1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài giảng phương pháp nghiên cứu khoa học

40 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 695,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp lập đề cương chi tiết Research project: đề cương chi tiết gồm các phần sau: - Tên đề tài nghiên cứu title: giống như đề cương tổng quát - Đặt vấn đề: nêu những vấn đề căn bả

Trang 1

TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ- KỸ THUẬT CẦN THƠ

KHOA KINH TẾ THUỶ SẢN

Bài giảng

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Trang 2

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC1.1 Khoa học

Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, qui luật tự nhiên, xã hội và tư duy (luậtKHCN, 2000)

Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động củavật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thứckinh nghiệm và tri thức khoa học

- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trongmối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Tri thức kinhnghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sởcho sự hình thành tri thức khoa học

- Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động

NCKH, các hoạt động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học

1.2 Nghiên cứu khoa học

1.2.1 Khái niệm: Nghiên cứu khoa học là một hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng,

sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thựctiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng (luật KHCN,2000)

1.2.2 Phân loại nghiên cứu khoa học:

Theo chức năng nghiên cứu:

Nghiên cứu mô tả, nghiên cứu giải thích, nghiên cứu giải pháp, nghiên cứu dự báo

Theo các giai đoạn nghiên cứu hoặc tính chất của sản phẩm nghiên cứu:

Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai

• Bản chất của nghiên cứu cơ bản:

Là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tương tác trongnội bộ sự vật và mối liên hệ giữa các sự vật Sản phẩm nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá,phát hiện, phát minh, dẫn đến hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát

• Bản chất của nghiên cứu ứng dụng:

Là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật, tạo ranhững nguyên lý mới về các giải pháp và ứng dụng chúng vào sản xuất và đời sống

Giải pháp có thể là một giải pháp về công nghệ, về vật liệu, về tổ chức và quản lý …

• Bản chất của nghiên cứu triển khai (còn gọi là triển khai thực nghiệm):

Là sự vận dụng các lý thuyết để đưa ra các hình mẫu với tham số khả thi về kỹ thuật

Theo dạng thức:

Tiểu luận hoặc báo cáo thực tập, luận văn tốt nghiệp, đồ án tốt nghiệp, luận án, nhận xét khoa học, bài báo khoa học, báo cáo khoa học, sách giáo khoa

1.3 Đề tài nghiên cứu khoa học

1.3.1 Khái niệm đề tài

Đề tài là một hình thức tổ chức NCKH do một người hoặc một nhóm người thực hiện Một số

Trang 3

hình thức nghiên cứu không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa học như:

* Đề tài: được thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa để ý đến việc

ứng dụng trong hoạt động thực tế

* Dự án: được thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả về kinh tế

và xã hội Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguồn lực

* Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng để trình cấp quản lý cao hơn, hoặc gởi cho một cơ

quan tài trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập một tổ chức; tài trợ cho mộthoạt động xã hội, Sau khi đề án được phê chuẩn, sẽ hình thành những dự án, đề tài theo yêucầu của đề án

* Chương trình: là một nhóm đề tài hoặc dự án được tập hợp theo một mục đích xác định.

Giữa chúng có tính độc lập tương đối cao Tiến độ thực hiện đề tài, dự án trong chương trìnhkhông nhất thiết phải giống nhau, nhưng nội dung của chương trình thì phải đồng bộ

1.3.2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: là bản chất của sự vật hay hiện tượng cần xem xét và làm rõ trong

nhiệm vụ nghiên cứu

* Phạm vi nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong trong phạm vi nhất định

về mặt thời gian, không gian và lãnh vực nghiên cứu

1.3.3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

* Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên cứu mà

người nghiên cứu mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể đo lườnghay định lượng

_ Mục đích trước mắt của công trình nghiên cứu khoa học là để giải đáp được vấn đề trước đóchưa biết

_ Mục đích cụ thể: nhằm giải đáp câu hỏi thuộc về hiện tượng, về bản chất và về phươngpháp hành động

_ Mục đích cuối cùng: đem lài một sự hiểu biết chính xác về thực tế khách quan để đi đến biếtcách hành động

* Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên

cứu sẽ hoàn thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu Mục tiêu có thể đo lường hay địnhlượng được

Trang 4

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

2.1 Chọn chủ đề nghiên cứu

Chủ đề nghiên cứu là yếu tố rất quan trọng cần phải xác định trước khi xây dựng đề cươngnghiên cứu khoa học Chủ đề nghiên cứu cần phải kết hợp các yếu tố sau:

- Có sự yêu thích của người nghiên cứu;

- Đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hay lý luận;

- Theo xu thế phát triển của thời đại;

- Điều kiện cho phép nghiên cứu

2.2 Lập đề cương nghiên cứu

Đề cương nghiên cứu được xây dựng qua hai bước là lập đề cương tổng quát và lập đềcương chi tiết

2.2.1 Lập đề cương tổng quát: gồm các nội dung sau đây:

- Tên đề tài (title): ngắn gọn; thể hiện được mục tiêu, nội dung và kết quả dự kiến sẽ đạt

được

- Người chủ trì và người phối hợp: cung cấp thông tin về chuyên môn của thành viên chủ trì

và các thành viên phối hợp thực hiện

- Đặt vấn đề (justification/introduction): nêu những vấn đề hết sức căn bản liên quan đếnchủ đề nghiên cứu thông qua lược khảo một số tài liệu liên quan đến chủ đề nghiên cứu để chothấy tính cấp thiết phải thực hiện đề tài

- Mục tiêu của đề tài (objectives):nêu những mục tiêu chính của đề tài bao gồm các mụctiêu trước mắt và lâu dài

- Kết quả dự kiến (expectet outputs): sau khi kết thúc, đề tài đạt được kết quả như thế nào,cần phải được lượng hóa

- Nội dung nghiên cứu (activities): nêu lên những nội dung nghiên cứu chính mà dự kiến đềtài sẽ thực hiện

- Kế hoạch thực hiện (workplan / timeframe): nêu kế hoạch thời gian theo từng nội dungcông việc và tiến trình công việc theo từng nội dung (có thể trình bày dạng sơ đồ)

- Dự toán kinh phí và phương tiện (budget estimation and materials):dự kiến đầy đủ kinhphí và phương tiện phục vụ cho việc nghiên cứu

- Tài liệu tham khảo (references)

2.2.2 Phương pháp lập đề cương chi tiết (Research project): đề cương chi tiết gồm các

phần sau:

