Khẳng định vai trò của người đọc không chỉ là một khâu tất yếu mà là một phương diệnhữu cơ trong suốt quá trình sáng tạo nghệ thuật, hay nói cách khác vai trò của người đọckhông phải chỉ
Trang 1DẪN NHẬP
Từ xa xưa tới nay hoạt động văn học đều vận hành qua các khâu hiện thực: Tác giả- Tácphẩm- Bạn đọc Cho nên cũng từ rất lâu, ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp người ta đãchú ý đến mối quan hệ giữa Tác phẩm và bạn đọc Tức là kể từ đó người ta đã quan tâmđến sự tiếp nhận văn học của bạn đọc rồi Chúng ta thấy rõ điều này trong bài thơ “ĐộcTiểu Thanh Kí” của đại thi hào Nguyễn Du, trong bài thơ ông đã gửi niềm ưu tư, mongmuốn tìm người tri âm ở hậu thế nên ông viết một câu hỏi lớn: “Bất tri tam bách dư niênhậu.Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?” Điều này cho thấy rằng vai trò của người đọc và
sự tiếp nhận của họ là quan trọng như thế nào!
Khẳng định vai trò của người đọc không chỉ là một khâu tất yếu mà là một phương diệnhữu cơ trong suốt quá trình sáng tạo nghệ thuật, hay nói cách khác vai trò của người đọckhông phải chỉ thể hiện sau khi đã xuất hiện văn bản của tác phẩm mà nó đã thể hiệnngay trong qua trình sáng tác của nhà văn Từ khâu viết, sữa chữa tác phẩm của mình tácgiả đều đối thoại với bạn đọc trong trí tưởng tượng, trọng tâm tưởng của mình Chính vìvậy người đọc đóng một vai trò không hề nhỏ trong tiến trình phát triển của một nền vănhọc Người đọc là những người tiếp nhận,cảm thụ, đồng thời là những người thẩm địnhchính xác và công bằng nhất giá trị của một tác phẩm văn học.Vị trí, vai trò và mối quan
hệ của người đọc với đời sống văn học là một vấn đề trung tâm của lí thuyết tiếp nhậnvăn học Từ đó xuất hiện một nghành khoa học nghiên cứu về vấn đề này, tuy nhiên nóvẫn còn rất mới ở Việt Nam và cả trên Thế Giới Một đời sống văn học được gọi là toàndiện khi đặc biệt lưu ý đến vai trò của người đọc với tư cách là chủ thể tiếp nhận “Nếunhà văn là người chiếm lĩnh nghệ thuật về hiện thực thì độc giả là người chiếm lĩnh thẩm
mỹ về văn bản” Vai trò của người đọc trong văn chương nó chỉ hiện diện một cách thầmlặng nhưng lại hết sức liên tục và không bao giờ đứt quãng
Sau đây chúng ta sẽ đi vào khai thác sâu hơn ở phần nội dung để có thể hiểu và khái quáthơn được tầm quan trọng của độc giả đối với đời sống văn học nước ta nói riêng và vănhọc nói chung
Trang 21 VĂN HỌC VÀ TIẾP NHẬN VĂN HỌC
1.1 Văn học
1.1.1 Khái niệm văn học
Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và conngười Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nộidung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ Khái niệm văn học đôi khi có nghĩa tương
tự như khái niệm văn chương và thường bị dùng lẫn lộn Tuy nhiên, về mặt tổng quát,khái niệm văn học thường có nghĩa rộng hơn khái niệm văn chương, văn chương thườngchỉ nhấn mạnh vào tính thẩm mĩ, sự sáng tạo của văn học về phương diện ngôn ngữ, nghệthuật ngôn từ Văn chương dùng ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng, phản ánh
và biểu hiện đời sống
Văn học có các thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch bản, lí luận phêbình Văn học có lịch sử phát triển từ lâu đời, là sự phát triển của văn học dân gian (hayvăn học truyền miệng) và văn học viết
Văn học là 1 bộ phận quan trọng của văn nghệ Văn học theo nghĩa rộng là thuật ngữ gọichung mọi hành vi ngôn ngữ nói - viết và các tác phẩm ngôn ngữ Nó bao gồm các tácphẩm mà ngày nay có thể xếp vào loại chính trị, triết học, tôn giáo Với nghĩa rộng, vănhọc đồng nghĩa với văn hóa
Văn học theo nghiã hẹp chỉ khái niệm văn hóa - nghệ thuật mà ta quen dùng hiện nay Nóbao gồm các tác phẩm ngôn từ có tính chất được sáng tác bằng hư cấu, tưởng tượng Nhưvậy khi hiểu văn học theo nghĩa hẹp chúng ta đã loại ra ngoài các tác phẩm chính trị, triếthọc, tôn giáo Văn học theo nghĩa hẹp chính là văn chương
Văn học là một hình thái ý thức xã hội thẩm mĩ, nó bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đờisống, bày tỏ một quan điểm, lập trường đối với đời sống Nhưng văn học không phảnánh hiện thực trong ý nghĩa khách quan , phổ quát của chủng loại , của sự vật như cáigiếng, con đường, cái ao mà nó quan tâm là một hệ người kết tinh trong sự vật
VD: Nói đến mây, văn học không phản ánh nó giống như 1 hiện tượng địa lí mà nóiđến nó như 1 bộ phận của cuộc sống con người, của thế giới người, mang nội dung quan
hệ con người
"Vì mây cho núi lên trời/ Vì chưng gió thổi, hoa cười với trăng" (Ca dao)
VD: Văn học nói đến hoa không phải với tư cách 1 bộ phận sinh sản của cây mà nhìnhoa như 1 người thường, coi hoa là hiện thân của cái đẹp, của sự nảy nở tươi tắn
Trang 31.1.2 Chức năng văn học
Nói đến chức năng của văn học là nói đến mục đích sáng tác của văn chương, đến vấn đềviết để làm gì, đến ý nghĩa xã hội của nó Văn học là 1 hoạt động tinh thần không chỉ củangười sáng tạo mà của cả người tiếp nhận, thưởng thức Nó mang những chức năng có ýnghĩa xã hội rộng lớn bởi "chức năng là sự biểu hiện ra bên ngoài các đặc tính của mộtkhách thể nào đó trong một hệ thống các quan hệ nhất định"
Tác phẩm văn học là sự biểu hiện về năng lực, trình độ, phẩm chất tinh thần của chủ thểtrong sự sáng tạo , phản ánh hiện thực đời sống khách quan , xã hội , con người, dựng nên
"hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan", qua đó ta nhận thấy van học có chức năngphản ánh hiện thực
Văn học là biểu hiện cái quan hệ mang tính người của con người trong quá trình chiếmlĩnh, đồng hóa hiện thực bên ngoài và bên trong nó dưới hình thức nghệ thuật của ngôn
từ Cái quan hệ người ấy trong cuộc sống nhân loại thật phong phú , nhiều cung bậc, hìnhthái khó đếm bởi sự vận động không ngừng, bất tận
Văn học giúp người đọc hiểu biết cái nội dung, cái hình thức, cái hay,cái đẹp; giúp họ thưgiãn tâm hồn, tạo trạng thái cân bằng tâm lí, tinh thần Thể hiện chức năng thưởng thức,thư giãn, giải trí
Văn học giúp người đọc hiểu biết nhiều mặt về đời sống, chịu sự tác động nhiều cungbậc, đa diện vào nhận thức , tư tưởng, tâm lí, tình cảm Qua đó thể hiện chức năng vănhọc trau dồi mặt tình cảm, hiểu biết cho con người
Văn học có vô vàn chức năng: "văn dĩ tải đạo", văn thơ làm vũ khí chiến đấu chống lạicường quyền, chức năng "mua vui", chức năng nhận thức, giáo dục, chức năng thẩmmĩ Chức năng văn học chỉ là cái biểu hiện ra bên ngoài của chỉnh thể và giá trị toàn vẹnthuộc thế giới nghệ thuật trong những sự tiếp nhận nghệ thuật khác nhau Số lượng cácchức năng của văn học có bao nhiêu tùy thuộc vào cách nhìn, cách lí giải của từng ngườinhưng đại thể nó qui về các chức năng sau:
Trang 4Ngoài ra người ta còn nói đến các chức nang như: chức năng thi ca, chức năng tự nhậnthức, chức năng văn hóa, định hướng tư tưởng, đánh giá, phân loại đạo đức, kích thíchkhoái cảm, , tổ chức tập trung , bổ sung tinh thần , nếm trải, minh họa
Chính vì vậy bắt đầu có những xu hướng tìm một chức năng cơ bản có ý nghĩa khía quát,sâu xa nhất như ý kiến cho rằng chức năng văn học là "giữ gìn, phát triển, truyền đạt sựsống, chất người cho con người"
1.1.3 Đặc điểm văn học
Nói về đặc điểm của văn học được xem như một loại hình đặc biệt của nghệ thuật, mộtmôn nghệ thuật dùng ngôn từ làm phương tiện biểu đạt, là nghệ thuật ngôn từ, lâu naygiới nghiên cứu thường lưu ý các điểm sau đây:
Đối tượng nhận thức và nội dung của văn chương là cuộc sống muôn màu muôn
vẻ, trong đó chủ yếu là cuộc sống của con người, là tư tưởng, tình cảm, tâm hồncủa con người Dù nhà văn có quan tâm, có miêu tả hiện tượng nào của cuộc sống
đi nữa, một ngôi nhà, một ngọn núi, dòng sông,… thì điều mà nhà văn tìm hiểu,đều làm cho họ ngạc nhiên, xúc động và muốn nói lên để những người khác cũngquan tâm, ngạc nhiên, xúc động như mình, không phải là bản thân các hiện tượng
đó, mà là mối liên hệ của chúng với con người, tính chất người, ý nghĩa cuộc sốngcủa con người mà những hiện tượng đó thể hiện, cách nhìn, sự rung động của conngười trước những hiện tượng cụ thể đó và trước cuộc sống
Nhà văn Gorki khẳng định: “ Văn học là nhân học” tức văn học là một môn học về conngười, văn học tìm hiểu và hướng dẫn con người
Cho nên, từ lâu người ta đã nhấn mạnh tính chất nhân bản của văn học, coi chủ nghĩanhân đạo, chủ nghĩa nhân văn là linh hồn của văn học
Văn học giữ gìn và bồi dưỡng chất nhân văn, chất người cho con người, làm cho conngười luôn luôn là con người, giúp con người hiểu biết mình hơn, thông cảm với ngườikhác, có một cuộc sống phong phú, tinh tế, có ý nghĩa, xứng đáng với con người
Trong văn chương, nhà văn không chỉ phản ánh, tái hiện cuộc sống, nêu lên nhữnghiểu biết về thế giới, nhận thức thế giới, mà còn bày tỏ thái độ chủ quan của mình,nói lên ước mơ, khát vọng của mình về thế giới, về cuộc sống Chúng ta thườngnói “tác phẩm nghệ thuật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” là vì vậy
Văn học nhận thức và tái hiện cuộc sống bằng hình tượng , tức là một cách sinhđộng, cụ thể - cảm tính, có hình khối, đường nét, màu sắc, âm thanh, chứ không
Trang 5phải một cách trừu tường, bằng khái niệm, như trong khoa học Belinski quảquyết: “Ai không được phú cho trí tưởng tượng sáng tạo, khả năng biến tư tưởngthành hình tượng, thì người đó không gì có thể giúp đỡ để trở thành nhà thơ, dù là
có trí tuệ, tình cảm, sức mạnh thuyết phục và niềm tin, hiểu biết phong phú vàsáng suốt về nội dung lịch sử và hiện đại”
Một số nhà sáng tác và nghiên cứu cho rằng tính đặc trưng của văn học là tínhbiểu cảm, tính xúc động, cho rằng văn học là tiếng nói của tình cảm, tình yêu.Quan niệm này đặc biệt phổ biến ở phương Đông vốn rất quan tâm tới những vấn
đề nhân sinh, đến cuộc sống tình cảm và tâm linh, phân biệt hoạt động trái tim vàkhối óc Bạch Cư Dị, nhà thơ Trung Quốc lớn đời nhà Đường, nhìn thấy nhiềuđộng lực và biểu hiện của nhà thơ, nhưng cái gốc của thơ vẫn là tình cảm Ôngnói: “ cảm động lòng người, trước hết không gì bằng tình, đầu tiên không gì bằnglời, tha thiết không gì bằng thanh, sâu xa không gì bằng nghĩa Vậy đối với thơ:tình là gốc, lời là cành, thanh là hoa, nghĩa là quả”
Không phải ngẫu nhiên mà các nhà văn, nhà thơ cảm nhận cuộc sống một cách có hìnhảnh, sinh động, là người rất nhạy cảm, dễ xúc động, và khi những năng lực này yếu kém,khô mòn thì cũng khó lòng tiếp tục sáng tác được
Một đặc điểm của văn học thường được nêu ra là tính mới mẻ, độc đáo Một tácphẩm văn học bao giờ cũng được sản sinh ra trong những hoàn cảnh cụ thể, trongnhững điều kiện lịch sử - xã hội nhất định, “một đi không trở lại”, và gắn liền vớitài năng và cá tính độc đáo của từng nghệ sĩ Văn học luôn tìm tòi cái mới Cáimới và cái độc đáo gắn với nhau Nhà văn Nam cao phát biểu: “ Văn chươngkhông cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Vănchương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồnchưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có”
