Đối với mỗi đất nước trong đó có Việt Nam, việc di cư của người dân cũng thể hiện sự tồn tại của mỗi quốc gia trước thách thức cuộc sống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân công lao
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ.
Con người sinh ra có nhu cầu tồn tại và phát triển Để phục vụ nhu cầu thiết yếu của bản
thân mình, từ ngày xưa con người đã phải di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác
tìm những nơi thích hợp cho sự sinh tồn Khi xã hội ngày càng phát triển, con người di cư theo nhu cầu tăng lên không ngừng Như vậy chúng ta thấy di cư là một hiện tượng mang
tính quy luật khách quan
Đối với mỗi đất nước trong đó có Việt Nam, việc di cư của người dân cũng thể hiện sự
tồn tại của mỗi quốc gia trước thách thức cuộc sống và có ý nghĩa quan trọng trong việc
phân công lao động lãnh thổ, thể hiện sự phù hợp với xu thế chung của sự phát triển
Trong lịch sử Việt Nam di dân luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước
Từ khi bước vào thời kỳ “Đổi Mới”, di cư trong nước và tác động của nó tới quá trình đô
thị hóa đã trở thành một bộ phận quan trọng của quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh
chóng ở Việt Nam Di cư trong nước đã tăng lên nhanh chóng với tốc độ chưa từng có
trong hai thập kỷ qua Cụ thể theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê năm 2009 thì
số lượng dân di cư giữa các tỉnh tăng từ 1,3 triệu người năm 1989 lên 2 triệu người năm
1999 và lên 3,4 triệu người năm 2009 trong đó nhóm di cư từ nông thôn ra thành thị là nhóm di cư có tốc độ tăng nhanh nhất bởi sức hấp dẫn về chất lượng, điều
kiện cuộc sống ở các thành phố lớn đã thúc đẩy sự tăng trưởng dân số mạnh mẽ ở khu
vực thành thị Điều này đã có tác động to lớn tới quá trình phát triển kinh tế của đất
nước Trong khi có đóng góp tích cực cho bản thân người di cư và sự phát triển của nơi
Trang 2đến thì bên cạnh đó di cư cũng góp phần làm gia tăng khoảng cách kinh tế - xã hội giữa
thành thị và nông thôn Các khu vực nông thôn và các vùng xuất cư chịu nhiều thiệt thòi
hơn trong khi khu vực thành thị đặc biệt là các thành phố lớn, vùng nhập cư lại được
hưởng lợi từ những người di cư trẻ tuổi, thường là những người có vốn xã hội tốt hơn
Di cư trong nước, Nguyên nhân chủ yếu vì lý do việc làm hay tìm kiếm một cuộc sống
tốt hơn đã trở thành một phần của quá trình tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng đồng thời
cũng tạo ra những thách thức lớn cần phải giải quyết trong quá trình phát triển kinh tế và
con người của đất nước Vì vậy, cần có sự quan tâm lớn hơn đối với vấn đề di cư và đô
thị hóa của Nhà nước, chính quyền địa phương
Trang 3NỘI DUNG
I Di cư và nguyên nhân của việc di cư.
1 Khái niệm di cư.
Ngày nay, đã có rất nhiều các lý thuyết nghiên cứu về hiện tượng di dân Di dân, hiểu theo nghĩa rộng là sự dịch chuyển bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn Hiểu theo nghĩa hẹp thì di dân là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới trong một không gian, thời gian nhất định
Theo Liên hiệp quốc năm 1958 thì “Di dân là một hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị địa lý hành chính này đến một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng thời gian di dân xác định”
Di dân hay di cư bao gồm hai quá trình: xuất cư và nhập cư
- Xuất cư (emigration): là quá trình chuyển đi của dân cư từ một vùng hay một quốc gia này sang một vùng hay một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hoặc tạm thời (trong một khoảng thời gian dài)
- Nhập cư (immigration): là quá trình chuyển đến của dân cư từ một vùng hay một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hay tạm thời (trong một khoảng thời gian dài)
Cả hai quá trình xuất cư và nhập cư đều có những ảnh hưởng đến cơ cấu và động lực tăng dân số của một vùng hay một quốc gia, nhất là quá trình nhập cư đôi khi đóng vai trò quyết định trong việc hình thành dân cư ở một số khi vực
