Các sự so sánh giá trên thu nhập là những ví dụ về việc sử dụng các tỷ lệ tài chính.Nhưng chúng ta sẽ thấy trong chương này, có 1 loạt các chỉ số tài chính, tất cả đượcthiết kế để tóm tắ
Trang 1BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ KẾ HOẠCH TÀI CHÍNH DÀI HẠN Chương 3: LÀM VIỆC VỚI BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Giá cổ phần của cổ phiếu phổ thông trong xí nghiệp sản xuất máy kéo John Deere kếtthúc ở khoảng 89$ vào 21/1/2011 Ở mức giá đó, John Deere có hệ số giá trên thunhập một cổ phiếu (PE) là 21 Điều đó có nghĩa là nhà đầu tư sẵn sàng trả 21$ cho mỗidollar trong thu nhập kiếm được bởi John Deere Đồng thời, các nhà đầu tư sẵn sàngtrả lần lượt 72$ , 23$ và 9$ cho mỗi dola kiếm được bởi Amazon.com , Google và Ford
Ở mức độ cao khác là Genral Motor (GM) và United States Steel Cả hai đều có lợinhuận âm vào năm trước đó, nhưng GM có giá khoảng 37$ trên mỗi cổ phiếu vàUnited States Steel là 54$ Bởi vì họ có lợi nhuận âm, tỷ lệ PE có thể âm, vì thế họkhông báo cáo Ở thời điểm này, các loại cổ phiếu tiêu biểu trong chỉ số S&P 500 củacông ty chứng khoán lớn được giao dịch ở mức PE khoảng 15, hoặc khoảng 15 lần thunhập như họ nó trên Wall Street
Các sự so sánh giá trên thu nhập là những ví dụ về việc sử dụng các tỷ lệ tài chính.Nhưng chúng ta sẽ thấy trong chương này, có 1 loạt các chỉ số tài chính, tất cả đượcthiết kế để tóm tắt các khía cạnh đặc biệt tình hình tài chính của một công ty Ngoài ra
để thảo luận làm thế nào phân tích báo cáo tài chính và tính toán các tỷ lệ tài chính,chúng ta nói một chút về những người sử dụng thông tin này và tại sao
Sau khi nghiên cứu chương này, bạn nên hiểu:
làm thế nào để chuẩn hóa các báo cáo tài chính để so sánh
làm thế nào để tính toán và quan trọng hơn nữa là giải thích các tỷ lệ phổ biến
xác đinh lợi nhuận của công ty
một số vấn đề và điều nguy hiểm trong báo cáo tài chính
Trong chương 2, chúng ta đã thảo luận một số khái niệm cơ bản của báo cáo tàichính và lưu chuyển tiền tệ Phần 2, chương này và tiếp theo, tiếp tục thảo luận nhữngđiều còn lại trước đó Mục tiêu của chúng tôi là mở rộng sự hiểu biết trong viếc sử dụng(và lạm dụng) thông tin báo cáo tài chính
Thông tin báo cáo tài chính sẽ rải rác ở những chỗ khác nhau trong phần còn lại củacuốn sách Phần 2 là không cần thiết cho loại tài liệu này, nhưng nó sẽ giúp cho bạn cómột cái nhìn tổng thể về vai trò của thông tin báo cáo tài chính trong tài chính doanhnghiệp
Có sự hiểu biết tốt về các báo cáo tài chính là điều đáng mong ước bởi vì báo cáo vàcác con số thu được từ báo cáo tài chính là phương tiện chính trong việc thể hiện thôngtin của tài chính trong và ngoài công ty Trong ngắn hạn, nhiều ngôn ngữ trong tài chínhdoanh nghiệp bắt nguồn từ những ý tưởng mà chúng ta thảo luận trong chương này Hơn nữa, như chúng ta thấy có nhiều cách khác nhau khi dùng thông tin trong báocáo tài chính và nhiều loại báo cáo khác nhau của người sử dụng Sự đa dạng nàyphản ánh thực tế là thông tin báo cáo tài chính đóng một vai trò quan trọng trong nhiềuloại quyết định
Với các nước phát triển, các nhà quản lý tài chính có đầy đủ thông tin về giá trị thịtrường của tất cả các tài sản của công ty Điều này sẽ rất hiếm khi xảy ra Vì vậy, đó là
lý do mà chúng ta thường dựa trên số liệu kế toán cho nhiều thông tin tài chính vì
Trang 2dường như luôn luôn không thể có được tất cả (hoặc thậm chí 1 phần) của các thôngtin thị trường như chúng ta muốn Các tiêu chuẩn đánh giá có ý nghĩa trong việc đánhgiá quyết định kinh doanh là liệu họ có tạo ra được các giá trị kinh tế (xem chương 1).Tuy nhiên, trong nhiều tình huống quan trọng, sẽ không thể thực hiện sự đánh giá nàymột cách trực tiếp bởi vì chúng ta không thể nhìn thấy sự ảnh hưởng của giá trị thịtrường trong các quyết định.
