su, cây ngô và cây cà phê Đồng thời cũng cho biết sử dụng vật liệu che phủ cho các loại cây này đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với không che phủ [23]
- Chương trình: “Nghiên cứu sự đa dạng sinh thái vùng cao” do Viện nghiên cứu nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc (NOMAFSI) thực hiện tại các tỉnh Miền núi phía Bắc
- Đề tài: Nghiên cứu giải pháp tổng hợp phát triển ngô bền vững trên đất dốc vùng miền núi phía Bắc Chủ nhiệm: PGS.TS Lê Quốc Doanh Thời gian: 2011 – 2013
- Dự án hợp tác với Đại học Queensland – Uc: “Cải thiện các hệ thống sản xuất nông nghiệp và liên kết thị trường nông sản ở vùng cao Tây Bắc Việt
Trang 36Nam” Chủ nhiệm dự án: Ông David Shearer - PGS TS Lê Quốc Doanh Thời gian: 2009 – 2013
Nhìn chung, có rất nhiều công trình nghiên cứu phương thức trồng ngô
có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc, song các công trình nghiên cứu này mới chỉ tập trung giải quyết các vấn đề kỹ thuật như: kỹ thuật phủ, độ dày của lớp phủ, các loại vật liệu che phủ và triển khai mở rộng diện tích Rất ít các công trình nghiên cứu đề cập đến đánh giá hiệu quả của vật liệu che phủ Do vậy, qua nghiên cứu đề tài này chúng tôi hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm về hiệu quả kinh tế của phương thức trồng ngô có sử dụng vật liệu che phủ trên đất dốc so với phương thức trồng ngô truyền thống
Trang 37
CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
La, phía Tây giáp huyện Điện Biên và tàn phố Điện Biên Phủ tỉnh Điện Biên (xem bản đồ 1)
2.1.1.2 Khí hậu thời tiết
Điện Biên Đông thuộc vùng khí hậu nhiệt đới núi cao Tây Bắc, do nằm khuất xa sườn Tây dãy Hoàng Liên Sơn nên khí hậu ở đây có một số đặc điểm khác biệt rõ rệt so với vùng Đông Bắc và Đồng Bằng Một năm có hai mùa: mùa Đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và mùa hè từ tháng 4 đến tháng
10 hàng năm, khí hậu nóng mưa nhiều, thường gây lũ lụt, sạt lở, ít bão
Trang 38Hình 1: Bản đồ hành chính huyện Điện Biên Đông
Trang 39- Nhiệt độ: trung bình của cả năm là 22,680C, nhiệt độ tối cao là 290C, nhiệt độ tối thấp là 17,80C Mùa đông rét đậm có thể xuống tới 2 - 30C và vào tháng 4 đến tháng 6 thường xuất hiện gió Lào nóng và khô hanh Những ngày
khô héo
- Lượng mưa trung bình của cả năm là 1.576 mm nhưng phân bố không đều Chế độ mưa cũng phân thành hai mùa: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm chiếm tới 80% lượng mưa của cả năm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 9 với khoảng 150 ngày thường gây ra những trận mưa lớn đầu mùa làm xói mòn rửa trôi đất rất lớn và lụt lội Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 20% của cả năm Tuy nhiên với điều kiện thời tiết như vậy thì đối với phát triển sản xuất cây ngô cũng gặp tương đối khó khăn do điều kiện khí hậu thuận lợi cho sâu bệnh phát triển
- Độ ẩm bình quân khoảng 84,94%/năm
- Số giờ nắng trung bình: 1.926 giờ/năm Số giờ nắng quá ít hay quá nhiều cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trồng
- Sương mù: trung bình mỗi năm có 103 ngày sương mù (thường diễn
Trang 40Bảng 2.1: Đặc điểm thời tiết khí hậu của tỉnh Điện Biên năm 2012