2 Nguyên nhân di cư.
Có nhiều yếu tố tác động dẫn đến sự di chuyển của dân cư.Các yếu tố này thuộc về các điều kiện tự nhiên (như khí hậu, địa hình, đất đai, tài nguyên…) hay các điều kiện kinh
tế, chính trị, xã hội và chính sách dân số của quốc gia Sự thuận lợi hay khó khăn của các yếu tố này ở các vùng sẽ tạo nên lực hút hay lực đẩy của mỗi vùng mà có ảnh hưởng tới
sự chuyển đến hay ra đi của dân cư Qúa trình di dân xảy ra khi có sự khác biệt nhất định giữa vùng đi và vùng đến về một số yếu tố đặc trưng như kinh tế, việc làm, thu nhập, tài nguyên thiên nhiên và môi trường; yếu tố dân cư và xã hội; sự thay đổi về tiến bộ kỹ thuật và công nghệ Ngoài ra, yếu tố lực hút và lực đẩy còn bao gồm những yếu tố cá
Trang 4nhân như tình trạng hôn nhân, gia đình, thay đổi nghề nghiệp, việc làm,…; các yếu tố khác như thiết chế xã hội
Từ những điều đó chúng ta có thể rút ra những nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng di cư của người dân từ nông thôn ra thành thị có thể đưa ra một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Thứ nhất: nguyên nhân kinh tế: hầu hết các nhà kinh tế học, các nhà xã hội học
đều nhất trí rằng hiện tượng di cư của người dân từ nông thôn ra thành thị có thể được giải thích chủ yếu bằng nguyên nhân kinh tế Những nhân tố này bao gồm không chỉ bởi lực đẩy quen thuộc từ nơi xuất cư như: thiếu đất canh tác, thiếu việc làm, thu nhập thấp,
… mà còn bởi lực hút từ những nơi nhập cư: cơ hội việc làm có tính ổn định, thu nhập cao hơn so với nơi ở cũ… Các nghiên cứu gần đây cho thấy: tiền lương, thu nhập, việc làm, mức độ thất nghiệp… đều ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định di cư của người dân
- Thứ hai, nguyên nhân vấn đề chất lượng cuộc sống: những người di dân muốn
có cuộc sống tốt đẹp hơn thông qua cuộc sống ở thành thị, nơi có ánh đèn rực rỡ của thành phố, nơi đó có các phương tiện giao thông, phương tiện thông tin đại chúng… được hiện đại hóa, nơi có hệ thống giáo dục, y tế, dịch vụ phát triển;
- Thứ ba, nguyên nhân vấn đề về phong tục tập quán và các nhân tố xã hội khác
cũng tác động sâu sắc tới quá trình di dân từ nông thôn ra thành thị, ví dụ như những người di dân muốn thoát khỏi những ràng buộc truyền thống, những phong tục tập quán
cổ hủ, lạc hậu ở nông thôn; vấn đề đi học của con cái và đoàn tụ gia đình cũng là những lực hút của dòng di dân từ nông thôn ra thành thị
- Thứ tư, nguyên nhân về môi trường tự nhiên đang là tác nhân đã và đang tác
động đến xu thế di cư Người ta đánh giá rằng tác động lớn nhất của sự thay đổi khí hậu đối với con người chính là việc khiến họ phải di chuyển Điều kiện khí hậu ven biển, hiện tượng xói mòn ven biển gia tăng và mùa màng thất bát là nguyên nhân khiến hàng triệu người phải rời khỏi nơi cư trú của mình Các số liệu khoa học cho thấy sự thay đổi về khí hậu toàn cầu, Việt Nam sẽ là một trong những nước chịu nhiều thiệt hại nặng nề nhất của
sự thay đổi khí hậu, trong đó người nghèo, người dân tộc thiểu số, phụ nữ nông thôn, người già và trẻ em chịu sự tác động nặng nề hơn các đối tượng khác Di cư sẽ trở thành
Trang 5phương thức giúp người dân đương đầu và thích nghi với những thay đổi này bằng cách
di cư tạm thời hoặc di cư lâu dài nhằm đảm bảo đảm sự an toàn và ổn định cuộc sống
Lý thuyết lực hút và lực đẩy đã đưa ra quy luật chung của di dân là dân cư sẽ di chuyển
từ nơi có đời sống thấp đến nơi có đời sống cao hơn, từ vùng có điều kiện tự nhiên kém thuận lợi đến vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn Phong trào di dân ngày càng mạnh mẽ theo sự tiến bộ ngày càng cao của xã hội Chính sự thay đổi về tiến bộ khoa học
kỹ thuật dẫn đến sự hình thành các vùng trung tâm phát triển như khu công nghiệp, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp… sẽ thu hút các dòng dân di cư
Cụ thể ở vùng nông thôn xa xôi thường là nơi ra đi của lực lượng lao động trẻ, bởi vì ở đó không có các cơ hội kinh tế, lối sống buồn tẻ, ít cơ hội phát triển Ngược lại, các trung tâm công nghiệp, đô thị hay thành phố lớn thường là những nơi có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trẻ vùng nông thôn vì có nhiều cơ hội việc làm, học tập, tiện nghi sinh hoạt
và những triển vọng tương lai đầy sáng lạng… từ đó hình thành nên luồng chuyển cư đặc trưng nông thôn - thành thị
Trang 6II Thực trạng di cư hiện nay ở Việt Nam.
