1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mã số thuế(MST) là gì và quyền lợi khi đăng ký và nộp thuế khi có MST thực trạng quản lý thu nộp thuế thông qua MST hiện nay

12 187 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 32,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm MST: Mã số thuế là một dãy các chữ số được mã hoá theo một nguyên tắc thống nhất để cấp cho từng người nộp thuế theo quy định của các Luật Thuế, Pháp lệnh phí và lệ phí gọi chu

Trang 1

Mục Lục

Phần I MST và các vấn đề liên quan 1

1 Khái niệm MST: 1

2 Cấu trúc MST: 1

3.Nguyên tắc cấp mã số thuế 2

4 Quyền lợi so với người không có MST: 3

Phần II Thực trạng quản lý và nộp thuế thông qua MST hiện nay 4

1.Các văn bản pháp luật về quản lý và nộp thuế thông qua MST: 4

2 Về chính sách thuế: 4

3 Về công tác quản lý: 4

Phần III Đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý và nộp thuế thông qua MST hiện nay và kiến nghị đề xuất 5

1.Những hạn chế còn tồn tại: 5

2 Nguyên nhân của hạn chế: 6

3.Kiến nghị- đề xuất: 6

Trang 2

Danh mục viết tắt

MST: Mã số thuế

TNCN: Thu nhập cá nhân

Trang 3

Phần I MST và các vấn đề liên quan

1 Khái niệm MST:

Mã số thuế là một dãy các chữ số được mã hoá theo một nguyên tắc thống nhất

để cấp cho từng người nộp thuế theo quy định của các Luật Thuế, Pháp lệnh phí và lệ phí (gọi chung là “pháp luật về thuế”), bao gồm cả người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Mã số thuế để nhận biết, xác định từng người nộp thuế và được quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc

2 Cấu trúc MST:

Mã số thuế được cấu trúc là một dãy số được chia thành các nhóm như sau:

N 1 N 2 N 3 N 4 N 5 N 6 N 7 N 8 N 9 N 10 N 11 N 12 N 13

Trong đó:

Hai chữ số đầu N1 N 2 là số phân khoảng tỉnh cấp mã số thuế được quy định theo

danh mục mã phân khoảng tỉnh

Bảy chữ số N3 N 4 N 5 N 6 N 7 N 8 N 9 được đánh theo số thứ tự từ 0000001 đến

9999999 Chữ số N10 là chữ số kiểm tra.

Mười số từ N1 đến N10 được cấp cho đơn vị chính và doanh nghiệp thành viên.

Ba chữ số N11 N 12 N 13 là các số thứ tự từ 001 đến 999 được cấp cho từng đơn vị

trực thuộc của đơn vị chính và doanh nghiệp thành viên

3.Nguyên tắc cấp mã số thuế

a) Tổ chức, cá nhân theo qui định:

 Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ, hàng hoá

 Cá nhân có thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân

 Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ và nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật

 Tổ chức được ủy quyền thu phí, lệ phí

 Tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài hành nghề độc lập kinh doanh tại Việt Nam phù hợp với luật pháp Việt Nam có thu nhập phát sinh tại Việt Nam

 Tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến các vấn đề về thuế như: các Ban quản

lý dự án, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức, cá nhân không phát sinh nghĩa vụ nộp thuế nhưng được hoàn thuế, hoặc được tiếp nhận hàng viện trợ từ nước ngoài

 Tổ chức, cá nhân khác có phát sinh khoản phải nộp Ngân sách nhà nước

Được cấp một mã số thuế duy nhất để sử dụng trong suốt quá trình hoạt động từ khi đăng ký thuế cho đến khi chấm dứt hoạt động, trừ các trường hợp quy định tại

điểm d, đ, e khoản này Mã số thuế được dùng để khai thuế, nộp thuế cho tất cả các

Trang 4

loại thuế mà người nộp thuế phải nộp, kể cả trường hợp người nộp thuế kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh tại các địa bàn khác nhau

Mã số thuế đã cấp không được sử dụng để cấp cho người nộp thuế khác Tổ chức kinh doanh khi chấm dứt hoạt động thì mã số thuế chấm dứt hiệu lực và không được

sử dụng lại

Mã số thuế đã cấp cho người nộp thuế là chủ hộ kinh doanh hoặc một cá nhân

không thay đổi trong suốt cuộc đời của cá nhân đó, kể cả trường hợp đã ngừng hoạt

động kinh doanh sau đó kinh doanh trở lại

Mã số thuế của doanh nghiệp sau khi chuyển đổi loại hình doanh nghiệp được giữ nguyên

Đối với doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, mã số thuế đồng thời

là mã số doanh nghiệp

b) Mã số thuế 10 số (N1N2N3N4N5N6N7N8N9N10) được cấp cho:

Tổ chức, cá nhân nêu như mục a, trừ các trường hợp quy định tại mục c

c) Mã số thuế 13 số (N1N2N3N4N5N6N7N8N9N10 N11N12N13) được cấp cho:

- Các chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp có phát sinh nghĩa vụ thuế kê khai nộp thuế trực tiếp với cơ quan thuế;

- Đơn vị sự nghiệp trực thuộc tổng công ty, trực thuộc doanh nghiệp có phát sinh nghĩa vụ thuế

Các tổ chức, cá nhân được quy định tại điểm này được gọi là “Đơn vị trực thuộc”, đơn

vị có “đơn vị trực thuộc” được gọi là “đơn vị chủ quản” Đơn vị trực thuộc trước khi đăng ký thuế với cơ quan thuế quản lý trực tiếp thì đơn vị chủ quản phải kê khai các đơn vị này vào “Bảng kê các đơn vị trực thuộc” để cơ quan thuế cấp mã số thuế 13 số

d) Cấp mã số thuế cho người nộp thuế là nhà thầu, nhà đầu tư tham gia hợp đồng dầu khí

Đối với hợp đồng tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí (sau đây gọi chung là

“hợp đồng dầu khí”), mã số thuế 10 số được cấp cho: Người điều hành (Công ty điều hành chung) theo từng hợp đồng dầu khí; Doanh nghiệp liên doanh đối với hợp đồng dầu khí được ký kết dưới hình thức hợp đồng liên doanh

Trường hợp hợp đồng dầu khí quy định mỗi nhà thầu, nhà đầu tư phải thực hiện nghĩa vụ thuế riêng thì nhà thầu, nhà đầu tư tham gia hợp đồng được cấp mã số thuế 13 số (kể cả nhà thầu, nhà đầu tư là Người điều hành và nhà thầu nhận phần lãi được chia) theo mã số thuế 10 số của Người điều hành để thực hiện kê khai, nộp thuế

và quyết toán thuế đối với từng hợp đồng dầu khí

e) Cấp mã số thuế cho nhà thầu nước ngoài đăng ký nộp thuế trực tiếp với cơ quan thuế

Nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài đăng ký nộp thuế trực tiếp với cơ quan thuế thì được cấp mã số thuế 10 số theo từng hợp đồng thầu đã ký

f) Cấp mã số thuế cho Bên Việt Nam nộp thuế thay cho nhà thầu nước ngoài.

Trang 5

Nhà thầu và nhà thầu phụ nước ngoài không đăng ký nộp thuế trực tiếp với cơ quan thuế thì bên Việt Nam ký hợp đồng với nhà thầu có trách nhiệm khai và nộp thuế cho bên nước ngoài Bên Việt Nam được cấp mã số thuế 10 số để sử dụng cho việc khai, nộp thuế cho các nhà thầu, nhà thầu phụ nước ngoài

Trang 6

4 Quyền lợi so với người không có MST:

 Tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc: đối với bản thân người có MST sẽ được trừ 4 triệu đồng/tháng và trừ 1,6 triệu đồng/tháng/người cho người phụ thuộc

 Giảm thuế nếu bị thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc bị bệnh hiểm nghèo

 Được hoàn thuế thu nhập cá nhân nếu nộp thừa: nếu số thuế bị khấu trừ hàng tháng nhiều hơn số thuế thực sự bạn phải nộp, thì theo luật thuế, bạn sẽ được hoàn lại số thuế nộp thừa bằng tiền khi bạn có mã số thuế cá nhân

 Được cung cấp các dịch vụ về thuế nhanh chóng, thuận tiện: Những người có

mã số thuế cá nhân, cơ quan thuế sẽ có thể hướng dẫn miễn phí về thuế

Trang 7

Phần II Thực trạng quản lý và nộp thuế thông qua MST hiện nay

1.Các văn bản pháp luật về quản lý và nộp thuế thông qua MST:

Luật Quản Lý Thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc Hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 năm 2006 ra đời là cơ sở để tiến hành, thực hiện việc quản lý thu thuế ở nước ta theo đúng quy trình thủ tục và theo đúng các quy định của pháp luật

Ngoài ra, còn có một số văn bản liên quan đến quản lý thuế thong qua MST đó là:

- Thông tư số 85/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 5 năm 2007 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế

- Thông tư số 60/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày14/6/2007 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chitiết thi hành một

số điều của Luật Quản lý thuế

- Thông tư số 80/2012/TT-BTC hướng dẫn luật quản lý thuế về đăng ký thuế

2 Về chính sách thuế:

Hệ thống chính sách đạt được xây dựng đồng bộ có cơ cấu hợp lý bao quát hầu hết các nguồn thu, thực sự trở thành công cụ quan trọng của Đảng và Nhà nước điều tiết

vĩ mô nền kinh tế theo hướng khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và chủ động hội nhập kinh

tế quốc tế

Việc nộp thuế thông qua MST cá nhân tạo sự đồng bộ, nâng cao tính rõ ràng minh bạch; tăng cường vai trò kiểm tra giám sát của Nhà nước, xã hội trong công tác quản lý thuế; tạo môi trường thuận lợi cho người nộp thuế tuân thủ pháp luật về thuế, tự giác nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước qua mã số thuế