Chúng tôi nhận ra rằng số liệu kế toán thường ảnh hưởng đến nền kinh tế thực tếnhưng chúng thường là những thông tin tốt nhất Đối với các công ty tư nhân, tổ chứcphi lợi nhuận và công ty nhỏ hơn thì các giá thị trường tồn tại trực tiếp rất ít Vai trò báocáo của kế toán rất là quan trọng trong những trường hợp này
Rõ ràng một trong những mục tiêu quan trọng của kế toán là báo cáo thông tin tàichính cho những người sử dụng một cách hữu ích cho việc ra quyết định Nhưngnhững thông tin thường không đến những người sử dụng một cách như vậy Nói cáchkhác báo cáo tài chính không đi kèm với hướng dẫn người dùng, chương này và tiếptheo là những bước đầu tiên tiến vào chỗ thiếu sót này
Trong chương 2, chúng tôi thấy rằng tiền hoạt động của một công ty có thể tóm tắtbằng cách đơn giản:
Dòng tiền này tóm tắt tổng số tiền mặt giao dịch trong một năm của công ti Trong phầnnày chúng tôi quay trở lại chủ đề lưu chuyển tiền tệ bằng một cái nhìn sâu hơn vào các
sự kiện tiền mặt trong năm để dẫn đến các tổng số
Nguồn tiền và cách sử dụng tiền:
Các hoạt động mang lại tiền được gọi là nguồn tiền mặt, các hoạt động liên quanđến chi tiêu tiền mặt gọi là sử dụng tiền mặt Những gì chúng ta cần làm là để theo dõinhững thay đổi trong bảng cân đối của công ty để xem công ty thu và chi tiêu tiền mặtcủa mình trong một số giai đoạn như thế nào
Để bắt đầu, hãy xem bảng cân đối của tổng công ty Prufrock trong bảng 3.1 Chú ýrằng chúng tôi đã tính đến sự thay đổi trong mỗi khoản mục trên bảng cân đối
Nhìn vào bảng cân đối kế toán của Prufock chúng ta thấy rằng một vài thứ đã thayđổi trong suốt năm Ví dụ, Prufock tăng tài sản cố định ròng lên 149$ và hàng tồn kho là29$ (lưu ý rằng tất cả các số liệu là triệu dollar) Tiền tạo ra từ đâu? Để trả lời câu hỏinày và có liên quan tới câu hỏi, chúng ta cần phải xác định những thay đổi của việc sửdụng tiền và những người mang lại tiền mặt (nguồn)
Dòng tiền từ tài sản = Dòng tiền của chủ nợ + Dòng tiền của chủ sở hữu
Trang 3Một sự suy đoán thông thường ở đây là một công ty dùng tiền để mua tài sản hoặcthanh toán Vì thế, nói một cách lỏng lẽo, sự gia tăng trong tài khoản tài sản có nghĩa làcông ty trên cơ sở thực đã sử dụng tiền để mua tài sản Nếu như tài khoản tài sản giảmtức là các công ty đã bán một số tài sản Đây có thể xem là nguồn tiền thuần, tương tựnhư vậy nếu nợ phải trả giảm tức là công ty sử dụng tiền mặt để thanh toán.
Bảng 3.1:
Công ty PRUFOCKBảng cân đối 2011 và 2012 (triệu dola)
Nhìn lại lần nữa về Prufock, chúng ta thấy rằng hàng tồn kho tăng 29$ Đây là mộtcách sử dụng thực tế bởi vì Prufock thực sự đã trả 29$ để tăng hàng tồn kho Cáckhoản phải trả tăng 32$ Đây là nguồn tiền mặt vì Prufock thực tế đã vay mượn thêm32$ để có thể chi trả vào cuối năm nay Mặt khác, các thương phiếu phải trả đã giảm
Trang 4xuống 35$ Vì vậy, Prufock thực tế đã trả 35$ của nợ ngắn hạn – một cách sử dụng tiềnmặt.
Dựa vào việc thảo luận, chúng ta có thể tóm tắt nguồn tiền và cách sử dụng tiền nhưbảng sau:
Nguồn tiền mặt:
Hơn nữa, để theo dõi sự lưu thông tiền mặt của công ti trong suốt một năm, chúng tacần một báo cáo thu nhập.Các kết quả trong năm của công ty Prufrock được trình bàytrong Bảng 3.2
XCÔNG TY PRUFROCK BÁO CÁO THU NHẬP 2012
Trang 5Chú ý ở đây rằng việc bổ sung lợi nhuận giữ lại 242$ được tính toán từ bảng cân đốichỉ là sự khác biệt giữa thu nhập ròng là 363$ và cổ tức là 121$
Báo cáo lưu chuyển tiền mặt
Có một số sự linh hoạt trong tổng các nguồn và cách sử dụng tiền mặt trong các mẫucủa báo cáo tài chính Tuy nhiên khi nó được trình bày thì kết quả được gọi là báo cáolưu chuyển tiền mặt
Chúng tôi trình bày một dạng cụ thể của báo cáo này trong Bảng 3.3 Ý tưởng cơ bản
là để tất cả các nhóm thay đổi thành ba loại: hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính,
và các hoạt động đầu tư Sự khác nhau chi tiết từ người chỉnh sửa kế tiếp
Đừng ngạc nhiên nếu bạn có sự sắp xếp khác nhau Các loại thông tin được trình bày
sẽ tương tự nhau; thứ tự có thể khác nhau Điều quan trọng cần nhớ trong trường hợpnày là chúng ta bắt đầu với 84$ tiền mặt và kết thúc với 98$, sự gia tăng ròng là14$ Chúng ta sẽ cố gắng để thấy những việc dẫn đến sự thay đổi này
Trở lại với chương 2, chúng tôi lưu ý rằng có một vấn đề về khái niệm nhỏ ở đây Chitrả lãi vay nên gắn liền với các hoạt động tài chính nhưng tiếc là đó không phải là cách
kế toán được dùng Lý do, bạn có thể nhớ lại, đó là lãi vay được khấu trừ vào chi phíkhi thu nhập ròng được tính Ngoài ra, lưu ý rằng việc mua thực tế tài sản cố định là149$ Bởi vì Prufrock viết nhanh là 276$ giá trị của tài sản (khấu hao) nên nó phải thực
sự chi tổng cộng 149$ + 276 $=425$ vào tài sản cố định
Một khi chúng ta có báo cáo này, nó có vẻ thích hợp để thể hiện sự thay đổi bằng tiềnmặt trên mỗi cổ phiếu, nhiều như chúng ta đã làm cho thu nhập ròng.Trớ trêu thay, mặc
dù chúng ta có thể có một số tiền lãi trong một chừng mực nào đó bằng tiền mặt trên
cơ sở cổ phiếu, nhưng kế toán không được khai báo thông tin này Lý do là kế toánviên cảm thấy rằng lưu chuyển tiền tệ (hoặc một số thành phần của lưu chuyển tiền tệ)không thay thế cho thu nhập kế toán, vì vậy chỉ có thu nhập trên mỗi cổ phiếu sẽ đượcbáo cáo
Bảng 3.3:
Công ty FrufrockBáo cáo lưu chuyển tiền tệ 2012 (triệu dola)
Hoạt động đầu tư
Trang 6Mua lại tài sản cố định -425$
Hoạt động tài chính
Bảng 3.4
Công ty FrufrockBáo cáo nguồn và sử dụng tiền tệ 2012 (triệu dola)
Như thể hiện trong Bảng 3.4, đôi khi nó cũng hữu ích để trình bày các thông tin nhưnhau một chút khác nhau Chúng tôi sẽ gọi đây là báo cáo "Nguồn tiền và việc sử dụngtiền mặt" Không có báo cáo như vậy trong kế toán tài chính, nhưng sự sắp xếp nàygiống như một cách được sử dụng từ nhiều năm trước Như chúng ta thảo luận, hình
Trang 7thức này có thể có ích, nhưng chúng tôi nhấn mạnh một lần nữa rằng nó không phải làcách thường được trình bày.