1 Di cư, đặc biệt là di cư giữa các tỉnh đã tăng mạnh cả về số lượng và tỷ lệ hơn hẳn so với thập kỷ trước đó.
Tốc độ di dân gia tăng nhanh, quy mô ngày một lớn, tác động không nhỏ tới mỗi gia đình
và từng quốc gia Trên thế giới, di dân đã được khẳng định là vấn đề của thời đại, mang tính toàn cầu.Đây cũng là vấn đề lớn mà Việt Nam đang phải đối mặt
Trong số hơn 78 triệu dân từ 5 tuổi trở lên trong năm 2009, có 2,1 % hay tương ứng với 1,6 triệu người di cư trog huyện; 2,2% hay 1,7 triệu người di cư giữa các huyện; 4,3% hay 3,4 triệu người di cư giữa các tỉnh, và có một tỉ lệ rất nhỏ chiếm 0,1 % hay 40.990
Nguồn : Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009.
Số người % Số người % Số người %
Di cư trong huyện - - 1.342.568 2,0 1.618.160 2,1 Không di cư trong huyện - - 64.493.309 93,5 71.686.913 91,4
Di cư giữa các huyện 1.067.298 2,0 1.137.843 1,7 1.708.896 2,2 Không di cư giữa các huyện 51.797.097 95,5 65.835.877 95,5 73.305.072 93,5
Di cư giữa các tỉnh 1.349.291 2,5 2.001.408 2,9 3.397.904 4,3 Không di cư giữa các tỉnh 52.864.395 97,4 66.973.720 97,1 75.013.968 95,7
Không nhập cư quốc tế 54.213.686 99,9 68.975.128 99,9 78.411.872 99,9
Bảng 2.1: Dân số di cư và không di cư theo loại hình di cư, 1989 – 2009
Xu hướng gia tăng di cư cả về số lượng lẫn tỉ lệ người di cư được quan sát thấy trong hai thập kỉ qua, những xu hướng gia tăng này chỉ nổi bật rõ rệt trong vòng một thập kỉ vừa qua Có rất nhiều lí do có thể dẫn tới sự gia tăng này, trong đó phải kể đến việc giảm thiểu hệ thống hợp tác xã, việc chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nền kinh
Trang 7tế thị trường, việc dỡ bỏ các quy định hạn chế sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân,
sự phát triển của giao thông vận tải, sự gia tăng khác biệt giữa các vùng và sự nới lỏng các quy định hạn chế di cư Dân số di cư giữa các huyện tăng thêm hơn 50% và lên tới 1,7 triệu người vào năm 2009 Tỷ lệ dân số di cư giữa các huyện giảm từ 2% xuống 1,7
% trong giai đoạn 1989-1999,nhưng sau đó tăng lên 2,2% trong năm 2009
Dân số di cư giữa các tỉnh có xu hướng ngày càng gia tăng rõ rệt Số người di cư giữa các tỉnh tăng từ 1,3 triệu người năm 1989 lên 2 triệu người năm 1999 và lên tới 3,4 triệu người năm 2009 Tỉ lệ của nhóm di cư này trong tổng dân số cũng tăng tương ứng từ 2,5
% trong năm 1989 lên 2,9% năm 1999 và 4,3% năm 2009 Những kết quả này cho thấy tỉ
lệ tăng dân số di cư cao hơn tỷ lệ tăng dân số tự nhiên Điều này được thể hiện qua hình 2.2
Hình 2.2: Tỷ lệ dân số di cư qua thời gian, 1989 - 2009
Nguồn: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009.