Văn học là nghệ thuật dùng ngôn từ làm phương tiện biểu đạt với chất liệu ngôn
từ, những đặc trưng của nghệ thuật nói trên đây như chất văn, khuynh hướng gắnliền với lí tưởng, tính hình tượng, sự xúc động, vẻ độc đáo, có những sắc tháiriêng
Trang 62.1 Tiếp nhận văn học
2.1.1 Khái niệm tiếp nhận văn học
Trong bài viết “Tiếp nhận - bình diện mới của Lý luận văn học” trong công trình “Lýluận và phê bình văn học” (giải thưởng văn học hội nhà văn Việt Nam năm 1977), TrầnĐình Sử đưa ra định nghĩa Tiếp nhận văn học là “một lĩnh vực rộng lớn của lý luận vănhọc đang còn để ngỏ Nếu xem hoạt động của văn học bao gồm hai lĩnh vực lớn: sáng tác
và tiếp nhận, thì bản thân sự tiếp nhận văn học đã hàm chứa một nửa lý luận văn học.Nếu lịch sử sáng tác tác phẩm chỉ tính hằng năm, chục năm, thì lịch sử tiếp nhận phải tínhđến thế kỷ hoặc lâu hơn nữa, thậm chí suốt thời gian tồn tại của loài người” Trong địnhnghĩa này, điều quan trọng mà chúng ta có thể nhận thấy đó là chính là tác giả đã nhấnmạnh đến yếu tố thời gian trong quá trình tiếp nhận văn học, đồng nghĩa với việc xem nónhư một quá trình gắn với lịch sử Ở đó, tác giả chia hoạt động của nhà văn thành hai bộphận lớn là sáng tác và tiếp nhận Đối với sáng tác, thời gian hoàn thành tác phẩm có thểkéo dài nhưng vẫn có điểm giới hạn của nó Còn tiếp nhận thì ngược lại, đó có thể là mộtquá trình dài vô hạn gắn liền với sự biến đổi của xã hội loài người Nhìn chung, nội hàmcủa định nghĩa này vẫn mang tính bao quát, chưachỉ rõ về đối tượng và các đặc trưngchuyển hóa giữa các đối tượng trong quá trình tiếp nhận Song, nó cho thấy vai trò quantrọng của tiếp nhận trong đời sống của bất kì nền văn họcnào Từ đó, chúng ta cần ý thức
bổ sung nó qua mỗi chặng đường phát triển của khoa học
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, “Tiếp nhận văn học” được định nghĩa là: “Hoạt độngchiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ vănbản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan điểm nghệ thuật, tài nghệcủa tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởngtrong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể… Qua tiếp nhận văn học, nhờ được trigiác, liên tưởng, cắt nghĩa, tưởng tượng của người đọc mà tác phẩm trở nên đầy đặn, sốngđộng, hoàn chỉnh; ngược lại, người đọc nhờ tác phẩm mà được mở rộng vốn hiểu biết,kinh nghiệm sống, tư tưởng và tình cảm cũng như năng lực thụ cảm, tư duy” Qua địnhnghĩa này, tiếp nhận văn học có thể xem là quá trình tiếp xúc tác phẩm của người đọc.Định nghĩa nêu rõ mục đích của quá trình tiếp nhận cũng như những yêu cầu giúp ngườiđọc có thể đạt đến mục đích của quá trình đó.Đồng thời, nó còn cho thấy vai trò của tácphẩm văn học như một điều kiện tiên quyết để quá trình tiếp nhận có thể diễn ra, gồm cácyếu tố cấu thành giá trị và sức hấp dẫn của tác phẩm.Điều này cho thấy, mọi đánh giá,nhìn nhận từ độc giả có khả năng quyết định đến việc sống còn của tác phẩm
Trong hai khái niệm đó, mỗi khái niệm đều có nội hàm khác nhau gắn liền với cách nhìncủa từng tác giả Điểm chungcủa hai khái niệm này là đã chỉ ra vai trò của tiếp nhận văn
Trang 7học trong đời sống văn học cá nhân cũng như đời sống văn học cộng đồng Nó nhắc nhởchúng ta trong việc nghiên cứu cần lưu ý để tránh thiếu sót và chủ quan khi đánh giá mộttác phẩm hoặc cả giai đoạn, thời kì văn học Bên cạnh khái niệm Tiếp nhận văn học còn
có khái niệm Tiếp nhận thẩm mỹ thay thế cho khái niệm Tiếp nhận văn học Điều nàyhoàn toàn không có gì sai, chỉ có điều phạm vi sử dụng khái niệm “Tiếp nhận thẩm mỹ”vẫn hẹp hơn khi chỉ nhắc đến mộtbộ phận độc giả tiếp nhận ở một mức cao, với ý thứcnghệ thuật thật sự nhằm đạt đến thấu suốt các giá trị của tác phẩm Trong đó, “đồng sángtạo” là kết quả cao nhất của quá trình tiếp nhận này
2.1.2 Mục đích tiếp nhận văn học
Nếu tiếp nhận là quá trình giao tiếp và thu nhận những thông tin nói chung thì tiếp nhậnvăn học là quá trình người đọc giao tiếp với văn bản để đạt đến khoái cảm thẩm mỹ nhấtđịnh
Ở đây, khoái cảm thẩm mỹ được hiểu theo nghĩa đó là sự thấu suốt, thỏa mãn của ngườiđọc trong việc tiếp thu những giá trị mà tác phẩm phản ánh Tuy nhiên, thực tế khôngphải ai cũng có thể đạt đến khoái cảm thẩm mỹ trong quá trình tiếp nhận Nguyên nhânbắt nguồn từ chính chủ thể tiếp nhận, bằng năng lực và nhu cầu tiếp xúc tác phẩm củariêng mỗi người, họ có cho mình sự thụ cảm khác nhau về tác phẩm.Trong đó, chúng tacần suy xét về các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến chủ thể tiếp nhận.Về cácyếu tố bên trong, ta cần lưu ý các vấn đề về kiến thức, kinh nghiệm sống, khả năng rungcảm, sự đồng điệu… có ảnh hưởng rất nhiều đến sự tiếp nhận của người đọc Các yếu tốnày càng “chín” thì khoảng cách đạt đến khoái cảm thẩm mỹ càng thu hẹp Bên cạnh đó,quá trình tiếp nhận của họ diễn ra trong một môi trường thuận lợi; tức là một môi trườngtiếp nhận cân bằng về mặt tâm lí, tránh các tác động tư tưởng cùng một tinh thần nghệthuật nghiêm túc thì việc tiếp nhận sẽ đạt hiệu quả cao Trong đó, người đọc có thể dễnhận thấy những rung cảm chân thành, sâu sắc cũng như dễ dàng giao tiếp gián tiếp cùngtác giả thông qua những nội dung và hình thức mà tác phẩm biểu hiện Khác với lớpngười đọc với mục đích như trên, những lớp người đọc khác tìm đến tác phẩm với mụcđích giải trí hoặc chỉ đơn giản muốn đọc để quên đi thời gian thì trong những trườnghợp này, ta vẫn thấy có sự giao tiếp với tác phẩm nhưng việc thu nhận các giá trị của nó