Bây giờ chúng ta có các nguồn tiền ở nhiều chỗ khác nhau, chúng ta có thể có đượcmột ý tưởng tốt về những gì xảy ra trong năm Chi tiêu tiền mặt của Prufrock chủ yếu làmua lại tài sản cố định và trả cổ tức bằng tiền mặt Công ti trả tiền cho các hoạt độngchủ yếu bằng tiền mặt được tạo ra từ các hoạt động Prufrock cũng đã giảm một số nợdài hạn và tăng tài sản hiện tại Cuối cùng, nợ ngắn hạn không thay đổi , và một lượngtương đối nhỏ các cổ phiếu mới được bán ra Nhìn chung, bản tóm tắt ngắn này dựatrên nguồn tiền chủ yếu của Prufrock và việc sử dụng tiền mặt suốt một năm
Câu hỏi :
3.1a Nguồn tiền mặt là gì? Nêu ba ví dụ
3.1b Việc sử dụng hoặc ứng dụng của tiền mặt là gì? Nêu ba ví dụ
3.2 Chuẩn hóa Báo cáo tài chính:
Vấn đề tiếp theo mà chúng ta có thể muốn thảo luận về báo cáo tài chính củaPrufork là so sánh chúng với những quốc gia tương tự khác Tuy nhiên khó có thể sosánh Báo cáo tài chính giữa hai quốc gia một cách trực tiếp bởi sự khác biệt về tầm cỡ
Ví dụ, Ford và GM là đối thủ nặng trên thị trường ô tô, nhưng về thị phần thì GM
là lớn hơn, vì vậy thật khó có thể so sánh chúng một cách trực tiếp.Chính vì vậy thậtkhó để so sánh những bản báo cáo tài chính từ những quan điểm khác nhau chonhững quốc gia giống nhau nếu tầm cỡ của quốc gia đó thay đổi Vấn đề tầm cỡ sẽ trởnên phức tạp hơn nếu chúng ta cố gắng so sánh GM và Toyota Nếu báo cáo tài chínhcủa hãng Toyota được tính bằng đồng yên thì có sự khác biệt về độ lớn và tiền tệ
Để so sánh, điều mà chúng ta có thể làm là đề ra một vài tiêu chuẩn của bảngbáo cáo tài chính Lợi ích của việc làm này là chúng ta có thể xem xét đánh giá dựa vào
tỉ lệ phần trăm thay vì dựa vào tổng số dollar.Ở đoạn này sẽ mô tả hai cách khác nhautrong việc lập nên chuẩn mực Báo cáo tài chính
Báo cáo theo tỉ trọng (báo cáo theo chiều ngang)
Một cách hữu hiệu khi đề ra chuẩn mực báo cáo tài chính là thể hiện mỗi mục trênbảng cân đối kế toán như là tỷ lệ phần trăm của tài sản và mỗi mục trên bảng báo cáothu nhập như là tỷ lệ phần trăm của doanh thu Kết quả của bảng báo cáo tài chínhđược gọi là báo cáo theo tỉ trọng
Bảng cân đối kế toán theo tỉ trọng: Xây dựng tỉ trọng của bảng cân đối kế toán bằng
cách thể hiện mỗi mục như là phần trăm tổng tài sản
Cần chú ý rằng có một số tổng số không thực sự chính xác bởi vì con số thập phân
đã được làm tròn Cũng phải chú ý rằng tất cả thay đổi phải là con số không bởi vì sốbắt đầu và số kết thúc cộng lại phải đạt 100 %
Báo cáo tài chính thường dễ đọc và dễ so sánh Ví dụ, nhìn vào hai bảng cân đối kếtoán của Prufrock, chúng ta dễ dàng thấy rằng tài sản lưu động năm 2011 chiếm 19.1%tổng tài sản nhưng đến năm 2012 tăng lên 19.7%.Nợ phải trả giảm từ 16.0% xuống còn
Trang 815.1% tổng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong cùng thời gian Tương tự tổng hoahồng vốn tăng từ 68.1% năm 2011 lên đến 72.2% năm 2012 tổng nợ phải trả và vốnchủ sở hữu.