Xem xét di cư ở các cấp địa giới hành chính cho thấy ở cấp càng cao thì tỉ lệ tăng dân số
di cư cũng cao hơn Các nhóm dân số di cư giữa các tỉnh tăng mạnh mẽ nhất, di cư giữa
Trang 8các huyện tăng chậm hơn và tăng chậm nhất là nhóm di cư trong huyện Có thể lí giải cho
sự khác biệt này là việc tăng thu nhập hộ gia đình, cải thiện giao thông vận tải, tăng cơ hội học hành và thông tin phong phú hơn thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng rõ ràng đã đem lại nhiều cơ hội lựa chọn cho người dân để di chuyển và tạo điều kiện để họ có thể di chuyển trong khoảng dài hơn và vượt ra ngoài ranh giới quen thuộc của họ
Trang 9II) Các chính sách và giải pháp liên quan đến di cư ngồn lao động:
1. Các chính sách
Loại Tình trạng Quyền lợi Nghĩa vụ/ Hạn chế
pháp lý Kt1 Cư dân (gồm cả
người di cư và không di cư) có
hộ khẩu thường trú tại nới cư trú hiện tại
- Mua bán nhà đất và được
có giấy chứng nhận sở hữu đất/
nhà ở
- Tiếp cận công trình công cộng và dịch vụ xã hội tại nơi
cư trú hiện tại
- Tiếp cận các khoản vay tài chính chính thức
- Tiếp cận việc làm
- Tiếp cận các dịch vụ xã hội công cộng gồm giáo dục
và chăm sóc sức khỏe chỉ trong quận/ huyện mà họ cư trú
Kt2 Người di cư có
hộ khẩu thường trú tại tỉnh/thành phố đang cư trú
- Mua bán nhà đất và được
có giấy chứng nhận sở hữu đất/
nhà ở
- Tiếp cận công trình công cộng và dịch vụ xã hội tại nơi
cư trú hiện tại
- Tiếp cận các khoản vay tài chính chính thức
- Tiếp cận việc làm
- Tiếp cận đến giáo dục và chăm sóc sức khỏe chỉ trong phạm vi quận/ huyện mà họ đăng ký
- Khó tiếp cận đến các khoản vay tài chính/ dịch vụ tài chính chính thức Kt3 Người di cư
không có hộ khẩu thường trú
ở nơi cư trú hiện tại nhưng có
- Tiếp cận công trình công cộng và dịch vụ xã hội
- Khó tiếp cận nhà ở hợp pháp Trẻ
em KT3 chỉ có thể được vào trường công lập khi chưa
Trang 10đăng ký tạm trú
từ 6-12 tháng với khả năng gia hạn
dùng hết công suất (bởi trẻ em KT1 và KT2)
- Nếu các trường học quá tải, trẻ em KT3 sẽ phải học trường tư thục
và trả học phí cao hơn
- Khó tiếp cận đến các khoản vay tài chính/ dịch vụ tài chính chính thức Kt4 Người di cư
không có hộ khẩu thường trú tại nơi cư trú hiện tại nhưng
có đăng ký tạm trú tử 1-6 tháng
- Không có quyền mua đất
và tiếp cận các dịch vụ xã hội công cộng và các khoản vay chính thức
Không
có
đăng
ký hộ
khẩu
Những người không thuộc các nhóm trên
- Không có quyền mua đất
và tiếp cận các dịch vụ xã hội công cộng và các khoản vay chính thức
số rủi ro Họ không nhận được chính sách quan tâm hỗ trợ thỏa đáng, vì vậy không tiếp cận được các bảo trợ xã hội.Theo báo cáo của Điều tra Di cư Việt Nam năm
Trang 112004, người di cư và đặc biệt người không đăng ký hộ khẩu gặp nhiều khó khăn khi xin tín dụng và các dịch vụ xã hội cơ bản.