có thể suy giảm rất nhiều Bên cạnh đó, việc tiếp nhận của họ có thể không nghiêm túc,hời hợt dẫn đến hệ quả là việc đánh giá sai lệch về giá trị của tác phẩm
Bên cạnh việc tiếp nhận văn học của mỗi cá nhân, đối với lịch sử văn học lại mang một ýnghĩa khác Trong công trình nổi tiếng Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối vớikhoa học văn học, Hans Robert Jauss có viết: “Cái phương thức thực hiện, thực hiện quámức hoặc không làm thỏa mãn hay đánh lừa những mong đợi của công chúng đầu tiên
Trang 8trong giây phút lịch sử mà một tác phẩm văn học xuất hiện, sẽ đưa ra những tiêu chí rõràng cho việc xác định giá trị thẩm mỹ (tức quyết định tính chất nghệ thuật của tácphẩm)” Ở nhận định trên, ta thấy H Jauss nhấn mạnh đến vai trò lịch sử của người đọc.Đồng thời, ông cũng chỉ ra rằng vai trò đó phụ thuộc vào cộng đồng, tức số đông sự ủng
hộ của công chúng, đây là một luận điểm quan trọng của lý thuyết tiếp nhận văn chươnghiện đại Với quan điểm trên, H Jauss đưa ra một cách nhìn toàn diện, nếu tác phẩmkhông mang đến sự “thỏa mãn” hay “đánh lừa những mong đợi” của công chúng thì nó
sẽ chết đi ngay lập tức hoặc tồn tại chỉ trong một thời điểm Ngược lại, chỉ có những tácphẩm đủ “tiêu chí” của người đọc, tức đảm bảo “tính nghệ thuật” thì mới có thể bền bỉvới thời gian Ở đây, thuật ngữ “công chúng” của H Jauss có thể hiểu đó là chỉ toàn bộcác chủ thể tiếp nhận văn học bao gồm người sáng tác, nhà nghiên cứu, nhà lý luận phêbình, người giảng dạy, người đọc bình dân… Qua đó, mục đích của tiếp nhận văn họckhông đơn thuần chỉ đi tìm và lý giải những đặc trưng tiếp nhận trong từng cá nhân mà
đó còn là quá trình nhằm đạt đến sự thống nhất, tiếng nói chung của cộng đồng Ngoài ra,với chức năng trao đổi, tiếp nhận văn học còn có vai trò như một cầu nối giữa các nềnvăn hóa với nhau thông qua việc tiếp nhận qua lại giữa những tác phẩm của văn hóatruyền thống này với một xã hội, truyền thống văn hóa khác Đây cũng là yếu tố góp phầnthúc đẩy sự phát triển của văn học nhân loại
2.1.3 Tính chất tiếp nhận văn học
Ngôn ngữ văn học không phải là loại ngôn ngữ bình thường mà là ngôn ngữ nghệ thuậtđược trau chuốt cẩn thận qua quá trình sáng tạo nghiêm túc của nhà văn Chính loại ngônngữ ấy mang trong nó rất nhiều hàm ý, đòi hỏi người tiếp nhận phải bắt đầu quá trìnhtưởng tượng, suy luận, trực giác thì mới có thể hiểu được tác phẩm.Qua đó, người đọc
có thể đi đến kết luận cho riêng mình về việc đồng tình hoặc phản đối về những gì tácphẩm biểu hiện.Tuy nhiên, do năng lực ở mỗi người là khác nhau nên sự hiểu về tácphẩm cũng khác nhau, thậm chí đôi khi người đọc rút ra kết luận hoàn toàn sai lệch.Trong trường hợp này, chúng ta cần phải suy xét về tính chất của tiếp nhận văn học để cónhận định đúng mực
Đầu tiên là về tính khách quan của tiếp nhận văn học Trong một thời gian dài, tiếp nhậnvăn học được xem như một hoạt động cá nhân, chủ quan thuần túy Luận điểm này xuấtphát từ quan điểm người ta cho rằng việc tiếp nhận chỉ dừng lại ở số ít cá nhân mang tínhđặc thù,có khả năng hiểu được ý nghĩa của tác phẩm Tuy nhiên, thực tế cho thấy khôngcăn cứ nào để khẳng định được điều đó Hơn nữa, việc thu hẹp đối tượng tiếp nhận trongnhững cá nhân đặc thù mà quên đi ngôn ngữ là phương tiện sáng tác mang tính phổ biếncho những ai có khả năng tiếp xúc với nó là cách nhận định phiến diện, cực đoan Bởi vì,nhà văn sáng tác tác phẩm bao giờ cũng dựa trên hiện thực đời sống và dùng ngôn ngữ để
Trang 9biểu đạt tư duy Do vậy, bất kì ai tồn tại trong xã hội, đều có thể bằng cách nhìn kháchquan của xã hội ấy để tiếp cận với tác phẩm.
Về mặt văn bản, tác giả M Epstein trong Giản yếu bách khoa văn học (1978) viết: “Sựcắt nghĩa dựa trên tính “mở”, tính nhiều nghĩa của hình tượng nghệ thuật, là cái đòi hỏiphải có nhiều vô hạn cách cắt nghĩa để bộc lộ bản chất của nó và đảm bảo khả năng vềmột đời sống lịch sử lâu dài, được phát triển thêm các ý nghĩa mới” Trong nhận địnhnày, tác giả nhấn mạnh văn bản nghệ thuật bao giờ cũng tồn tại những lớp nghĩa cầnđược khám phá và nó hoàn toàn có thể được bổ sung qua thời gian Điều này cho thấy,văn bản bao giờ cũng mang tính gợi mở, nó không phải là khuôn khổ chỉ cho vài ngườinhận ra ý nghĩa của nó Hơn nữa, mọi sự cắt nghĩa trong văn bản đều bị cái được cắtnghĩa qui định: ngôn từ, thể loại, cấu trúc, bộ phận và chỉnh thể Suy cho cùng, văn bảnchính là nơi giúp người đọc đào sâu thêm những tầng nghĩa mới mà đôi khi chính bảnthân người sáng tác ra nó trước đó cũng không nhận thấy được
Thứ hai, tiếp nhận văn học mang tính xã hội Điều này dường như quá rõ ràng khi nhữngvấn đề mà văn học đề cập phần nhiều gắn liền với thực tế, phản ánh tinh thần chung của
xã hội Sự phản ánh đó dẫn đến sự đồng cảm giữa những cá nhân trong xã hội khi tiếpxúc với cùng một tác phẩm Ngay cả những người sáng tác, sự đồng cảm này có thể nhậnthấy được khi những các sáng tác của họ có dấu hiệu tương đồng, dù cho chúng ra đời rấtkhác nhau về mặt không gian lẫn thời gian