- Tên đề tài nghiên cứu (title): giống như đề cương tổng quát

- Đặt vấn đề: nêu những vấn đề căn bản liên quan đến chủ đề nghiên cứu qua lược khảo tài

liệu có liên quan và nêu lên tính cấp thiết tại sao phải thực hiện đề tài

- Lược khảo tài liệu (reference/literature review): giúp cho tác giả đề tài biết được những

thông tin về đề tài đã được nghiên cứu thông qua các kết quả đã đạt được, phương pháp đã thựchiện Qua đó giúp cho tác giả cũng cố nhận định của mình về mục tiêu, nội dung và phương phápnghiên cứu được trong đề cương

Trang 5

- Vật liệu và phương pháp nghiên cứu: đây là phần quan trọng của đề tài, vì nếu khi thực

hiện chọn phương pháp không phù hợp hay vật liệu không đáp ứng sẽ ảnh hưởng rất lớn giá trịcủa kết quả nghiên cứu Các yêu cầu chính là:

+ Nếu là thí nghiệm thì phải nêu rõ phương pháp áp dụng, vật tư mẫu vật sẽ được dùngtrong nghiên cứu, số thí nghiệm đã làm, số lần lặp lại của thí nghiệm

+ Nếu đề tài dạng điều tra phải xác định số mẫu thu, chọn địa điểm thu mẫu, tập huấn,chuẩn bị biểu mẫu…

+ Nêu rõ các chỉ tiêu thu thập và phương pháp xử lý, nên lượng hóa các chỉ tiêu để đánhgiá chính xác và tùy theo từng thí nghiệm mà chọn phương pháp xử lý phù hợp

- Kế họach thực hiện đề tài (workplan/timeframe):trình bày kế họach thời gian theo từng

nội dung công việc nghiên cứu, kể cả thời gian xử lý số liệu và viết báo cáo

-Dự trù kinh phí và vật tư thiết bị (budget estimation and materials):liệt kê nhu cầu

kinh phí cần cho họat động nghiên cứu (mẫu vật, hóa chất, thiết bị…), mua tư liệu, tổ chức hộithảo…

- Tài liệu tham khảo (reference lists): liệt kê những tài liệu tham khảo dùng cho việc

nghiên cứu

Trang 6

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VIẾT BÁO CÁO KHOA HỌC

Viết báo cáo khoa học là một công việc rất quan trọng Qua bài báo cáo khoa học người đọc

sẽ hiểu được công việc của người nghiên cứu và giá trị của công trình nghiên cứu Khi viết báocáo cần thực hiện qua hai bước:

3.1 Bước chuẩn bị

3.1.1 Lập kế họach: người viết cần xác định rõ những vấn đề nêu lên trong báo cáo.

3.1.2 Những vấn đề nêu trong báo cáo

Bài báo cáo cần phải có bố cục mạch lạc từ đầu đến cuối Phải có kết luận rõ ràng, chínhxác Người viết phải biết liên hệ các kết luận với những giả thuyết được nghiên cứu Kết luậnphải chắc chắn, số liệu phải hoàn chỉnh có thể công bố được

Cần phải xem xét lọai hình báo cáo thích hợp để công bố kết quả nghiên cứu Có thể đó làmột báo cáo ngắn hay dài hoặc chỉ mang tính chất trao đổi thông tin

3.1.3 Chọn tạp chí muốn xuất bản

Chọn những tạp chí thích hợp với nội dung cần công bố Tìm hiểu thời gian xuất bản khi đãduyệt là bao lâu, tính phổ biến của tạp chí đó như thế nào

3.1.4 Chọn tác giả bài viết

Thông thường một tác giả sẽ là người viết chính, những người cùng nghiên cứu và nhữngngười khác sẽ đóng góp ý kiến cho nội dung và cách trình bày bản thảo

3.1.5 Chọn bố cục của bài viết

Tham khảo hướng dẫn bố cục bài viết của tạp chí qui định, hay những qui định chung chomột báo cáo khoa học Bố cục báo cáo gồm có các phần:

- Giới thiệu

- Lược khảo tài liệu

- Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

- Kết quả thảo luận

- Tài liệu tham khảo

- Các phụ lục đính kèm (nếu có)

3.1.6 Tập hợp ý cho bài viết và phát thảo bài viết

Bài viết được viết bằng cách định rõ chủ đề sẽ được thảo luận trong từng phần của nộidung Cũng có thể triển khai các chủ đề và diễn đạt bằng câu chứa các ý định muốn diễn đạt chotừng chủ đề đó Sắp xếp các chủ đề muốn diễn đạt và cần làm nổi bật những vấn đề quan trọngcủa bài viết Nội dung của từng phần phải tương xứng nhau, tránh trường hợp không cân đối Sắpxếp thứ bậc cho mỗi chủ đề, nhưng không nên quá bốn bậc

Sau khi xác định các phần của bài viết, tiến hành theo các bước: viết mỗi phần bài viết lênmột trang giấy, ghi nháp các ý chính các vấn đề có liên quan của từng phần, sau đó là các bảng,biểu đồ hay hình ảnh, tài liệu tham khảo có liên quan

3.1.7 Trình bày các bảng, biểu đồ và hình minh họa

Bảng, biểu đồ và hình minh họa phải thể hiện rõ các thông tin mà tác giả muốn trình bày.Người đọc có thể nắm thông tin từ bảng, biểu đồ và hình minh họa mà không cần đọc bài viết, donhững thông tin đã được trình bày qua bảng, biểu đồ và hình minh họa

Hình ảnh cần thiết cho bài báo cáo, nhưng nên chọn các hình ảnh đặc sắc, tránh những hìnhảnh thông thường

3.1.8 Cách trình bày bảng số liệu

Trang 7

Hình dạng, kích cỡ và khung của bảng phải phù hợp với yêu cầu của báo cáo và nội dung

trình bày trong bảng phải đầy đủ, dễ hiểu và không phụ thuộc vào phần văn viết Các bảng phải

đánh dấu theo đúng thứ tự được nêu trong báo cáo và phải có tiêu đề trình bày đầy đủ, ngắn gọn

về nội dung của bảng Các số liệu trong bảng phải được sắp xếp sao cho người đọc dễ dàng hiểuđược những gì tác giả muốn trình bày, không cần sắp xếp các ý theo thứ tự thời gian Các số liệutrong bảng phải được làm tròn theo phép làm tròn số và tính ở mức có ý nghĩa nhất

Tránh dùng số mũ trong các tiêu đề, nên chuyển số liệu sang các đơn vị tương ứng và viết

ký hiệu đơn vị trên tiêu đề cột Ví dụ không nên dùng 10-3ml mà nên dùng 1µl

Các số liệu đã được xử lý bằng thống kê cần phải nêu ý nghĩa thống kê của chúng như: xácsuất, phương sai, độ lệch chuẩn Hiện nay có nhiều phần mềm thống kê, tùy theo mục đích mà sửdụng phần mếm cho hợp lý Tuy nhiên các nghiên cứu dạng mô tả không cần phải xử lý thốngkê