Nói chung, tính thanh khoản của Prufrock được đo bằng tài sản lưu động so với nợngắn hạn, đã tăng qua các năm Đồng thời, những khoản nợ của Prufrock đã làm giảm
tỉ lệ phần trăm tổng tài sản.Chúng ta có thể bị cám dỗ để kết luận rằng bảng cân đối kếtoán đã có hiệu quả tốt hơn
Bảng 3.5:
Công ty PRUFROCK Bảng cân đối kế toán theo tỉ trọng năm 2011 và năm 2012
Trang 9Báo cáo thu nhập theo tỉ trọng: Một cách hữu hiệu khi quy ra tỉ trọng các mục trong
báo cáo thu nhập là thể hiện mỗi mục trên bảng cân đối kế toán như là một tỷ lệ phầntrăm của tổng doanh thu, điều này sẽ được minh họa trong bảng 3.6
Bảng báo cáo thu nhập nói cho chúng ta biết chuyện gì sẽ xảy ra đối với mỗi dollartrên doanh thu Đối với Prufrock, chi phí lãi vay chiếm tới 0.061$ trong mỗi dollar bán
ra và thuế chiếm 0.081$ Khi đó 0.157$ trong mỗi đô la chảy vào thu nhập ròng, và sốtiền đó được chia thành 0.105$ giữ lại cho kinh doanh và 0.052$ cho việc chi trả cổ tức
Tỉ lệ phần trăm rất có ích trong việc đánh giá, so sánh.Ví dụ, những con số có liênquan là tỉ lệ phần trăm của doanh thu Với tập đoàn Prufrock, cứ 0.582$ trong 1$ doanhthu sẽ dùng để trả cho chi phí Điều đó cũng tốt khi tính tỉ lệ tương tự cho những đối thủchính của tập đoàn Prufrock để thấy rằng tập đoàn Prufrock đã so sánh các kì quản líchi phí như thế nào
Bảng 3.6
TẬP ĐOÀN PRUFROCK Báo cáo thu nhập theo tỉ trọng 2012
15.7
Lợi nhuận giữ lại 10.5
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo tỉ trọng Mặc dù chúng ta đã không trình bày ở đây,
nó cũng có thể và hữu ích để chuẩn bị báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo tỉ trọng Thậtkhông may, với báo cáo hiện tại cho dòng tiền, không có mẫu số rõ ràng như tổngdoanh thu Tuy nhiên, nếu thông tin được sắp xếp theo một cách tương tự như trongbảng 3.4, sau đó mỗi khoản mục có thể được thể hiện như là một tỷ lệ phần trăm củatổng số nguồn (hoặc tổng số sử dụng) Các kết quả sau đó có thể được hiểu là tỷ lệphần trăm của tổng số nguồn cung cấp tiền mặt hoặc là tỷ lệ phần trăm của tổng số tiềnmặt sử dụng cho một mục cụ thể
Cơ sở chung năm báo cáo tài chính: phân tích xu hướng (báo cáo theo chiều dọc)
Trang 10Hãy tưởng tượng chúng ta đã gửi bảng cân đối trong 10 năm qua cho một số công ty
và chúng tôi đang cố gắng để điều tra các xu hướng trong mô hình của công ty hoạtđộng Liệu các công ty sử dụng nhiều hay ít nợ? Công ty đã phát triển nhiều hơn hay íthơn khoản nợ? Một cách hữu hiệu để chuẩn hóa báo cáo tài chính trong trường hợpnày là chọn một năm cơ sở và sau đó thể hiện từng hạng mục liên quan đến số lượng
cơ sở Chúng ta sẽ gọi là các kết quả trình bày báo cáo năm cơ sở chung
Ví dụ, từ năm 2011 đến năm 2012, hàng tồn kho Prufrock đã tăng từ 393$ đến422$ Nếu chúng ta chọn năm 2011là năm cơ sở, sau đó chúng tôi sẽ thiết lập hàng tồnkho bằng 1,00 trong năm đó Đối với các năm tiếp theo, chúng tôi sẽ tính toán hàng tồnkho tương đối so với năm cơ sở là 422$/393$ = 1,07 Trong trường hợp này, chúng ta
có thể nói rằng hàng tồn kho đã tăng khoảng 7% trong năm Nếu chúng ta có nhiềunăm, chúng ta sẽ chỉ chia số hàng tồn kho cho một số 393 $ Các loạt kết quả là dễdàng để vẽ đồ thị, và nó sau đó dễ dàng để so sánh giữa các công ty Bảng 3.7 tóm tắtnhững tính toán cho bên tài sản của bảng cân đối
Kết hợp giữa tỉ trọng và phân tích năm cơ sở:
Các phân tích xu hướng mà chúng tôi đã thảo luận có thể được kết hợp với các phân
tích tỉ trọng phổ biến đã thảo luận trước đó Lý do cho việc này là khi tổng tài sản tăng,hầu hết các tài khoản khác phải tăng theo Đầu tiên hình thành báo cáo các tỉ trọng phổbiến, chúng tôi loại bỏ những ảnh hưởng của sự phát triển tổng thể này
Ví dụ, nhìn vào bảng 3.7, chúng tôi thấy rằng tài khoản của Prufrock thu được 165$,hay 4,9 % trong tổng tài sản trong năm 2011 Trong năm 2012, nó đã lên đến 188$, là5,2% tổng tài sản Nếu chúng ta làm phân tích theo dollar, thì con số năm 2012 sẽ là188$/165$ = 1.14, tức là gia tăng 14% các khoản phải thu Tuy nhiên, nếu chúng ta làmviệc với các báo cáo tỉ trọng thông thường thì các con số năm 2012 là 5,2% / 4,9% =1,06 Điều này cho chúng ta biết các khoản phải thu, được xem là một tỷ lệ phần trămtrong tổng tài sản, tăng 6% Nói đại khái, những gì chúng ta thấy là trong tổng mức tăng14%, khoảng 8% (= 14% - 6%) là mức tăng trưởng của tổng tài sản
Bảng 3.7
Trang 11Tài sản (triệu đô)
2011 2012
Tỷ trọng tài sản chung
2011 2012
Tài sản chung năm cơ sở 2012
Tài sản hiện tại
Kết hợp kích thước phổ biến và tài sản năm cơ sở
2012
1.081.061.011.03.99
Câu hỏi:
3.2a Tại sao chuẩn hóa báo cáo tài chính là cần thiết?
3.2b Đặt tên cho hai loại báo cáo chuẩn và mô tả mỗi báo cáo hình thành như thếnào
3.3 Phân tích tỷ lệ
Một cách khác để tránh những vấn đề liên quan đến việc so sánh các công ty cókích cỡ khác nhau là tính toán và so sánh các chỉ tiêu tài chính Tỷ lệ là cách so sánh
và điều tra các mối quan hệ giữa các phần khác nhau của thông tin tài chính Sử dụng
tỷ lệ loại bỏ các vấn đề kích thước bởi vì kết quả hoạt động của công ty không dựa vàoquy mô của nó Chúng tôi thường sử dụng với tỷ lệ phần trăm, số nhân, hoặc khoảngthời gian
Có một vấn đề trong thảo luận về các tỷ lệ tài chính Bởi vì một tỷ lệ đơn giản chỉ
là một số được chia ra bởi một con số khác, và bởi vì có rất nhiều số liệu kế toán,chúng ta có thể xem xét một số lượng lớn các chỉ số có lợi Mọi người đều có một sởthích Chúng tôi sẽ hạn chế ở một vài ví dụ đại diện
Trong phần này, chúng tôi chỉ muốn giới thiệu với bạn một số chỉ tiêu tài chínhthường được sử dụng Đây không nhất thiết là những gì tốt nhất Trong thực tế, một sốtrong số đó có thể vô lý hoặc không hữu ích Nếu nó được tính thì cũng không đượcquan tâm Là một nhà phân tích tài chính, bạn luôn có thể quyết định làm thế nào đểtính toán tỷ lệ của riêng bạn
Điều bạn cần lo lắng là những người khác nhau và những nguồn khác nhauhiếm khi tính được các chỉ số chính xác giống nhau, và điều này dẫn đến nhiều rắc rối.Các định nghĩa chúng tôi sử dụng ở đây có thể giống hoặc không như những gì bạn đãnhìn thấy hoặc sẽ thấy ở nơi khác Nếu bạn đã từng sử dụng các tỷ lệ như một công cụ
để phân tích, bạn nên dẫn chứng làm cách nào bạn tính ra được từng cái Và nếu bạn
Trang 12đang so sánh con số của mình với người khác, hãy chắc chắn rằng bạn biết những con
số được tính toán như thế nào
Chúng tôi sẽ hoãn cuộc thảo luận của chúng ta về các tỷ lệ được sử dụng ở đây vàtiếp tục ở chương sau Bây giờ, đối với mỗi tỷ lệ, chúng ta xem xét một số câu hỏi:
1 Nó được tính toán như thế nào?
2 Dùng để đo lường cái gì? Và tại sao chúng ta quan tâm?
3 Đơn vị đo lường là gì?
4 Giá trị cao và thấp cho ta biết điều gì? Các giá trị có thể bị sai lệch như thế nào?
5 Cách đo này có thể được cải thiện như thế nào?
Chỉ số tài chính được truyền thống được chia thành các loại sau:
1 Khả năng thanh toán ngắn hạn, hoặc khả năng thanh toán nhanh, các tỷ lệ
2 Khả năng thanh toán dài hạn, đòn bẩy tài chính, các tỷ lệ
3 Quản lý tài sản, vòng quay, các tỷ lệ
4 Tỷ suất sinh lợi
Khả năng thanh toán ngắn hạn hoặc thanh khoản, phương pháp tính:
Như tên cho thấy, tỷ lệ khả năng thanh toán ngắn hạn là một nhóm được dùng
để cung cấp thông tin về khả năng thanh khoản một công ty, và tỉ lệ này đôi khi đượcgọi là các biện pháp thanh khoản Mối quan tâm chính là khả năng thanh toán nợ củacông ty trong thời gian ngắn Do đó, các chỉ số này tập trung vào các tài sản hiện tại và
nợ ngắn hạn
Vì những lý do hiển nhiên, tỷ lệ thanh khoản đặc biệt gây hứng thú cho các chủ
nợ ngắn hạn Bởi vì các nhà quản lý tài chính hoạt động liên tục với các ngân hàng vànhững người cho vay ngắn hạn khác, và sự hiểu biết về các tỷ lệ này là rất cần thiết
Một lợi thế khi nhìn vào tài sản và nợ ngắn hạn là giá trị sổ sách và giá trị thịtrường có thể sẽ là tương tự Thường (mặc dù không phải luôn luôn), các tài sản và nợphải trả thường không tồn tại đủ lâu Mặt khác, tài sản và nợ ngắn hạn hiện tại có thểchuyển đổi thành tiền mặt khá nhanh, vì vậy số lượng của ngày hôm nay có thể khôngphải là một hướng dẫn đáng tin cậy cho tương lai
Current Ratio: Tỷ số thanh khoản hiện thời (Tên gọi khác: Tỷ số thanh khoản
ngắn hạn, Hệ số thanh toán ngắn hạn, Hệ số thanh toán hiện hành, Hệ số khả năngthanh toán của vốn lưu động, Hệ số khả năng thanh toán nợ hiện tại) là một tỷ số tàichính dùng để đo lường năng lực thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
Một trong những chỉ số nổi tiếng nhất và được sử dụng rộng rãi nhất là tỷ sốthanh toán hiện thời Như bạn có thể đoán, tỷ số thanh khoản hiện thời được xác địnhnhư sau:
Tỷ số thanh khoản hiện thời = Tàisản lưu động
Nợ ngắn hạn
Dưới đây là tỷ số thanh khoản hiện thời của Prufrock năm 2012:
Trang 13Tỷ số thanh khoản hiện thời = 708 $ 540 $ =1.31 lần
Bởi vì các tài sản và nợ phải trả hiện nay, về nguyên tắc, được quy đổi thànhtiền mặt trong vòng 12 tháng sau, tỷ lệ này đo khả năng thanh khoản ngắn hạn Đơn vị
đo có thể là Dollar hoặc lần Ta có thể nói Prufork có 1.31$ trong tài sản có với mỗi 1$trong tài sản nợ, hoặc có tài sản nợ hơn 1.31 lần
Một chủ nợ, đặc biệt là nợ ngắn hạn như nhà cung cấp, tỷ lệ thanh khoản hiệnthời càng cao càng tốt Đối với công ty, tỷ lệ thanh khoản hiện thời cho thấy thanhkhoản, nhưng nó cũng có thể chỉ ra việc sử dụng hụt tiền mặt và các tài sản ngắn hạnkhác không hiệu quả Không có những trường hợp bất thường, chúng ta hi vọng thấy tỷ
lệ thanh khoản hiện thời ít nhất bằng 1 vì nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 1 có nghĩa là vốn lưuđộng ròng (tài sản lưu động nhỏ hơn nợ ngắn hạn) âm Đây sẽ là không bình thườngtrong một công ty khỏe mạnh, ít nhất là đối với hầu hết các loại hình doanh nghiệp
Tỷ lệ thanh khoản hiện thời, giống như bất kỳ tỷ lệ khác, bị ảnh hưởng bởi cácloại giao dịch Ví dụ, giả sử công ty vay dài hạn để tăng lượng tiền Ảnh hưởng ngắnhạn sẽ là tăng lượng tiền và tăng cả nợ dài hạn Tài sản nợ hiện tại sẽ không bị ảnhhưởng, nên hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn sẽ tăng
Cuối cùng, lưu ý rằng một tỷ lệ thanh khoản hiện thời thấp có thể không phải làmột dấu hiệu xấu cho một công ty với nguồn trữ lượng lớn nguồn lực chưa được sửdụng đến
VÍ DỤ 3.1 Sự kiện hiện tại
Giả sử công ty đã thanh toán đủ cho nhà cung cấp và các chủ nợ ngắn hạn.Điều gì sẽ xảy ra cho hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn? Giả sử công ty mua thêmtài sản? Giả sử công ty bán đi hàng hóa?