Một đặc tính xã hội nữa trong tiếp nhận văn học mà ta có thể kể đến, đó chính là quyền
tự do lựa chọn tác phẩm mà họ yêu thích Dù sự hiểu lúc đó của họ với tác phẩm đượclựa chọn chưa thật sự đầy đủ, nhưng nhờ vào thời gian, sự trưởng thành cùng kinhnghiệm tích lũy qua những thay đổi trong đời sống xã hội, đến lúc nào đó, họ sẽ có hiểu
ra ý nghĩa của tác phẩm
Từ đây, ta có thể khẳng định môi trường xã hội và tính cách cá nhân sẽ có ảnh hưởng rấtlớn đến sự lựa chọn tác phẩm Vì vậy, khi đánh giá tác phẩm phải căn cứ trên đối tượngtiếp nhận gắn liền với hoàn cảnh xã hội Nếu tiếp nhận mà bỏ qua yếu tố này thì đôi khitác phẩm sẽ bị phán xét một cách vô căn cứ
Do vậy, có những tác phẩm ra đời từ lâu nhưng vẫn được tiếp nhận từ mọi người, chính
vì nó vẫn mang một ý nghĩa xã hội nhất định Tuy nhiên, trong trường hợp nếu tính xãhội này trở nên quá ràng buộc, gay gắt thì chính nó cũng gây nên một lực cản nhất địnhđối với việc phổ biến tác phẩm; giống như việc một số tác phẩm được phép tiếp nhậntrong môi trường xã hội này nhưng không được phép tiếp nhận trong môi trường xã hộikhác, không đáp ứng đầy đủ nhu cầu “đón đợi” của người đọc Còn riêng với người viết,
Trang 10dù sự chi phối của nó có tồn tại thế nào thì chung quy, nó mang một sứ mệnh quan trọnghơn là duy trì hoặc thiết lập các mối quan hệ xã hội bình thường, phổ biến giữa con ngườivới con người thông qua một đối tượng văn chương xác định Ở đó, giá trị tác phẩm nhưsợi dây liên kết để phát triển nhân cách con người Do vậy, chỉ có những tác phẩm có tinhthần, có nội dung đẹp và hình thức mới mẻ thì mới tồn tại Ngược lại, sáng tác không phùhợp, đi ngược lại với tinh thần xã hội, trái với thuần phong mỹ tục thì tự nó sẽ đào thải Thứ ba là tính sáng tạo Sáng tạo trước hết có thể hiểu đó là quá trình tìm ra cái mớinhưng cái mới đó phải là cái mang lại giá trị hữu ích Trong đó, người đọc với danh nghĩa
là người “đồng sáng tạo” Theo công trình Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên, kháiniệm “đồng sáng tạo” được định nghĩa “là hoạt động cùng sản xuất sản phẩm tinh thầnvới tác giả, hoàn thành chu trình sản xuất mà tác giả đã khởi đầu, và chủ yếu là nói sựđồng thể nghiệm, đồng cảm, cùng biểu diễn để làm sống dậy cái điều nhà văn muốn nói”
Ở định nghĩa này, vai trò của người đọc được đề cao ngang bằng với quá trình sáng tácban đầu của nhà văn Trong đó, đồng sáng tạo được xem như một công việc thực thụ, mộtđiểm chốt quan trọng trong toàn bộ chu trình sản xuất một tác phẩm Điều đó nói lênrằng, nếu như không có sự đón nhận, khai mở của độc giả đối với tác phẩm thì mọi ýnghĩa từ tác phẩm dường như bị khước từ Theo đó, sự đồng sáng tạo rất cần một thái độnghiêm túc và khách quan, mà theo cách nói của Roman Ingarden thì: “Người đọc làngười đồng sáng tạo nên họ cũng phải nỗ lực ngang bằng với nhà văn” Ngoài ra, quátrình đồng sáng tạo có thể đạt đến nhiều cấp độ khác nhau tùy theo năng lực của mỗingười Tuy nhiên, nói cho đúng thì “sáng tạo” là hiểu tác phẩm chứ không phải sáng tạo
ra một tác phẩm mới Người đọc có thể là công chúng bình dân với những cách cảm mới
mẻ từ tác phẩm, cũng có thể là các nhà lý luận phê bình với nhiều sự lí giải trên nền tảngkhoa học để tìm ra điểm hạn chế và nổi trội của tác phẩm hay chính bản thân nhữngngười sáng tác, họ vẫn tiếp nhận tác phẩm lẫn nhau để mở mang tầm nhìn, để đồng cảm,
để học hỏi, phóng tác… Do vậy: “Văn bản văn học như là lá thư bỏ vào cái chai nút kín,sau khi tác giả thả cái chai xuống nước thì anh ta hiểu rằng từ phút đó sự cắt nghĩa thôngđiệp của anh ta không còn tuỳ thuộc vào ý đồ của anh ta nữa, cũng như không phụ thuộcvào ý đồ của cá nhân người nhận nào đó Văn bản từ đây như là khả năng mời gọi đối vớimột cộng đồng người đọc” Vậy nên, người đọc phải luôn tỉnh táo trong quá trình tiếpnhận tác phẩm, tránh làm giảm đi giá trị vốn có của nó
Cuối cùng, Tiếp nhận văn học mang tính lịch sử Đây là một tính chất hiển nhiên khi tiếpnhận văn học vận động theo quy luật khách quan của lịch sử, tồn tại trong các thời kì lịch
sử khác nhau, mang bản chất xã hội và bị định đoạt thông qua quá trình tiếp nhận củangười đọc Chính điều này đã làm cho “tác phẩm văn học có một đời sống lịch sử và sốphận lịch sử của nó.Có những tác phẩm hiển hách một thời, rồi sau bị lãng quên, trong số
Trang 11đó có tác phẩm sẽ được nhớ lại vào lúc khác, còn phần khác sẽ bị chìm đi mãi mãi Có tácphẩm được tiếp nhận lúc đầu khó khăn, nhưng sau lại có vị trí vững vàng” Do vậy, cóthể nói, khi tác phẩm ra đời, bản thân nó chỉ là một nửa được công nhận, phần còn lạichính là đời sống lịch sử mà nó phải trải qua Đó là khoảng thời gian rất dài, thông qua sựtiếp nhận từ nhiều phía, vượt lên những biến cố lịch sử, nó mới được vinh danh như làmột kiệt tác thực sự Do vậy, tính lịch sử của tiếp nhận văn học thực chất như một quátrình “chọn lọc tự nhiên” của vô số tác phẩm Điều này cho thấy, chỉ có những tác phẩmthật sự có gía trị thì mới tồn tại, ngược lại những tác phẩm hời hợt, sáo rỗng sẽ bị lãngquên Điều đó như một bài học được báo trước cho những ai dấn thân trên con đườngsáng tạo nghệ thuật Đồng thời, qua hành trình lịch sử lâu dài này, sáng tác văn học mớibộc lộ hết những giá trị tiềm tàng của nó.