Trang 8

3 Về công tác quản lý:

Công tác quản lý thuế đã thay đổi phương thức quản lý theo cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm về thực hiện nghĩa vụ thuế theo pháp luật thuế; Cơ quan thuế thực hiện quản lý thuế chủ yếu theo chức năng kết hợp một phần với quản lý theo đối tượng (tuyên truyền hỗ trợ, hướng dẫn, kiểm tra, kiểm soát, thanh tra,…)

và hướng tới quản lý rủi ro dựa trên cơ sở thông tin về người nộp thuế thông qua MST cá nhân, các chức năng quản lý ngày càng chú trọng về chiều sâu và chiều rộng

Ý thức chấp hành pháp luật của người nộp thuế qua MST cũng được nâng cao hơn qua thực hiện cơ chế cơ sở sản xuất kinh doanh tự tính, tự khai, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Thông qua thực hiện 10 chương trình cải cách và hiện đại hóa công tác thuế đặc biệt là áp dung MST cá nhân đã tạo thuận lợi hơn cho

cơ quan thuế trong thực thi nhiệm vụ và người nộp thuế được tạo thuận lợi tối đa để tự thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật, đặc biệt trong xây dựng thế chế

và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế

Các Chi cục phân công cán bộ có năng lực nghiệp vụ giỏi tiến hành làm thủ tục hành chính thuế và hướng dẫn kê khai nộp thuế, thành lập các đường dây nóng, các kênh thông tin cần thiết, thích hợp, nhanh chóng và hiệu quả nhất để có thể tư vấn, hỗ trợ và giải đáp những vướng mắc cho các đối tượng nộp thuế

Thông qua MST cá nhân, thủ tục nộp hồ sơ khai thuế đơn giản, nhanh gọn, hiệu quả cao và an toàn, không giới hạn về không gian, thời gian trong ngày, tiết kiệm thời gian, chi phí cho người nộp thuế; đơn giản hoá và cải cách triệt để thủ tục hành chính trong quy trình thu nộp thuế, giảm thời gian nộp thuế, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nộp thuế; giúp người nộp thuế thuận tiện hơn trong việc tiếp cận các thông tin liên quan đến thuế

Trang 9

Phần III Đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý và nộp thuế thông qua MST hiện nay và kiến nghị đề xuất.

1.Những hạn chế còn tồn tại:

Không thể phụ nhận những lợi ích to lớn của việc nộp thuế qua MST cá nhân nhưng vẫn còn những hạn chế cần khắc phục để phát huy tối đa hiệu quả hoạt động

- Số lượng đối tượng nộp thuế TNCN quá lớn trong thời gian qua việc cấp mã

số thuế trở nên khó khăn khó quản lý về tính xác thực của cá nhân đăng ký Dẫn đến việc các DN đăng ký khống mã số thuế để tăng chi phí giảm thuế thu nhập DN do việc đăng ký đơn giản chỉ cần số chứng minh thư nhân dân Bên cạnh đó những người đó

sẽ gặp khó khăn trong quá trình sau này

- Việc người nộp thuế chưa có mã số thuế sẽ gây thiệt hại cho chính người nộp thuế vì phải nộp thuế TNCN với tỷ lệ trích cao hơn Đặc biệt, việc các cá nhân phụ thuộc không có mã số thuế dẫn đến khe hở và khó kiểm soát chính xác vấn đề giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc, từ đó, gây thất thu thuế TNCN Việc kê khai giảm trừ gia cảnh chủ yếu là dựa vào ý thức của đối tượng nộp thuế Điều này đã tạo ra khe

hở trong việc kê khai số người phụ thuộc

(Thực tế cho thấy, hiện nay nhiều địa phương khi nhận được một số đơn đề nghị xác nhận đối tượng cư trú có trách nhiệm nuôi dưỡng người phụ thuộc ở địa phương khác (ông, bà, cháu ở quê), họ không thể nào xác định được mối quan hệ của người phụ thuộc đang sống ở tỉnh khác và người dân đang cư trú trên địa bàn, càng không thể nào biết được có đúng là người dân đang cư trú trên địa bàn có trách nhiệm nuôi dưỡng người đang sống ở tỉnh khác hay không, dẫn tới tình trạng nơi thì chứng nhận hết một cách quá dễ dàng, nơi thì từ chối chứng nhận gây khó khăn cho người dân.