Trường hợp đầu tiên là 1 câu hỏi đánh lừa Điều xảy ra là, hệ số cách xa số 1, nếulớn hơn 1(trường hợp thông thường) , hệ số sẽ lớn lơn Nếu nhỏ hơn 1, hệ số sẽ nhỏhơn Để thấy được điều này, giả sử công ty có 4$ trong tài sản có và 2$ trong tài sản
nợ với hệ số khả năng thanh toán là 2 Nếu ta dùng 1$ tiền mặt để giảm tài sản nợ, thì
hệ số khả năng thanh toán mới là (4-1)$/(2-1)$=3$ Nếu ta đảo ngược lại, 2$ trong tàisản có , và 4$ trong tài sản nợ, sự thay đổi sẽ làm hệ số khả năng thanh toán ngắn hạngiảm từ 1/2 thành 1/3
Trường hợp thứ hai không hoàn toàn là đánh lừa Không có gì xảy ra với tỷ lệthanh toán hiện thời vì tiền đi xuống trong khi hàng tồn kho tăng lên, tổng tài sản không
bị ảnh hưởng
Trong trường hợp thứ ba, tỷ lệ thanh khoản hiện thời thường tăng lên bởi vìhàng tồn kho thường được thể hiện theo nguyên giá và thường bán cao hơn nguyêngiá Sự gia tăng tiền mặt hoặc các khoản phải thu lớn hơn việc giảm hàng tồn kho Điềunày làm tăng tài sản hiện tại, và tỷ lệ thanh khoản hiện thời tăng lên
Quick (or Acid-Test) Ratio: Hệ số khả năng thanh toán nhanh (Tỷ suất tiền mặt
sử dụng ngay, Tỷ lệ chuyển đổi nhanh, Tỷ số tài sản nhanh) là tỷ lệ giữa tài sản dễ quyđổi ra thành tiền mặt trên nợ ngắn hạn, phản ánh năng lực thanh toán nhanh các khoản
nợ hiện hành (Current Liabilities) bằng số tài sản khả hoán (Quick assent) có trong tay,
mà không buộc phải bán đi hàng tồn kho để bù vào
Trang 14Hàng tồn kho thường là các tài sản khó khăn nhất trong việc quy đổi thành tiềnmặt Đó cũng là một trong những giá trị không đáng tin cậy nhất khi sử dụng chophương pháp định giá theo giá trị thị trường vì chất lượng của hàng tồn kho khôngđược xem xét Một số của hàng tồn kho sau này có thể bị hư hỏng, lỗi thời, hoặc bịmất.
Thêm vào đó, tồn kho tương đối lớn thường là một dấu hiệu của sự cố ngắnhạn Các công ty có thể đã đánh giá quá cao doanh số và lượt mua hoặc số lượng sảnxuất như một kết quả Trong trường hợp này, tính thanh khoản tài sản của các công ty
bị ảnh hưởng do hàng tồn kho chậm luân chuyển
Để đánh giá thêm về tính thanh khoản nhanh, tỷ lệ được tính tương tự như tỷ lệthanh toán hiện thời bỏ qua giá trị hàng tồn kho:
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tàisản lưu động−Hàng tồnkho
Nợ ngắn hạn
Chú ý rằng việc sử dụng tiền mặt để mua hàng tồn kho không ảnh hưởng đến tỷ
lệ thanh toán hiện thời, nhưng nó làm giảm hệ số khả năng thanh toán nhanh Một lầnnữa, hàng tồn kho tương đối kém thanh khoản so với tiền mặt
Đối Prufrock, tỷ lệ này trong năm 2012 là:
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = (708−422) $
540 $ = 0.53 lần
Hệ số khả năng thanh toán nhanh ở đây kể lại một câu chuyện hơi khác so với tỷ
lệ thanh khoản hiện thời vì hàng tồn kho chiếm hơn một nửa số tài sản hiện tại củaPrufrock Nếu hàng tồn kho này bao gồm, ví dụ, các nguồn hàng không bán được, thìđây sẽ là một vấn đề đáng quan tâm
Để đưa ra một ví dụ về tỷ lệ so với hệ số khả năng thanh toán nhanh, dựa trênbáo cáo tài chính gần đây, Walmart và Manpower Inc có hệ số khả năng thanh toán lầnlượt là 0,9 và 1,5 Tuy nhiên, Manpower không mang hàng tồn kho để nói chuyện, trongkhi tài sản hiện tại của Walmart là hầu như tất cả là hàng tồn kho Kết quả là, hệ số khảnăng thanh toán nhanh của Walmart chỉ 0,2, trong khi đó Manpower là 1.4, gần bằng
hệ số khả năng thanh toán
Other Liquidity Ratios: Các hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn khác (Tỷ
lệ khả năng thanh toán bằng tiền mặt, Tỷ suất tính lưu động) là tính khả năng của mộtcông ty có thể đáp ứng các món nợ ngắn hạn đến ngày đáo hạn
Chúng tôi cũng đã đề cập đến ba phương pháp khác nhau để tính khả năngthanh toán Chủ của một khoản nợ ngắn hạn có thể sẽ quan tâm đến tỉ lệ thanh toántiền mặt:
Tỷ lệ thanh toán tiền mặt = Tiền mặt
Nợ ngắn hạn
Bạn có thể tìm hiểu với Prufrock, năm 2012, tỷ lệ thanh toán tiền mặt là 0.18 lần.Bởi vì vốn lưu động ròng(NWC) thường được xem là một thước đo tài chính đạidiện cho tính thanh khoản có có sẵn của một doanh nghiệp, chúng ta có thể xem xét tỷ
lệ của NWC trên tổng tài sản:
Vốn lưu động ròng trên tổng tài sản = Vốnlưu động ròng
Tổng tài sản
= Tài sản lưu động−Nợ ngắn hạn
Tổng tài sản
Trang 15Ta thấy, vốn lưu động ròng càng nhỏ thì tỷ số thanh khoản tính ra càng nhở Ởđây, tỷ lệ vốn lưu động ròng là (708$ - 540$) / 3,588$ = 4,7%.