3.1 Đối tượng và mối tương quan giữa các đối tượng trong tiếp nhận văn học
3.1.1 Tác giả, tác phẩm
Tác giả
Tác giả là một đối tượng quan trọng, mở đầu cho quá trình tiếp nhận.Nếu không có tácgiả thì sẽ không có tác phẩm, mà không có tác phẩm thì điều kiện cho tiếp nhận cũngkhông thể diễn ra.Vì vậy, việc nhận thức về tác giả và vai trò của họ trong lý luận vănhọc từ trước đến giờ vẫn luôn được đề cao Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học vànhững thay đổi mang tính xã hội, cách hiểu về “tác giả” có phần được bổ sung để ngàycàng hoàn thiện Nói như vậy, để thấy rằng, tác giả đã là một khái niệm vô cùng phổ biến,nhất là với những người đang hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ
Theo nghĩa rộng, tác giả được hiểu là người sáng tác nên tác phẩm nghệ thuật mang tínhsáng tạo và độc đáo Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, NguyễnKhắc Phi (chủ biên), NXB Giáo dục, 2010) định nghĩa tác giả văn học “là những ngườilàm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, tác phẩm văn học Về thực chất, tác giảvăn học là người làm ra cái mới, người sáng tạo ra các giá trị văn học mới Sự bắt chước,
mô phỏng, theo đuôi thời thượng hoặc sáng tác không có bản sắc, không làm nên tác giảvăn học đích thực” Với cách định nghĩa này, ta có thể thấy tác giả văn học chính làngười sáng tác ra tác phẩm ngôn từ có giá trị Trong đó, vai trò của việc sáng tạo được đềcao và là yếu tố chính giúp xác định năng lực của tác giả cũng như giá trị tiềm ẩn của tácphẩm Đồng thời, định nghĩa này còn nêu lên phần nào quan điểm về tác giả văn họcchân chính, rằng người đó phải được thẩm định qua tài năng và hành vi sáng tác
Trang 12Còn trong Từ điển văn học (bộ mới) do Đỗ Đức Hiểu chủ biên (NXB Thế giới, 2004),chúng ta lại được tiếp cận với một cách định nghĩa khác về tác giả văn học, đó là “ngườisáng tạo ra các giá trị văn học mới; bằng cách đó và bằng bản sắc sáng tạo của mình, tácgiả văn học là một đơn vị, một bộ phận hợp thành quá trình văn học, một “gương mặt”không thể thay thế, tạo nên “diện mạo” chung một thời kì hoặc một thời đại văn học” [ ].
Ở đây, Từ điển văn học cũng định nghĩa tác giả văn học gắn liền với công việc sáng tạo
ra “giá trị văn học mới” Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy tác giả văn học ở đây đã đượcnâng lên tầm cao hơn Trong đó, định nghĩa tập trung nhấn mạnh vai trò lịch sử của họtrong tiến trình văn học; rằng mỗi cá nhân tác giả dù mang một phong cách khác nhaunhưng đó là điểm nổi giúp xác định sự vận động của văn học trên mỗi chặng thời gian, làyếu tố góp nên sự đa dạng và phong phú cho mỗi nền văn học Bên cạnh hai định nghĩavừa nêu ở trên còn có một định nghĩa khác về tác giả văn học mà nó có phần phù hợp hơntrong thời đại ngày nay Trong cuốn từ điển nước ngoài A Glossary of literary terms(seventh edition) (M.H Abrams, Harcourt college publishers), tác giả văn học được địnhnghĩa “là những cá nhân sử dụng năng lực trí tuệ và trí tưởng tượng của mình, dựa vàokinh nghiệm sống để sáng tạo một tác phẩm văn học đặc sắc của riêng họ Các tác phẩmnày, dù là bản thảo viết tay hay đánh máy, vẫn chỉ duy nhất một văn bản được thừa nhận
là tác giả - người đã sáng tạo ra nó, ngay cả khi họ nhượng quyền xuất bản và lợi nhuận
từ các bản in của tác phẩm cho người khác Và nếu như tác phẩm văn học đó trở nên vĩđại thì tác giả, người đã sáng tạo ra nó sẽ được dành cho một địa vị văn hóa xứng đáng vàđạt được danh tiếng lâu dài” Ở định nghĩa này, ngoài việc khẳng định tác giả là người cókhả năng sáng tạo thì nó còn đề cập đến một vấn đề quan trọng đó là quyền tác giả(Copyright) Đây có thể được xem là yếu tố quan trọng trong việc thừa nhận và bảo hộcông sức sáng tạo miệt mài mà tác giả đã bỏ ra Nhất là khi thị trường xuất bản, học thuật
ở nhiều nơi có dấu hiệu như sao chép, in lậu tràn lan, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợicủa tác giả Qua đó, định nghĩa này thể hiện được tính hai chiều, rằng việc thừa nhận phải
đi đôi với bảo hộ, điều đó không chỉ giúp văn học có thể phát triển trong môi trường nghệthuật lành mạnh mà còn góp phần thúc đẩy xã hội ý thức hơn về vấn đề sở hữu trí tuệ(Intellectual property)
Tác phẩm
Trong lý luận văn học, tác phẩm cũng là một trong những đối tượng được quan tâmnghiên cứu Với tư cách là một chỉnh thể phức tạp bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, tácphẩm văn học cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Trong Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủbiên), NXB Giáo dục, 2010), tác phẩm văn học được định nghĩa “là công trình nghệ thuậtngôn từ do một cá nhân hoặc tập thể sáng tác nhằm thể hiện những khái quát bằng hình
Trang 13tượng về cuộc sống con người, biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ của chủ thể trước thựctại Tác phẩm văn học có thể tồn tại dưới hình thức truyền miệng hay hình thức văn bảnnghệ thuật được ghi giữ qua văn tự, có thể được viết bằng văn vần hay văn xuôi” Ở địnhnghĩa này, tác phẩm văn học được nhận diện qua hai đặc điểm chính là đặc trưng vàphương thức tồn tại của nó Về đặc trưng, nó phải là sáng tác nghệ thuật về ngôn từ chứađựng một nội dung thẩm mỹ nhất định, về phương thức nó có thể là truyền miệng hoặcvăn bản được ghi lại