3.1.9 Hình minh họa

Hình hoặc biểu đồ minh họa và các chú thích của chúng phải là những phần riêng biệtkhông phụ thuộc vào phần văn viết và tự nó có thể giải thích nội dung mà không cần giải thích gìthêm Các hình phải được đánh số theo đúng trình tự được đề cập trong báo cáo

3.2 Bước viết bài

3.2.1.Tựa bài

Tựa bài viết nói lên được nội dung của bài viết Do đó tựa bài phải thật sự xúc tích, chínhxác và hàm chứa nội dung, tránh tựa bài quá dài dòng Tựa bài không dài quá 12 chữ và từ 100 ký

tự trở lại

3.2.2.Tác giả và địa chỉ (authors and addresses)

Ghi tất cả các tác giả của báo cáo, tác giả thứ nhất viết trước sau đó là các tác giả khác Nếunhư các tác giả ở những địa chỉ khác nhau thì đánh ký hiệu và viết chú thích bên dưới

3.2.3.Tóm tắt (Abstract)

Phần tóm tắt được viết dưới 3 dạng: thông tin, mô tả hay kết hợp hai dạng trên Phần tómtắt phải tóm lược rõ ràng những phần quan trọng của nội dung bài viết, phần nầy khoảng 150-200

từ (tuy nhiên nếu chủ đề đòi hỏi, có thể viết dài hơn) với 4 phần chính gồm:

- Mục tiêu báo cáo, không nên diễn giải dài dòng tựa bài

- Mô tả chung về phương pháp nghiên cứu sử dụng (nếu cần)

- Tóm lược các kết qủa nghiên cứu đã đạt được và giá trị của chúng, nhưng không nênnêu những vấn đề chưa sáng tỏ, hay những gì không đề cập trong bài viết

- Làm sáng tỏ ý nghĩa, giá trị của kết quả và khả năng ứng dụng

Phần tóm tắt tránh dùng biểu bảng, đồ thị, sơ đồ hay công thức, những thuật ngữ khôngthông dụng hay chữ viết tắt, không dùng chú thích hay trích dẫn theo tài liệu tham khảo

Tóm lại, phần tóm tắt phải nêu được: Mục tiêu, phương pháp (nếu cần), những kết quả quantrọng đạt được, giá trị kết quả và khả năng sử dụng

3.2.4 Giới thiệu (introduction)

Phần giới thiệu phải có 3 phần chính:

- Tổng quan đề tài nhằm giúp người đọc hiểu được bối cảnh đề tài

- Luận cứ dẫn đến nghiên cứu

- Mô tả mục tiêu của nghiên cứu

3.2.5 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu (material and methods)

Phần nầy chỉ cần mô tả vật liệu sử dụng và phương pháp làm không nêu ra nhận định nào cả

- Vật liệu: trình bày vật liệu và mô tả cách sử dụng khá chi tiết

Trang 8

- Phương pháp nghiên cứu: Nếu phương pháp sử dụng được nhiều người sử dụng phổbiến thì chỉ cần nêu phương pháp và tài liệu tham khảo, đối với phương pháp mới hayphương pháp có bổ sung thì cần mô tả kỹ, những phương pháp giống nhau chỉ mô tảmột lần, nhưng mô tả ngắn gọn chú ý các phần quan trọng như: nêu số thí nghiệm, sốnghiệm thức, số lần lập lại, điều kiện thí nghiệm Mô tả các phương pháp thu và xử lý

số liệu (tên chương trình và phương pháp xử lý thống kê

3.2.6 Kết quả thảo luận

Phần nầy mô tả ngắn gọn kết quả nghiên cứu đã đạt được gồm các số liệu nghiên cứukhoa học hoặc số liệu thực nghiệm Chúng được trình bày ở dạng bảng, đồ thị, sơ đồ hình, sốliệu thô thường được trình bày ở phần phụ lục Phần thảo luận phải căn cứ vào các dẫn liệu khoahọc thu được trong quá trình nghiên cứu của đề tài hoặc đối chiếu với kết quả nghiên cứu củacác tác giả khác thông qua các tài liệu tham khảo Đưa ra những ứng dụng có thể từ những kếtquả đạt được

Có 2 cách để trình bày kết quả và thảo luận:

1 Trình bày tất cả các kết quả đạt được, sau đó là phần thảo luận (hai phần nầy phảiđược trình bày ở hai phần riêng biệt) Cách trình bày này phổ biến ở các bài báo trong tạp chíkhoa học

2 Trình bày từng phần kết quả đạt được cùng với thảo luận

Khi trình bày kết quả thảo luận cần lưu ý:

- Nếu trình bày phần kết quả và thảo luận ở hai phần khác nhau thì ở phần thảo luận nêntóm tắt lại kết quả để gợi nhớ cho độc giả

- Đưa ra những lý do tại sao kết quả nghiên cứu này khác với kết quả nghiên cứu trướchay khác với những lý thuyết hoặc là giải thích những kết quả không mong muốn

- Dù có sự lặp lại của thông tin trong phần kết quả nghiên cứu và phần thảo luận, nhưngnên hạn chế sự lặp lại này

- Cách trình bày kết quả và cách thảo luận là rất khác nhau: Trình bày kết quả là nêu kếtquả đạt được và chúng phải hữu ích cho độc giả, phần thảo luận thì là phần bàn bạc, giải thíchchúng

- Không nên thảo luận kết quả đạt được trong nghiên cứu của mình “phù hợp”với kếtquả nghiên cứu của tác giả khác Có thể nói kết quả mình đạt được cũng được tác giả nào đótìm thấy…

3.2.7 Kết luận và đề nghị

Ở phần này, trình bày những kết quả mới của luận văn một cách ngắn gọn, không

có lời mô tả, bàn và bình luận thêm Kiến nghị những ứng dụng của kết quả và những nghiêncứu tiếp theo

Có nhiều cách để viết phần nầy, có thể sử dụng các cách viết sau đây:

- Chỉ trình bày kết quả mà không phải bình luận về nó, phần bình luận sẽ được trình bàytrong phần thảo luận

- Giải thích sơ lược các kết quả nhằm tạo sự liên kết giữa các kết quả được mô tả và sẽbinh luận các kết quả nầy sâu hơn trong phần thảo luận