Và cũng theo phản ánh của người dân thì một trong những khó khăn mà họ gặp phải

là xin hồ sơ để xác định đối tượng phụ thuộc không có thu nhập.)

Trang 10

2 Nguyên nhân của hạn chế:

Những hạn chế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả từ những bất cập trong quy định của luật thuế, cũng như từ những yếu tố khác, như:

- Nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế ưa chuộng tiền mặt, phần lớn các khoản thu nhập cá nhân đều được chi trả bằng tiền mặt, do đó, khó có thể tạo ra cơ chế kiểm soát thu nhập cá nhân một cách chính xác và hiệu quả

- Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành thuế với các cấp chính quyền địa phương, với các tổ chức, cơ quan liên quan trong việc hợp tác triển khai Luật thuế TNCN, dẫn đến những khó khăn trong việc xác định và quản lý gia cảnh người nộp thuế, quản lý hoạt động của các cá nhân kinh doanh tự do, hành nghề độc lập,

- Hiện tượng tiêu cực và bất công trong việc nộp thuế TNCN vẫn chưa được xử lý triệt

để, làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả thực tế và công bằng của Luật thuế, gây một số bức xúc trong quần chúng nhân dân

- Trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành Luật của một bộ phận lớn dân cư còn hạn chế, tâm lý trốn thuế còn lan truyền, trong khi lực lượng cán bộ thuế còn mỏng, không thể thực hiện thanh tra kiểm tra thuế TNCN trên diện rộng để phát hiện các hành vi vi phạm và xử lý

Trang 11

3 Kiến nghị- đề xuất:

- Thứ nhất, cần đẩy mạnh hơn nữa việc đăng ký và cấp mã số thuế cá nhân, tiến tới

mỗi công dân đều có một mã số để theo dõi quản lý, không phân biệt có thu nhập chịu thuế hay không có thu nhập chịu thuế

- Thứ hai, để cơ chế tự khai, tự nộp thuế TNCN phát huy hiệu quả, cần tăng cường

công tác hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức hệ thống thông tin dịch vụ kế toán, kê khai và tính thuế Đồng thời nên có cơ chế khuyến khích các đối tượng nộp thuế tự nguyện áp dụng phương pháp tự khai tự nộp thuế qua MST cá nhân, chẳng hạn như cho phép được hưởng các khoản khấu trừ đặc biệt hoặc các chế độ ưu đãi khác

- Thứ ba, cùng với việc hoàn thiện cơ chế tự khai tự nộp thuế, thì công tác thanh tra

kiểm tra xử lý vi phạm pháp luật thuế TNCN cần được đẩy mạnh, đòi hỏi cơ quan thuế phải tập trung lực lượng lớn vào việc tuyên truyền và thanh tra kiểm tra việc chấp hành luật thuế Cơ quan thuế phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng như

cơ quan công an, cơ quan ngoại vụ, cơ quan quản lý lao động, để nắm bắt kịp thời thông tin về đối tượng nộp thuế, nguồn phát sinh thu nhập, có biện pháp phân loại đối tượng nộp thuế thành các nhóm khác nhau để thanh tra, kiểm tra một cách có hiệu quả

- Thứ tư, kiện toàn tổ chức bộ máy thuế, chú trọng việc bồi dưỡng nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực của ngành thuế song song với việc tăng cường cơ sở vật chất cho ngành thuế theo hướng hiện đại hóa công tác quản lý thuế

- Thứ năm, tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền phổ biến Luật thuế TNCN

nhằm nâng cao trình độ hiểu biết, ý thức tuân thủ của người nộp thuế Để công tác tuyên truyền đạt hiệu quả cao cần phải: đa dạng hóa hình thức và phương pháp tuyên truyền về thuế TNCN; định kỳ tổ chức điều tra trắc nghiệm đối với người nộp thuế để đánh giá mức độ hiểu biết về pháp luật thuế TNCN và MST cá nhân

- Thứ sáu, phát triển hình thức thanh toán không dùng tiền mặt trong toàn bộ nền kinh

tế quốc dân, hướng tới việc quản lý thu nhập của cá nhân qua hệ thống ngân hàng, có như vậy mới có thể kiểm soát được thu nhập cá nhân, đạt được mục tiêu thu đúng, thu

đủ thuế TNCN cho ngân sách nhà nước

- Thứ bảy, để nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế TNCN qua MST cần phải tăng

cường phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan chức năng của các ngành, các lĩnh vực có liên quan, trong đó, phải đề cao vai trò và thẩm quyền của cơ quan thuế trong việc giám sát thu nhập, thanh tra kiểm tra thuế, xử lý vi phạm và cưỡng chế thuế Với đặc trưng của thuế TNCN, trước hết, phải nói đến sự phối hợp giữa cơ quan thuế với BHXH, với ngân hàng và Kho bạc Nhà nước

Ngày đăng: 28/08/2017, 23:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w