Trong Từ điển văn học (bộ mới) Đỗ Đức Hiểu chủ biên, NXB Thế giới, 2004), tác phẩmvăn học còn được hiểu “là phát ngôn phức hợp của người sáng tác ra nó; là sự phản ánh,khúc xạ, vang hưởng, dự cảm… của đời sống hiện thực; là đối tượng tích cực của sự tiếpnhận (cảm thụ) văn học” Ở đây, tác phẩm văn học được hiểu với tư cách như một đạidiện phát ngôn cho người sáng tác, đồng thời là một chỉnh thể đưa đến sự tiếp nhận ởngười đọc Trong đó, tác phẩm thể hiện vai trò trung gian của mình, là cầu nối giữa ngườisáng tác với người đọc
Ngoài hai khái niệm trong hai quyển Từ điển quen thuộc vừa nêu, Giáo trình Lí luận vănhọc tâp 2 (Tác phẩm và thể loại văn học) do Trần Đình Sử chủ biên, NXB Đại học Sưphạm, 2010 cũng đưa ra một cách hiểu về tác phẩm văn học mà chúng tôi cho là bao quáthơn “đó là sản phẩm sáng tạo vừa tinh thần, vừa vật chất, vừa là sáng tác của nghệ sĩ,nhưng đồng thời vừa có sự đồng sáng tạo của người hưởng thụ, tiếp nhận” [ ] Ở đây, tácphẩm văn học được đặt trong mối quan hệ nhiều mặt, với chu trình chuyển tiếp từ sángtác đến tiếp nhận, nó được sinh ra từ tác giả nhưng chịu sự tác động của độc giả
Có thể nói, dù được hiểu theo cách nào thì tác phẩm văn học bao giờ cũng là một thực thểhoàn chỉnh và phức tạp Đồng thời, nó phải có sự thống nhất chặt chẽ giữa hai yếu tố lànội dung thẩm mỹ và hình thức nghệ thuật Ở đó, bằng sự sáng tạo của riêng mình, tácgiả là người làm ra tác phẩm văn học với nhiều giá trị Qua đó, nó có khả năng đem đếncho con người những nhận thức mới, những tình cảm mới giúp con người cân bằng cảmxúc, biết cảm thụ cái đẹp và sống có ích
Trang 14mờ nhạt hoặc tâch rời mối quan hệ với tâc giả vă tâc phẩm.Cho đến khi phđn ngănh Mỹhọc tiếp nhận ra đời, nó đê lăm thay đổi nhận thức của giới nghiín cứu về vấn đề năy.Khi nhắc đến Mỹ học tiếp nhận, ta không thể không đề cập đến hai đại diện tiíu biểu củahọc thuyết năy lă Hans Robert Jauss vă Wolfgang Iser Ở H Jauss, hai vấn đề chính mẵng đưa ra được rất nhiều nhă nghiín cứu quan tđm đó lă câc vấn đề xoay quanh khâiniệm “tầm đón đợi” vă việc đề xuất viết lại lịch sử văn học từ phía người tiếp nhận.Trong đó, việc hiểu rõ khâi niệm tầm đón đợi lă một mấu chốt quan trọng để có thể giảithích vì sao H Jauss lại quan tđm đến người đọc vă xem họ như một cơ sở viết lại lịch sửvăn học Tuy nhiín, việc thống nhất trong câch hiểu về khâi niệm năy lă không dễ dăng.Trong thực tế có rất nhiều câch hiểu vă triển khai khâc nhau từ câc nhă nghiín cứu Cóngười cho đó lă khả năng người đọc có thể thích ứng cùng tâc phẩm trong suốt quâ trìnhtiếp nhận, nói theo câch hiểu của Nguyễn Văn Dđn, tầm đón đợi lă khâi niệm dùng để chỉ
“một tầm hiểu biết của mình (độc giả) về mặt văn học vă tầm hiểu biết đó sẽ luôn luônthay đổi theo lịch sử vă tùy thuộc văo tâc động của tâc phẩm được tiếp nhận” Còn theoHoăng Phong Tuấn, tầm đón đợi lă “nơi chủ thể tiếp nhận thể hiện mình qua những quan
hệ tương tâc trong quâ trình tiếp nhận: tương tâc giữa kinh nghiệm văn học vă kinhnghiệm sống; tương tâc giữa văn bản vă người đọc tạo nín sự vận động vă sự tự hiệuchỉnh nó trong quâ trình đối thoại với những chỉ dẫn mă văn bản văn học gợi ra Hai quan
hệ tương tâc năy diễn ra đồng thời, thẩm thấu văo nhau” Ở câch hiểu năy, Hoăng PhongTuấn đê cho ta thấy một sự tiín tiến, gợi mở, một chiều kích mới trong khâi niệm tầmđón đợi của H Jauss Mă trong đó, độc giả lă người đặt mình văo mối quan hệ với nhữngđối tượng khâc trong quâ trình tiếp nhận, lă người có khả năng khâm phâ câc tầng nghĩacủa tâc phẩm cũng như tâc động lại chúng, đồng thời lă một sự kiểm nghiệm giữa giâ trịcủa tâc phẩm cũng như kinh nghiệm sống của chính họ Từ đó, khâi niệm người đọckhông còn lă một khâi niệm đơn thần như một “hănh vi đọc” mă đó thật sự lă mộtphương thức thẩm mỹ mở ra chiều hướng nghiín cứu mới - sự tương giao giữa lý luậntiếp nhận vă mỹ học
Ngoăi khâi niệm tầm đón đợi của H Jauss, W Iser cũng đưa ra những khâi niệm quantrọng khi nói về Mỹ học tiếp nhận đó lă “kết cấu vẫy gọi” vă “điểm trắng” Hai khâi niệmnăy tuy tâch rời nhau nhưng thực chất giữa chúng có mối quan hệ nhất định Trong đó,
“điểm trắng” được hiểu đơn giản để chỉ những chỗ trống, những chỗ mở mă tâc giả tạo ratrín văn bản của mình để kích thích sự tìm tòi, buộc người đọc phải suy ngẫm, liín tưởngmới có thể khâm phâ được tâc phẩm.Vă những “điểm trắng” năy lă đem đến cho tâcphẩm một “kết cấu vẫy gọi” Điều năy cho thấy, tâc phẩm văn học bản thđn nó phải cókhả năng đem đến sự hứng thú, phải chứa đựng nhiều tầng nghĩa mă khả năng khai mởtđm trí người đọc Khi người đọc tham gia văo quâ trình tiếp nhận, họ sẽ dần dần lấp
Trang 15được những “điểm trắng” trong tác phẩm.Tuy nhiên, sự lấp đầy “điểm trắng” này có thểchính độc giả đưa họ đến một “điểm trắng” mới Do vậy, một tác phẩm văn học bao giờcũng có vô số “điểm trắng” và không thể chỉ một ngày, hai ngày mà người đọc hiểu hếttác phẩm Mà đó là một quá trình dầy công khám phá, hòa quyện vào tác phẩm với mộtthái độ nghiêm túc, kiên trì.