- Kết hợp kết quả và thảo luận với nhau theo từng vấn đề

Trang 9

Các kết quả nằm trong mục tiêu đã đặt ra ban đầu, những vấn đề không quan trọng thìkhông nêu ra Trong một vài trường hợp có thể loại bỏ một số kết quả ra khỏi báo cáo, nhưngphải bảo đảm lượng thông tin mà báo cáo muốn trình bày

3.2.8 Tài liệu tham khảo

Trong phần danh mục tài liệu tham khảo thì tất cả tài liệu được đề cập đến trong bài viếtphải có trong danh mục này và phải được sắp theo thứ tự ABC Phải chắc chắn rằng nó đầy đủ

và chính xác để cho độc giả có thể tìm lại tài liệu đó trong thư viện Cách viết một tài liệutham khảo theo thứ tự sau:

Tên của tác giả: Viết hoa cả họ và tên của tác giả Nếu có nhiều tác giả thì chỉ có họ của

tác giả nước ngoài đầu tiên được đảo ra trước và theo sau bằng một dấu phẩy Các từ còn lạichỉ viết chữ cái đầu tiên hoa và có dấu chấm liền sau đó Tên cơ quan như là tác giả thì viếtnguyên Thí dụ: International Rice Research Institute, thay vì IRRI Tên tác giả Việt Nam thìviết họ và tên bình thường

Năm xuất bản: Viết theo ngay sau tên tác giả, có dấu chấm trước và sau năm.

Tựa của tài liệu: Chỉ viết hoa chữ đầu của từ đầu tiên mà thôi.

Tên của tạp chí hoặc bộ sách xuất bản: Thường được viết tắt.

Volume và trang: Được viết bằng chữ số Á Rập (Thí dụ: 2:120-125).

Đối với tài liệu tham khảo là sách thì sau phần tựa sách là: lần xuất bản thứ mấy, kế đến

là tên nhà xuất bản, nơi xuất bản và cuối cùng là số trang

Một số thí dụ về cách viết tài liệu tham khảo:

* Bài báo

- Tác giả người Việt

Họ, tên Năm xuất bản Tên bài báo Nhà xuầt bản Số báo (kỳ): số trang

Ví dụ: Nguyễn Công Đầy, 1930 Sự lây lan của bệnh lao Sci.Am 21(102):120-155

- Tác giả người nước ngoài

Họ, tên Năm xuất bản Tên bài báo Nhà xuầt bản Số báo (kỳ): số trang

Little, T.M.1978 If Galileo published in Hortscence Hortscence 13: 504-506

* Sách

- Một tác giả người Việt

Họ, tên Năm Tên sách Nhà xuất bản, quốc gia

Phạm Hoàng Hộ 1999.Cây cỏ Việt Nam Nhà xuất bản trẻ, Tp HCM, Việt Nam

- Một tác giả người nước mgoài

Họ, tên Năm Tên sách Nhà xuất bản, quốc gia,

Tortora, Funke 1992 Fundamentals of microtechnology The Bejamin/ CummngsPublishing Company, Inc

* Sách có nhiều tác giả

Ghi họ tên của các tác giả theo thứ tự như trong sách, sau đó trình bày giống như trường hợptrên

Phạm Văn Sổ, Bùi Thị Như Thuận 1991 Kiểm nghiệm thực phẩm Đại Học Bách Khoa

Hà Nội

* Tạp chí:

YOSHIKAMI, S., W.E ROBINSON and W.A HAGINS 1974 Topology of the outer

Trang 10

segment of retinal rods and cones revealed by a fluorescent probe Science 1179.

185:1176 Chỉ đọc tóm lược, không có bài gốc:

Fahn, A 1949 Nectaries of honey plants in Israel Palestine Journal of Botany.Jerusalem Series 4:206-224 (Abstract in the Bee World 33:68)

- Tập san:

HUMPHREY, R.R 1960 Forage production on Arizona Range V Pima, Pinal andSanta Cruz Counties Arizona Agric Exper Sta Bull 302

- Sách có nhiều bài báo cáo:

DALBY, A 1966 Protein synthesis in maize endosperm In T.M Edwin and

O.E Nelson (eds.) Proceedings of the high lysine corn conference, Washington, D.C CornIndustries Research Foundation pp 56-71

- Một chương trong sách:

STOKES, I.L 1971 Influence of temperature on the growth and metabolism ofyeasts pp 156-1680 In A.H ROSE and J.S HARRISON (eds.) In the yeasts Vol 2.Physiology and biochemistry of yeasts Academic Press, Ltd London

- Cơ quan như là tác giả:

International Rice Research Institute 1972 Annual report for 1972 Los Banos,Laguna, the Philippines pp.202-205

- Trích dẫn từ sự trích dẫn của một tác giả khác, không có bài gốc:

JIMENEZ, J.R 1968 The effect of the opaque-2 and floury-2 genes on theproduction of protein in maize endosperm Được trích dẫn bởi O.E Nelson 1969 Geneticmodification of protein quality in plants Adv Agron 21:171-194

3.2.9 Phụ lục (Appendix)

Phần phụ lục là phần không quan trọng trong bài viết, nhưng chúng là phần cung cấp thêm

để độc giả hiểu rõ hơn về luận văn Phần phụ lục là một nhóm của các vấn đề có liên quan Phầnphụ lục có thể trình bày chi tiết các bảng mà nó không thể trình bày trong bài viết, hay là nhữnghình ảnh minh họa, những ghi chú hay phương pháp kỹ thuật, thời khóa biểu thu thập số liệu, tàiliệu khó tìm, trường hợp quá dài không thể viết trong bài viết

Tất cả các phụ lục đều được đặt ở sau phần bài viết, không được đặt sau mỗi chương.Những vấn đề khác nhau được chia ra những phụ lục khác nhau Trong trường hợp khi có nhiềuphụ lục thì mỗi phụ lục có chữ số theo sau, hay là chữ theo sau (thí dụ: PHỤ LỤC 1, PHỤ LỤC

A, )

Nếu bài viết có một phụ lục thì có thể viết hay không cần tựa của phụ lục Trong trường hợp

có nhiều phụ lục thì mỗi phụ lục phải có tựa và cách trình bày cũng giống như trình bày chương

và chúng được thể hiện trong phần mục lục

Các dòng trong phụ lục thì không nhất thiết là hàng đơn hay hàng đôi, mà tùy thuộc vàocách trình bày của tài liệu gốc Khoảng cách hàng có thể không giống nhau giữa phụ lục này vớiphụ lục khác Những tài liệu hay là tình huống nghiên cứu thì nên viết các dòng cách nhau hàng

Trang 11

đơn Còn nếu trình bày một tiến trình thí nghiệm hay là giải thích thì khoảng cách giữa các dònggiống như trong bài viết.