Cuối cùng, hãy tưởng tượng rằng Prufrock đã phải đối mặt với một cuộc tấncông và dòng tiền bắt đầu bị cạn Bao lâu các doanh nghiệp mới có thể tiếp tục vậnhành? Một câu trả lời được đưa ra bởi các biện pháp khoảng thời gian:
Khoảng thời gian vận hành = Tài sản lưu động
Chi phí vận hành trungbình hằng ngày
Tổng chi phí trong năm, không tính khấu hao và lãi là 1,344$ Chi phí trung bìnhhàng ngày là 1,344$/365 = 3.68$/ngày Khoảng thời gian vận hành là 708$/3,68$ = 192ngày Trên cơ sở này, Prufrock thể treo trên 6 tháng hoặc lâu hơn
Các biện pháp tính khoảng thời gian vận hành (hoặc cái gì đó tương tự) cũng rấthữu ích cho các công ty mới thành lập hoặc mới thành lập thường có rất ít lợi nhuận.Đối với các công ty như vậy, các biện pháp chỉ ra khoảng thời gian bao lâu các công ty
có thể hoạt động cho đến khi nó cần một vòng tài chính Chi phí hoạt động hàng ngàytrung bình cho các công ty mới thành lập thường được gọi là tỷ lệ bỏng, có nghĩa là tốc
độ mà tiền mặt bị đốt cháy trong cuộc đua để trở thành lợi nhuận
Các phương pháp tính khả năng thanh toán dài hạn:
Tỷ lệ khả năng thanh toán dài hạn dự kiến giải quyết khả năng thanh toán dài hạncủa công ty để đáp ứng các nghĩa vụ của mình, hoặc sử dụng đòn bẩy tài chính Nóđược gọi là tỷ lệ đòn bẩy tài chính hoặc tỷ lệ đòn bẩy Chúng tôi xem xét ba biện phápthường được sử dụng và một số biến thể
Total Debt Ratio: tỷ lệ nợ
Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản sẽ đưa vào tài khoản tất cả các khoản nợ của tất cả các
kỳ hạn với các chủ nợ Nó có thể được định nghĩa theo nhiều cách, đơn giản nhất trong
Ở Prufrock, trong 1$ tài sản có 0.28$ nợ Do đó, có 0.72$ trong vốn chủ sở hữu(1 – 0.28 = 0.72$) cho mỗi 0.28$ nợ Với điều này trong , chúng ta có thể xác định haibiến thể hữu ích về các tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và sốnhân vốn chủ sở hữu:
Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu = Tổng nợ
Vốnchủ sở hữu =
0.28 $ 0.72 $ = 0.38 lần
Số nhân vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản
Vốnchủ sở hữu =
1 $ 0.72 $= 1.38 lần
Thực tế là số nhân vốn chủ sở hữu =1 + tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu không phải là một
sự trùng hợp vì:
Trang 16
Số nhân vốn chủ sở hữu = Vốnchủ sở hữu Tổng tài sản = 0.72 $ 1 $ = 1.38 lần
= Vốnchủ sở hữu+Nợ
Vốn chủ sở hữu = 1 + Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu
= 1.38 lầnNhững điều cần chú ý ở đây là với bất kỳ một trong ba chỉ số này, bạn ngay lậptức có thể tính toán hai chỉ số còn lại; như vậy, tất cả đều có mối liên hệ với nhau
A Brief Digression: Total Capitalization versus Total Assets: Tổng số vốn so với
tổng tài sản
Thường thì các nhà phân tích tài chính lo ngại hơn với nợ dài hạn của một công ti hơn
nợ ngắn hạn của nó, vì các khoản nợ ngắn hạn liên tục sẽ được thay đổi Ngoài ra,khoản phải trả của một công ty có thể phản ánh thực tiễn kinh doanh nhiều hơn chínhsách quản lý nợ Vì những lý do này, tỷ lệ nợ dài hạn thường được tính như sau :
Để làm phức tạp vấn đề , những người khác nhau (và cuốn sách khác nhau ) sẽ cónghĩa khác nhau về các tỷ lệ nợ dài hạn Một số có nghĩa là tỷ lệ của tổng số nợ , một
số chỉ có nghĩa là tỷ lệ nợ dài hạn; và thật không may, một số lượng đáng kể đơn giản
là mơ hồ về cái ý nghĩa của chúng
Đây là một nguồn gây nhầm lẫn,vì vậy chúng ta chọn hai tên riêng biệt cho hai mức độ Các vấn đề giống nhau này được đề cập đến để thảo luận về tỷ lệ nợ trên vốn chủ sởhữu Các nhà phân tích tài chính thường xuyên tính toán tỷ lệ này chỉ sử dụng là nợdài hạn
Times Interest Earned: Hệ số khả năng thanh toán lãi vay ( tỷ lệ trả lãi vay)
Một mức độ phổ biến của các khả năng thanh toán dài hạn là số lần lãi đã kiếm được.Một lần nữa, có thể có một số định nghĩa khác , nhưng chúng tôi sẽ gắn bó với truyềnthống nhất:
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = EBIT
Cash Coverage: hệ số khả năng thanh toán lãi vay (có tính đến khấu hao).
Một vấn đề với tỷ lệ TIE là nó được dựa trên EBIT, mà không phải là lượng tiền mặt cósẵn để trả lãi Do đó khấu hao - một chi phí không bằng tiền mặt đã được trích ra Vì lãichắc chắn là một dòng tiền ra (đến chủ nợ) nên một cách để xác định hệ số khả năngthanh toán lãi vay là:
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = EBIT + Khấu hao
Lãi vay =
691 $+276 $
141 $ = 6.9 lần
Trang 17Trên tử số, EBIT cộng khấu hao, thường được viết tắt là EBITD (thu nhập trước lãi,thuế và khấu hao, được đọc là "ebbit-dee") Nó là thước đo cơ bản về khả năng củacông ty để tạo ra tiền mặt từ các hoạt động, và nó thường được sử dụng như mộtthước đo của dòng tiền có sẵn để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính.