năm 2005 hướng dẫn thông lệ đăng ký hộ khẩu mới theo Nghị Định 108 của Chính phủ Người di cư có mong muốn thay đổi tình trạng cư trú từ tạm thời thành thường trú cần phải đáp ứng đủ ba điều kiện để được cấp hộ khẩu thành phố: (1)
Cư trú tại một ngôi nhà hợp pháp; (2) Có thu nhập ổn định; (3) Cư trú tại thành phố liên tục trong ít nhất ba năm.
mọi công dân Bộ luật Lao động cũng quy định rằng quyền làm việc không liên quan đến việc có hộ khẩu thường trú.
việc phục hồi trật tự và quản lý lao động nhập cư đến Hà Nội tìm việc làm” kèm theo Quyết định số 3189 ngày 26 tháng 8 năm 1995.Quy chế này yêu cầu lao động nhập cư vào Hà Nội phải có giấy giới thiệu ở nơi xuất xứ, giấy phép làm việc tạm thời có giá trị trong vòng 3 tháng và có thể gia hạn được; và chứng minh nhân dân.
Chỉ có đăng ký tạm trú, người nhập cư bị ngăn cản tiếp cận đến các khoản vay của quỹ hộ trợ việc làm quốc gia Được xác định rõ ràng trong Thông tư liên tịch 13/1999/TTLT-BLĐTBXH-BTC-BKHĐT ban hành ngày 8 tháng 5 năm 1999, Thông tư liên tịch 06/2002/TTLTBLĐTBXH-BTC-BKHĐT ban hành ngày 10 tháng 4 năm 2002 của Bộ LĐ-TBXH, Bộ Tài Chính, Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, và gần đây là Quyết định 71/2005/QĐ-TTg của Chính phủ ban hành, điều kiện tiên quyết khi hộ gia đình xin vay tiền là phải có hộ khẩu thường trú.
Trang 12- Người di cư tạm thời thuộc nhóm KT3 và KT4 đang phải trả giá tiêu thụ điện và nước máy cao hơn rất nhiều so với cư dân địa phương Khi đăng ký dịch
vụ điện và nước máy, hộ khẩu thường trú phải được xuất trình để được nhận các dịch vụ với giá bình thường Tuy nhiên thủ tục này thay đổi tùy theo địa phương.
- Pháp luật quy định rằng công dân trong độ tuổi 17-27 dù có hay không có hộ khẩu đều phải đăng ký nghĩa vụ quân sự với chính quyền địa phương tại nơi cư trú Tuy nhiên nhiều địa phương thực tế vẫn yêu cầu hộ khẩu, ngăn cản người nhập cư tạm trú.
- Di cư từ nông thôn ra đô thị cần được coi là một khía cạnh tự nhiên của quá trình phát triển Hạn chế nhập cư thông qua các biện pháp hành chính sẽ không làm giảm nhập cư, mà sẽ chỉ làm tăng thêm mức độ yếu thế của những người nhập cư Phương pháp quản lý tiếp cận ASXH cho người dân thông qua Hộ khẩu như hiện nay không hiệu quả Nếu vẫn tiếp tục duy trì hệ thống Hộ khẩu, chính quyền của các thành phố nơi có làn sóng nhập cư mạnh mẽ cần phân bổ một nguồn ngân sách nhất định để hỗ trợ những người nhập cư nghèo như trợ cấp BHYT và hỗ trợ giáo dục.
- Việt Nam cần bắt đầu thí điểm và triển khai thực hiện các chính sách ASXH phổ quát, không tập trung như hiện nay Nguồn ngân sách nhỏ ban đầu phục vụ cho việc triển khai các chính sách ASXH sẽ giúp Chính phủ và người dân tiết kiệm được các chi phí sau này Tiết kiệm chi phí và thời gian của người dân vào các dịch
vụ y tế và giáo dục cũng chính là tăng cường khả năng huy động các nguồn lực của
họ vào nền kinh tế
xem xét trong quá trình xây dựng chính sách Chăm sóc sức khỏe và đào tạo (nghề) cho người lao động nhập cư nữ cần được đưa vào các chương trình ASXH Nếu người lao động nữ nhập cư có con trong độ tuổi đi học, họ cần được nhận hỗ trợ từ