Những tài liệu photo, chẳng hạn như tạp chí đã công bố, bảng in thử, hoặc bảng câu hỏi màchúng được trình bày riêng biệt với phần phụ lục thì chúng phải được đánh số bên gốc phải tranggiấy và chữ số nằm trong ngoặc Chữ số chỉ số tiếp tục trong bài viết, còn ngoặc kép chỉ chữ số

ấy không phải là chữ số gốc của tạp chí (tài liệu photo này có thể có những chữ số gốc của tạp chíhay không) Còn tài liệu photo nằm trong phần phụ lục thì nó phải được đánh số liên tục và giốngnhư trong bài viết Trường hợp này thì khi photo phải che đi phần chữ số của tạp chí gốc Sau đó,đánh số lại từng trang tiếp theo cách đánh số trang trong bài viết

3.2.10 Một số qui định khác khi viết báo cáo

- Chính tả

Lấy tự điển bách khoa mới nhất làm cơ sở để viết cho đúng chính tả Trongtrường hợp một từ mà có hai cách viết (Thí dụ: bác sĩ hay bác sỹ) thì chọn một và sử dụngtheo cách viết từ đó xuyên suốt trong luận văn

- Gạch dưới

Thông thường thì gạch dưới là biểu thị cho sự viết nghiêng (người viết không viếtnghiêng được) Ngày nay, việc sử dụng máy vi tính, thì cách viết nghiêng được sử dụng phổbiến hơn gạch dưới

Gạch dưới tên khoa học của sinh vật (nếu đã viết chữ nghiêng thì không cần gạchdưới), gạch riêng từng chữ chỉ giống và chỉ loài Chữ sp chỉ loài chưa biết, không gạch dưới.Tên khoa học dùng như tên chung không gạch dưới

Gạch dưới hay viết nghiêng cho những từ lạ trong bài viết Không dùng gạch dưới đểnhấn mạnh ý nghĩa

Tên cơ quan phải viết hoa theo đúng qui định về cách viết hoa trong văn phạm Việt Nam

- Chấm câu

Dùng dấu phẩy thay vì dùng ngoặc đơn nếu chỉ nhằm mục đích để làm rõ nghĩa Khi liệt kêmột nhóm có từ 3 yếu tố trở lên thì yếu tố thứ nhất cách yếu tố thứ hai là dấu phẩy

Thí dụ:

Đạm, lân và kali là 3 nguyên tố đa lượng cần thiết cho cây trồng

Tựa luận văn, tựa chương, tựa mục chính, tựa mục phụ và tựa đoạn không cần dấuchấm ở cuối

Dấu chấm câu, dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu chấm phẩy hay dấu hỏi phải được

đặt theo ngay sau ký tự cuối cùng Không được có khoảng trống giữa ký tự cuối với chúng

Sau chấm câu, dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu chấm phẩy hay dấu hỏi phải có một khoảngcách (1 space bar) trước khi viết chữ kế tiếp Trong những trường hợp viết tắt, thông thường thìsau dấu chấm không cách khoảng

Thí dụ: i.e., a.m

Trang 12

Khi dùng dấu ngoặc đơn hay ngoặc kép, từ đầu tiên phải sát với dấu ngoặc mở và từcuối sát với dấu ngoặc đóng, nghĩa là không được chừa khoảng cách giữa dấu ngoặc với

có khoảng trống phía sau dấu gạch đó

Thí dụ: Cây cao từ 50-60 cm

5x - 9x = -4x

Trang 13

CHƯƠNG 4: THU THẬP TÀI LIỆU VÀ ĐẶT GIẢ THUYẾT4.1 Tài liệu

4.1.1 Mục đích thu thập tài liệu

Thu thập và nghiên cứu tài liệu là một công việc quan trọng cần thiết cho bất kỳ hoạtđộng nghiên cứu khoa học nào Thu thập tài liệu để phục vụ các yêu cầu sau:

- Giúp cho người nghiên cứu nắm được phương pháp của các nghiên cứu đã thực hiệntrước đây

- Làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình

- Giúp người nghiên cứu có phương pháp luận hay luận cứ chặt chẽ hơn

- Có thêm kiến thức rộng, sâu về lĩnh vực đang nghiên cứu

- Tránh trùng lập với các nghiên cứu trước đây, vì vậy tránh mất thời gian, côngsức và tài chánh

- Giúp người nghiên cứu xây dựng luận cứ (bằng chứng) để chứng minh giả thuyết NCKH

4.1.2 Phân loại tài liệu nghiên cứu

Tài liệu nghiên cứu có thể chia ra 2 loại: tài liệu sơ cấp (hay tài liệu liệu gốc) và tài liệuthứ cấp

4.1.2.1 Tài liệu sơ cấp

Tài liệu sơ cấp là tài liệu mà người nghiên cứu tự thu thập, phỏng vấn trực tiếp, hoặcnguồn tài liệu cơ bản, còn ít hoặc chưa được chú giải Một số vấn đề nghiên cứu có rất

ít tài liệu, vì vậy cần phải điều tra để tìm và khám phá ra các nguồn tài liệu chưa đượcbiết Người nghiên cứu cần phải tổ chức, thiết lập phương pháp để ghi chép, thu thập số liệu.4.1.2.2 Tài liệu thứ cấp

Các nguồn tài liệu thứ cấp như: Sách giáo khoa, báo chí, bài báo, tập san chuyên đề, tạpchí, biên bản hội nghị, báo cáo khoa học, internet, sách tham khảo, luận văn, luận án, thông tinthống kê, hình ảnh, video, băng cassette, tài liệu-văn thư, bản thảo viết tay, …Đây là loại tài liệu

có nguồn gốc từ tài liệu sơ cấp đã được phân tích, giải thích và thảo luận

4.1.3 Nguồn thu thập tài liệu

Thông tin thu thập để làm nghiên cứu được tìm thấy từ các nguồn tài liệu sau:

• Luận cứ khoa học, định lý, qui luật, định luật, khái niệm,… có thể thu thập được từsách giáo khoa, tài liệu chuyên ngành, sách chuyên khảo,

• Các số liệu, tài liệu đã công bố được tham khảo từ các bài báo trong tạp chí khoahọc, tập san, báo cáo chuyên đề khoa học, …

• Số liệu thống kê được thu thập từ các Niên Giám Thống Kê: Chi cục thống kê, Tổngcục thống kê, …

• Tài liệu lưu trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chính sách, … thu thập từ các cơquan quản lý Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội

• Thông tin trên truyền hình, truyền thanh, báo chí, … mang tính đại chúng cũngđược thu thập, và được xử lý để làm luận cứ khoa học chứng minh cho vấn đề khoa học