Một biến thể phổ biến trên EBITD là thu nhập trước lãi, thuế, khấu hao, và khấu haodần (EBITDA- đọc là "ebbit-dah") Ở đây đề cập đến một giá trị khấu hao không bằngtiền mặt tương tự khái niệm khấu hao, ngoại trừ nó được áp dụng cho một tài sản vôhình (chẳng hạn như một bằng sáng chế) chứ không phải là một tài sản hữu hình(chẳng hạn như một máy) Lưu ý rằng phần trả lời ở đây không đề cập đến việc trả nợ -một chủ đề được thảo luận ở chương sau
Quản lí tài sản, số vòng quay, mức độ:
Tiếp theo chúng ta chuyển sang hiệu quả mà Prufrock sử dụng tài sản của mình Cácthước đo trong phần này đôi khi được gọi là tỷ lệ sử dụng tài sản Những tỷ lệ riêng biệt
mà chúng ta thảo luận , tất cả có thể được hiểu là thước đo của doanh thu Những gì
họ đang dự định để vạch ra bằng cách nào để một công ti sử dụng tài sản của mìnhhiệu quả để tạo ra doanh thu Đầu tiên, chúng ta nhìn vào hai tài sản quan trọng hiệnnay: hàng tồn kho và phải thu
Inventory Turnover and Day’s Sales in Inventory: Hệ số vòng quay hàng tồn kho và
kỳ luân chuyển hàng tồn kho
Trong năm, Prufrock có giá vốn hàng bán là 1344$ Hàng tồn kho vào cuối năm là422$ Với những con số này , vòng quay hàng tồn kho có thể được tính như sau :
Số vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán
Nếu chúng ta biết số vòng quay hàng tồn kho trên 3,2 lần trong năm , chúng ta có thểngay lập tức
tìm ra bình quân bao lâu nó luân chuyển Kỳ luân chuyển bình quân hàng tồn kho đượctính như sau:
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho = 365 ngày
số vòng quay hàng tồn kho =
3653.2=¿115 ngàyĐiều này cho chúng ta biết rằng, hàng tồn kho sẽ đứng yên trung bình 115 ngày trướckhi nó được bán
Ngoài ra, giả sử chúng ta đã sử dụng các số liệu hàng tồn kho và chi phí gần đây nhất,
nó sẽ mất khoảng 115 ngày để bán hết lượng hàng tồn kho hiện tại
Để đưa ra một ví dụ, tháng 3 năm 2011, ngành công nghiệp ô tô Mỹ đã cung ứng xehơi trong 57 ngày, dưới 60 ngày được coi là bình thường Con số này có nghĩa rằngvới tốc độ hiện tại lúc đó của doanh số bán hàng, có thể mất 57 ngày để cung ứng hếtcác nguồn có sẵn.Tất nhiên, có sự khác biệt lớn giữa các mẫu mã, với mẫu mã mớihơn, hot hơn thì cung ứng ít hơn (và ngược lại) Vì vậy, cũng trong tháng 3 năm 2011,dòng xe Countryman Mini chỉ mất 14 ngày để bán so với 139 ngày đối với HybridToyota Camry
Trang 18Có thể dễ hiểu hơn là để sử dụng hàng tồn kho trung bình trong việc tính toán doanhthu Số vòng quay hàng tồn kho sau đó sẽ là 1,344$ / [( 393$ + 422$ ) / 2 ] = 3.3 lần Nóphụ thuộc vào mục đích của việc tính toán Nếu chúng ta quan tâm trong bao lâu chúng
ta sẽ bán hàng tồn kho hiện tại thì sử dụng các con số cuối cùng (như chúng ta đã làmlúc đầu ) có lẽ là tốt hơn
Trong rất nhiều các tỷ lệ mà chúng ta thảo luận trong chương này, con số trung bình cóthể được sử dụng Một lần nữa, nó phụ thuộc vào việc chúng ta có nhớ về quá khứđược hay không, trong đó có trường hợp trung bình là phù hợp, hay tương lai, trong đó
có trường hợp con số cuối cùng có thể tốt hơn Ngoài ra, sử dụng con số cuối cùng làphổ biến trong báo cáo của ngành, như vậy, theo mục đích so sánh, con số cuối cùngnên được sử dụng trong những trường hợp như vậy Trong mọi trường hợp , sử dụngcác con số cuối cùng là chắc chắn ít công việc hơn, vì vậy chúng ta sẽ tiếp tục sử dụngchúng
Receivables Turnover and Days’ Sales in Receivables: Số vòng quay khoản phải
thu và kì thu tiền bình quân
Mức độ hàng tồn kho cung cấp nhanh một số chỉ số về việc bán sản phẩm Bây giờchúng ta nhìn những gì chúng ta nhân được từ những người bán hàng Số vòng quaykhoản phải thu được xác định giống như số vòng quay hàng tồn kho:
Số vòng quay khoản phải thu = Doanhthu
Các khoản phải thu =
Kỳ thu tiền bình quân = 365 ngày
vòng quay khoản phải thu =
36512.3 = 30 ngày
Vì vậy, trung bình Prufrock thu về từ hoạt động tín dụng trong 30 ngày Như một điềuhiển nhiên, tỷ lệ này thường được gọi là kỳ thu tiền bình quân ( ACP )
Lưu ý rằng nếu chúng ta đang sử dụng các số liệu gần đây nhất, chúng ta cũng có thểnói rằng chúng ta sẽ có 30 ngày chưa thu được tiền từ việc bán hàng ở hiện tại Chúng
ta sẽ tìm hiểu thêm về đề tài này khi chúng ta nghiên cứu về chính sách tín dụng trongmột chương sau
Ví dụ 3.2 : Số vòng quay các khoản phải trả
Đây là một sự thay đổi về các khoản phải thu Trung bình bao lâu thì Tổng công tyPrufrock phải trả các hóa đơn của mình ? Để trả lời , chúng ta cần phải tính toán cáckhoản tỷ lệ doanh thu phải nộp bằng giá vốn hàng bán Chúng ta sẽ cho rằng Prufrockthu mua tất cả mọi thứ về tín dụng
Giá vốn hàng bán là 1,344$, và khoản phải trả là 344$ Vậy sự luân chuyển là 1,344$ /344$ = 3,9 lần Vì vậy, khoản tiền phải trả được luân chuyển mỗi 365 / 3,9 = 94 ngày.Tính trung bình thì sau đó, Prufrock mất 94 ngày để trả tiền Là một chủ nợ tiềm năng,chúng ta có thể lưu ý về điều thực tế này