4.2 Giả thuyết

Trang 14

4.2.1 Định nghĩa giả thuyết

Giả thuyết là sự tiên đoán để trả lời cho câu hỏi hay một nội dung nghiên cứu Giảthuyết phải được kiểm chứng bằng các cơ sở lý luận hoặc thực nghiệm mà không phải là sựquan sát hay mô tả hiện tượng sự vật

4.2.2 Các đặc tính của giả thuyết

- Giả thuyết có những đặc tính sau:

- Giả thuyết phải theo một nguyên lý chung và không thay trong suốt quá trình nghiên cứu

- Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế và cơ sở lý thuyết

- Giả thuyết càng đơn giản càng tốt

- Giả thuyết có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi

Một giả thuyết tốt phải thoả mãn các yêu cầu sau:

- Phải có tham khảo tài liệu, thu thập thông tin

- Phải có mối quan hệ nhân - quả

- Có thể thực nghiệm để thu thập số liệu

4.2.3 Cách đặt giả thuyết

Điều quan trọng trong cách đặt giả thuyết là phải đặt như thế nào để có thể thực hiện thínghiệm kiểm chứng “đúng” hay “sai” giả thuyết đó Vì vậy, trong việc xây dựng một giả thuyếtcần trả lời các câu hỏi sau:

1 Giả thuyết nầy có thể tiến hành thực nghiệm được không?

2 Các biến hay các yếu tố nào cần được nghiên cứu?

3 Phương pháp thí nghiệm nào (trong phòng, khảo sát, điều tra, bảng câu hỏi, phỏng vấn,

…) được sử dụng trong nghiên cứu?

4 Các chỉ tiêu nào cần đo đạt trong suốt thí nghiệm?

5 Phương pháp xử lý số liệu nào mà người nghiên cứu dùng để bác bỏ hay chấp nhận giảthuyết?

Một giả thuyết hợp lý cần có các đặc điểm chính sau đây:

• Giả thuyết đặt ra phải phù hợp và dựa trên quan sát hay cơ sở lý thuyết hiện tại (kiến thức vốn có,nguyên lý, kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu tương tự trước đây, hoặc dựa vào nguồn tài liệutham khảo), nhưng ý tưởng trong giả thuyết là phần lý thuyết chưa được chấp nhận

• Giả thuyết đặt ra có thể làm sự tiên đoán để thể hiện khả năng đúng hay sai (thí dụ, một tỷ lệ caonhững người hút thuốc lá bị chết do ung thư phổi khi so sánh với những người không hút thuốc

lá Điều này có thể tiên đoán qua kiểm nghiệm)

• Giả thuyết đặt ra có thể làm thí nghiệm để thu thập số liệu, để kiểm chứng hay chứng minh giảthuyết (đúng hay sai)

Trang 15

CHƯƠNG 5: PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU

Thu thập số liệu thí nghiệm là một công việc quan trọng trong NCKH Mục đích của thu thập

số liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa học có trước, từ quan sát và thực hiện thí nghiệm) là đểlàm cơ sơ lý luận khoa học hay luận cứ chứng minh giả thuyết hay tìm ra vấn đề cần nghiêncứu

Có 3 phương pháp thu thập số liệu:

- Thu thập số liệu bằng cách tham khảo các tài liệu được công bố

- Thu thập số liệu từ những thực nghiệm hay các thí nghiệm

- Thu thập số liệu phi thực nghiệm (lập bảng câu hỏi điều tra)

5.1 Phương pháp thu thập số liệu từ tham khảo tài liệu

Phương pháp nầy là dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp thu thập được từnhững tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứ để chứng minh giả thuyết

5.2 Phương pháp thu thập số liệu từ những thực nghiệm

5.2.1 Khái niệm

Trong phương pháp nầy, số liệu được thực hiện bằng cách: bố trí, quan sát, theo dõi, mô tả,cân đong, đo đạc qua các thí nghiệm Các nghiệm thức trong thí nghiệm được lặp lại để làmgiảm sai số trong thu thập số liệu

Phương pháp khoa học trong thực nghiệm gồm các bước như: lập giả thuyết, xác địnhbiến, bố trí thí nghiệm, thu thập số liệu để kiểm chứng giả thuyết

5.2.2 Định nghĩa các loại biến trong thí nghiệm

Trong nghiên cứu thực nghiệm, có 2 loại biến thường gặp trong thí nghiệm, đó là biếnđộc lập (independent variable) và biến phụ thuộc (dependent variable)

Biến độc lập (còn gọi là nghiệm thức): là các yếu tố, điều kiện khi bị thay đổi trên

đối tượng nghiên cứu sẽ ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm Điều đó cho thấy các kết quả

số liệu của biến phụ thuộc thu thập được thay đổi theo biến độc lập

Trong biến độc lập, thường có một mức độ đối chứng hay nghiệm thức đối chứng(chứa các yếu tố, điều kiện ở mức độ thông thường) hoặc nghiệm thức đã được xác định

mà người nghiên cứu không cần tiên đoán ảnh hưởng của chúng Các nghiệm thức còn lại sẽđược so sánh với nghiệm thức đối chứng hoặc so sánh giữa các cặp nghiệm thức với nhau

Biến phụ thuộc (còn gọi là chỉ tiêu thu thập): là những chỉ tiêu đo đạc và bị ảnh

hưởng trong suốt quá trình thí nghiệm, hay có thể nói kết quả đo đạc phụ thuộc vào sự thayđổi của biến độc lập Thí dụ: khi nghiên cứu sự tác động của NaOH đến việc sản xuấtchitin, các biến phụ thuộc ở đây có thể bao gồm: chất lượng vỏ tôm, nồng độ NaOH, thời gianđun,… và kết quả đo đạc của biến phụ thuộc ở các nghiệm thức khác nhau có thể khác nhau

5.2.3 Bố trí thí nghiệm để thu thập số liệu nghiên cứu

5.2.3.1 Đối tượng khảo sát

Để chọn đối tượng khảo sát trong thí nghiệm, công việc đầu tiên là phải xác định quần

Trang 16

thể (population) mà người nghiên cứu muốn đo đạc để thu thập kết quả Một quần thể bao gồmnhiều cá thể mang các thành phần và đặc điểm khác nhau mà ta muốn khảo sát Đối tượng khảosát thường được chia làm hai nhóm:

a) Nhóm khảo sát: đối tượng được đặt ra trong giả thuyết

b) Nhóm đối chứng: so sánh với nhóm khảo sát

5.2.3.2 Khung mẫu (sample frame)

Để bố trí và thu thập số liệu thí nghiệm nghiên cứu thì công việc trước tiên là thiết lậpkhung mẫu Khung mẫu cần xác định các cá thể trong quần thể mục tiêu (target population),

cỡ mẫu và phương pháp lấy mẫu

Có ba trường hợp tạo ra khung mẫu sai:

• Khung mẫu chứa quá nhiều cá thể, mà trong đó có cá thể không nằm trong quần thể mục tiêu

• Khung mẫu chứa quá ít cá thể, mà trong đó có cá thể nằm và không nằm trong quần thểmục tiêu

• Khung mẫu chứa tập hợp các cá thể không đúng hay khung mẫu không nằm trong quần thể mụctiêu

5.2.3.3 Phương pháp lấy mẫu

Trước khi đi vào chi tiết về phương pháp lấy mẫu, cần hiểu các định nghĩa có liên quanđến phương pháp, trình bày trong Bảng 5.1

Bảng 5.1 Các định nghĩa có liên quan đến phương pháp lấy mẫu

Mẫu (sample) Một phần hoặc tập hợp nhỏ cá thể của quần thể mục tiêu

được chọn đại diện cho quần thể để khảo sát nghiên cứu

Mẫu không xác suất

(non-probability sample)

Phương pháp trong đó việc chọn mẫu không có xác suất đồngđều hay các cá thể trong quần thể không có cơ hội được chọnnhư nhau

Mẫu xác suất

(probability sample)

Phương pháp chọn mẫu trong đó mỗi cá thể có một xác suất đặctrưng của mẫu và thường bằng nhau Hầu hết việc lấy mẫu xácsuất sử dụng cách lấy mẫu ngẫu nhiên để tạo ra mỗi cá thểtrong quần thể có cơ hội được chọn như nhau

Mục đích của tất cả các phương pháp lấy mẫu là đạt được mẫu đại diện cho cả quần thểnghiên cứu Khi chọn phương pháp lấy mẫu thì cần hiểu rõ các đặc tính của quần thể nghiên cứu

Trang 17

để xác định cỡ mẫu quan sát đại diện và để đánh giá tương đối chính xác quần thể.

Có hai phương pháp chọn mẫu: (1) Chọn mẫu không xác suất (không chú ý tới độ đồngđều) và (2) chọn mẫu xác suất (đề cập tới độ đồng đều)

* Chọn mẫu không có xác suất

Phương pháp chọn mẫu không xác suất là cách lấy mẫu trong đó các cá thể của mẫuđược chọn không ngẫu nhiên hay không có xác suất lựa chọn giống nhau

Điều này thể hiện trong cách chọn mẫu như sau:

• Các đơn vị mẫu được tự lựa chọn mà không có phương pháp

• Các đơn vị mẫu rất dễ dàng đạt được hoặc dễ dàng tiếp cận Thí dụ chọnnhững hộ trên những con đường dễ đi

• Các đơn vị mẫu được chọn theo lý do kinh tế, thí dụ trả tiền cho sự tham dự

• Các đơn vị mẫu được quan tâm bởi người nghiên cứu trong cách “điển hình”

của quần thể mục tiêu Thí dụ người nghiên cứu chỉ quan tâm đến các nhân vật điển hình trongquần thể nghiên cứu, để so sánh với các nhân vật khác

• Các đơn vị mẫu được chọn mà không có sự thiết kế rõ ràng (thí dụ: chọn 50

người đầu tiên đến buổi sáng)

Phương pháp chọn mẫu không có xác suất thường có độ tin cậy thấp Mức độ chính xáccủa cách chọn mẫu không xác suất tùy thuộc vào sự phán đoán, cách nhìn, kinh nghiệmcủa người nghiên cứu, sự may mắn hoặc dễ dàng và không có cơ

sở thống kê trong việc chọn mẫu

* Chọn mẫu xác suất

Cơ bản của việc chọn mẫu xác suất là cách lấy mẫu trong đó việc chọn các cá thể củamẫu sao cho mỗi cá thể có cơ hội lựa chọn như nhau, nếu như có một số cá thể có cơ hội xuấthiện nhiều hơn thì sự lựa chọn không phải là ngẫu nhiên

* Các phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

- Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản (simple random)

Cách đơn giản nhất của việc chọn các cá thể của mẫu trong cách chọn mẫu ngẫu nhiên

là sử dụng xác suất Việc lựa chọn n các cá thể từ một quần thể sao cho các cá thể có cơ hộibằng nhau hay một xác suất bằng nhau trong phương pháp nầy

Một cách chọn mẫu ngẫu nhiên khác là sử dụng bảng số ngẫu nhiên trong sách thống

kê phép thí nghiệm hoặc cách chọn số ngẫu nhiên bằng các chương trình thống kê trên máy tính

5.2.3.4 Xác định cỡ mẫu

Mục đích của việc xác định cỡ mẫu là để giảm đi công lao động và chi phí làm thínghiệm và điều quan trọng là chọn cỡ mẫu như thế nào mà không làm mất đi các đặc tính củamẫu và độ tin cậy của số liệu đại diện cho quần thể.Việc xác định cỡ mẫu là một cách lấy thống

kê theo độ ý nghĩa, nhưng đôi khi quá trình này cũng được bỏ qua và người nghiên cứu chỉ lấy

cỡ mẫu có tỷ lệ ấn định (như cỡ mẫu 10% của quần thể mẫu)

Trước khi xác định cỡ mẫu, phải thừa nhận mẫu cần xác định từ quần thể c ó sựphân phối bình thường Để xác định cỡ mẫu tối thiểu cần phải đánh giá trung bình quần thể µ.Khi chúng ta thu thập số liệu từ mẫu và tính trung bình mẫu Trung bình mẫu này thì khác vớitrung bình quần thể µ Sự khác nhau giữa mẫu và quần thể được xem là sai số Sai số biên(The margin of error) d thể hiện sự khác nhau giữa trung bình mẫu quan sát và giá trị trung

Trang 18

bình của quần thể µ được tính như sau:

d : sai số biên mong muốn

Zα/2: giá trị ngưỡng của phân bố chuẩn

n : cỡ mẫu

σ : độ lệch chuẩn quần thể

Sau đó chúng ta có thể tính cỡ mẫu cần thiết dựa trên khoảng tin cậy và sai số biên

Cỡ mẫu được tính qua chuyển đổi công thức trên là:

σ

n = Zα/2

d

Để tính được n thì phải biết σ , xác định khoảng tin cậy 1-∝ và giá trị trung bình µ trong

khoảng ±d Giá trị Zα/2 được tính qua Bảng 5.3

Bảng 5.3 Giá trị Zα/2

1- α 0,80 0,85 0,90 0,95 0,99

Zα/2 1,28 1,44 1,645 1,96 2,85

Theo qui luật, nếu như cỡ mẫu n < 30, chúng ta có thể tính σ từ độ lệch chuẩn mẫu S

theo công thức Ngoài ra chúng ta cũng có thể tính σ từ những quần thể tương tự hoặc từ cuộcthử nghiệm thí điểm, hoặc phỏng đoán

Thí dụ: Một người nghiên cứu muốn đánh giá hàm lượng trung bình củaphosphorus trong một ao hồ Một nghiên cứu trong nhiều năm trườc đây có một độ lệch chuẩnquần thể σ có giá trị là 1,5 gram/lít Bao nhiêu mẫu nước sẽ được lấy để đo hàm lượngphosphorus chính xác mà 95% mẫu có có sai số không vượt quá 0,1 gram

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu:

σ

n = Zα/2

d

Trang 19

Thay các tham số trên ta có:

Loại số liệu thu thập trong phương pháp phi thực nghiệm gồm số liệu được thu thập từ các câu hỏi có cấu trúc kín hoặc số liệu được thu thập từ các câu hỏi mở theo các phương pháp thu thập

số liệu

+ Câu hỏi mở: là dạng câu hỏi có số liệu thu thập không có cấu trúc hay số liệu khó

được mã hóa Câu hỏi cho phép câu trả lời mở và có các diễn tả, suy nghĩ khác nhau hơn là éphoặc định hướng cho người trả lời

+ Câu hỏi kín: là dạng câu hỏi có số liệu thu thập có thể tương đối dễ dàng phân tích,

mã hóa nhưng nó giới hạn sự trả lời Thí dụ, sinh viên các khóa học được đưa ra các câu hỏinhận xét về giáo trình, bài giảng, sách, … và được chỉ định trả lời theo thang đánh giá 5 mức độ(rất hài lòng: +2; hài lòng: +1; trung bình: 0; không hài lòng: -1; rất không hài lòng: -2) Đây làcác câu hỏi kín thể hiện sự mã hóa số liệu

5.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

Việc thu thập các thông tin, số liệu cần thiết phải chọn phương pháp thu thập số liệu chophù hợp Trong đó, phương pháp phỏng vấn là một cách được sử dụng chủ yếu Người phỏngvấn có thể thực hiện các cuộc phỏng vấn là cá nhân hoặc nhóm người ở nơi làm việc, ở nhà,ngoài ruộng đồng, ngoài đường, siêu thị hay ở một nơi nào đó đã thỏa thuận

Có hai phương pháp phỏng vấn: Phương pháp phỏng vấn - trả lời và phương

pháp sử dụng bảng câu hỏi - trả lời bằng viết

5.3.2.1 Phương pháp phỏng vấn - trả lời

Phỏng vấn là một loạt các câu hỏi mà người nghiên cứu đưa ra để phỏng vấn ngườitrả lời Phỏng vấn có thể được tổ chức có cấu trúc, nghĩa là người nghiên cứu hỏi các câu hỏiđược xác định rõ ràng; và phỏng vấn không theo cấu trúc, nghĩa là người nghiên cứu cho phépmột số các câu hỏi của họ được trả lời (hay dẫn dắt) theo ý muốn của người trả lời Đặcbiệt, khi áp dụng cuộc phỏng vấn không cấu trúc, người nghiên cứu thường sử dụng băng ghichép thì tốt hơn nếu không muốn ảnh hưởng đến người được phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn được áp dụng tốt trong trường hợp:

• Mục tiêu nghiên cứu chưa được hiểu rõ hoàn toàn Vấn đề và mục tiêu nghiên cứu có

Trang 20

thể sửa hoặc xem lại trong quá trình nghiên cứu.

• Một loạt các câu trả lời có khả năng chưa được biết trước Một số người trả

lời có thể trình bày các quan điểm mới mà người nghiên cứu chưa biết tới

• Người nghiên cứu cần có sự lựa chọn đề xuất hay trình bày thêm những câu hỏi dựa trênthông tin từ người trả lời

• Một số người trả lời có thể có thông tin chất lượng cao và người nghiên cứu mong muốn tìmhiểu sâu hơn với họ về đề tài nghiên cứu

• Các câu hỏi có liên quan tới kiến thức ẩn, không nói ra hoặc quan điểm cá nhân (thái độ, giátrị, niềm tin, suy nghĩ, …)

• Người nghiên cứu có thể cung cấp thêm thời gian và chi phí cho phỏng vấn và đi lại

• Một số người trả lời có những khó khăn trong cách diễn đạt bằng cách viết

• Chúng ta muốn công bố báo cáo có liên quan đến công bố chung

Phỏng vấn là phương pháp đặc biệt thích hợp khi người nghiên cứu không có cơ sở lý thuyết, lýluận hay suy nghĩ xác thực về vấn đề, trái lại mong muốn để hiểu và biết về quan điểm mới màkhông nhìn thấy trước được Nếu chọn phương pháp nầy, ngưởi trả lời phỏng vấn thường sẽ đưa

ra nhiều quan điểm mới hơn

* Phỏng vấn cá nhân

Đây là phương pháp trao đổi thông tin giữa người trả lời phỏng vấn và người phỏng vấn.Phương pháp này có những thuận lợi và không thuận lợi sau:

Thuận lợi:

• Người trả lời cho các thông tin tốt hơn so với các điều tra gởi qua bưu điện

• Trao đổi thông tin giữa 2 người nhanh hơn

• Dễ khai thác các câu trả lời cho các câu hỏi chuyên sâu hơn

• Người phỏng vấn dễ điều khiển, kiểm soát nếu có vấn đề

• Tạo động cơ và cảm hứng

• Có thể sử dụng một số cách để ghi chép dễ dàng

• Đánh giá được tính cách, hành động … của người trả lời phỏng vấn

• Có thể sử dụng các sản phẩm hay đồ vật để minh họa

• Thường để làm thử nghiệm trước cho các phương pháp khác

Không thuận lợi:

• Mất thời gian hơn so với các điều tra gởi qua bưu điện

• Cần thiết để sắp đặt ra cuộc phỏng vấn

• Thông thường cần phải đặt ra một bộ câu hỏi trước

• Có thể sai số ở người trả lời phỏng vấn khi họ muốn làm hài lòng hoặc gây

ấn tượng, hoặc muốn trả lời nhanh, suông sẽ

• Phải phỏng vấn nhiều người ở nhiều nơi khác nhau

• Một số câu hỏi cá nhân, riêng tư có thể làm bối rối cho người trả lời

• Việc ghi chép và phân tích có thể gây ra vấn đề - nếu chủ quan

* Phỏng vấn nhóm

Ngày đăng: 29/08/2017, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w