Có thể nói, những khái niệm mà H Jauss và W Iser đưa ra cùng những thành quả củacác nhà nghiên cứu về nó đã mở đường cho một nhận thức mới về người đọc và vấn đề
Mỹ học tiếp nhận Từ đây, chúng tôi xin đưa ra một định nghĩa về người đọc qua sự đúckết từ các nội dung trên:
Người đọc là cá nhân thông qua hành vi đọc để tiếp cận với tác phẩm văn học Trong đó,mọi giá trị của tác phẩm sẽ dần được khám quá thông qua quá trình tiếp nhận thẩm mỹnhất định Đồng thời, trong cuộc gặp gỡ gián tiếp với tác giả cũng như tiếp xúc trực tiếpvới văn bản, người đọc ngoài việc tiếp thu những giá trị được tìm thấy, họ còn có khảnăng tác động ngược lại Điều này cho thấy, người đọc có một vai trò quan trọng trongtiếp nhận văn học, là đích đến của mọi hoạt động sáng tác cũng như kiểm định chất lượngvăn chương
3.1.3 Mối tương quan giữa các đối tượng
Khi nhắc đến tiếp nhận văn học, người ta thường cho nó như một quá trình gắn liền vớingười đọc Tuy nhiên, nói một cách khách quan, dù trực tiếp hay gián tiếp, tác giả và tácphẩm vẫn đóng một vai trò nhất định trong quá này Hơn nữa, nếu xem sáng tác và tiếpnhận là một chu trình tiếp nối và mang tính tương tác thì giữa ba đối tượng tác giả - tácphẩm - người đọc luôn có sự chuyển hóa và nhận thức lẫn nhau để góp nên sự tiến bộ chovăn học, đồng thời loại trừ những giá trị tầm thường ra khỏi khuôn viên của nghệ thuậtchân chính
Với tác giả, quá trình tiếp nhận có một ý nghĩa nhất định đối với sự nghiệp văn học của
họ Điều này xuất phát từ mục đích của sáng tác văn học là để phổ biến đến độc giả Do
đó, độc giả hoàn toàn có quyền quyết định đến sự tồn tại của tác phẩm Tuy nhiên, sựquyết định này không căn cứ vào độc giả duy nhất mà căn cứ vào số đông độc giả vớinhiều lực lượng tiếp nhận khác nhau Bao gồm người đọc bình dân, các siêu người đọc làngười sáng tác, nhà phê bình, lí luận… Trong đó, siêu người đọc là lực lượng mang tínhquyết định nhất; họ đại diện cho lớp người đọc hội tụ nhiều ưu điểm về chuyên môn,được đào tạo, có năng lực khoa học và có tiếng nói trong cộng đồng… Đối với ngườisáng tác, việc tiếp nhận từ độc giả đôi khi sẽ gây ra một áp lực nhất định về dư luận.Chính điều này đã đòi hỏi những người sáng tác phải luôn cho mình một tâm thế, một
Trang 16trách nhiệm, một sự cân nhắc trước khi đặt bút sáng tác Ngoài ra, sự đánh giá, phê bình
từ nhiều lực lượng tiếp nhận sẽ giúp cho tác phẩm bộc lộ ra những cái hay cũng nhưnhững điều còn thiếu sót Để rồi, tác giả có thể điều chỉnh hoặc định hướng lại trong cácsáng tác của mình về sau Do vậy, bản thân tác giả cũng cần hình dung trước về nhóm đốitượng tiếp nhận mà tác giả hướng tới Bởi vì, tác phẩm làm ra nếu không phù hợp với lựclượng tiếp nhận, với bối cảnh xã hội cần thiết cũng như các quy luật cơ bản của nghệthuật có thể dẫn đến sự khó khăn hoặc thất bại ngay khi tác phẩm vừa mới ra đời
Ở đây, ta cũng nên chú ý về vai trò của tác phẩm trong tiếp nhận văn học Nếu tác giả làngười làm nên tác phẩm để tạo cơ hội cho quá trình tiếp nhận diễn ra thì tác phẩm là cầunối gián tiếp cho cuộc đối thoại giữa tác giả và người đọc.Tuy nhiên, cuộc đối thoại này
là một cuộc đối thoại đặc biệt khi mọi sự giao tiếp giữa tác giả và người đọc đều thôngqua tác phẩm - văn bản nghệ thuật ngôn từ Trong đó, mọi thông điệp tác giả gửi gắmđược thể hiện dưới một thế giới ngôn ngữ đầy gợi mở, có sự tồn tại của các nhân vật,hình tượng văn học, những yếu tố về vần điệu, những tình huống, xung đột… buộc ngườiđọc phải thật am hiểu, thật tinh tế thì mới có thể phát hiện ra Chính điều này làm cho sựtiếp nhận của độc giả trở nên phong phú và không ai thống nhất với ai được.Ở đó, mọi ýnghĩa tác phẩm được khám phá thông qua trí tưởng tượng và trải nghiệm của chính độcgiả Và không ai có quyền khẳng định một tác phẩm chỉ được hiểu theo một cách mà phảiphụ thuộc nên nhiều yếu tố để xác định giá trị đích thực của tác phẩm Ngoài ra, ta cũngcần lưu ý “tác phẩm văn học là tấm gương khách quan về tầm vóc tiếng nói nghệ thuật,chiều sâu phản ánh, trình độ nghệ thuật, tài năng sáng tạo” Do vậy, việc đánh giá chủquan về tác phẩm mà không căn cứ vào những điều kiện khách quan để kiểm chứng sẽảnh hưởng đến tác phẩm cũng như người sáng tác ra nó Đồng thời, trong cuộc giao tiếpgián tiếp giữa tác giả và người đọc, “tác phẩm tuy phải hiện diện thành văn bản, quyểnsách nhưng không giản đơn chỉ là quyển sách, là văn bản ngôn từ, mà là sự kết tinh củamột quan hệ xã hội nhiều mặt” Nó không phải là một chỉnh thể chết lặng mà bản thânluôn vận động thông qua người tiếp nhận để có thể tồn tại Theo đó, quá trình tiếp nhận làmột quá trình có thể không bao giờ kết thúc khi tác phẩm đó được lưu truyền thông quanhiều thế hệ người đọc Từ đây, ta có thể thấy tác phẩm văn học bao giờ cũng được nhìnnhận qua góc nhìn độc giả, thậm chí họ là những người có khả năng chi phối, tác động lạicác giá trị của tác phẩm Do vậy, trong lý luận văn học hiện đại ngày nay, khái niệm tácphẩm văn học không còn được hiểu đơn giản như trước kia, mà nó là sự kết tinh của vănbản và sự hiểu của người đọc
Bằng việc đặt tác giả và tác phẩm trong quan hệ với người đọc như những gì đã trình bày
ở trên.Một mặt, chúng tôi muốn khẳng định sự gắn bó mật thiết giữa ba đối tượng đó.Mặtkhác, chúng tôi cũng nhấn mạnh vai trò trung tâm của độc giả trong quá trình tiếp nhận.Ở
Trang 17đó, mối quan hệ giữa chúng tuy khác nhau về vai trò nhưng không xung đột để loại trừnhau, đó là “mối quan hệ tương tác có tính chất đối thoại, mang tính bình đẳng, khôngphải là một quan hệ phụ thuộc, áp đặt quyền uy lên nhau” Từ đó, bản thân các đối tượngtạo nên một quy luật trong sáng tác và tiếp nhận, rằng “Sự hiện hữu của tác phẩm văn học
sẽ trở thành hư vô, nếu không có sự tham dự của người đọc Bởi lẽ, vai trò của người đọckhông chỉ được xác lập khi văn bản mới ra đời, thoát li khỏi nhà văn để bước vào hànhtrình của hoạt động tiếp nhận, mà sự tham dự của người đọc đã có ngay từ khi bắt đầuhành trình sáng tạo của nhà văn”
Khái niệm “Chân trời chờ đợi”: Nghiên cứu khoa học tiếp nhận chính là nghiên
cứu mối quan hệ giữa chân trời chờ đợi của tác phầm và chân trời chờ đợi của độcgiả Khái niệm “chân trời chờ đợi” là thuật ngữ được Karl Mannheim, nhà triết
học và xã hội học người Đức đề xuất trong “Con người và xã hội trong thời đại tái cấu trúc” (1940).
Khái niệm chân trời chờ đợi được hiểu là khoảng cách và sự đứt quãng trong mối quan hệgiữa người đọc với tác phẩm Hay đó còn là sự va chạm giữa người đọc với tác phẩm, từ
đó sinh ra nhiều vấn đề như: giữa hai chân trời có sự nhượng bộ, chấp nhận hay sự phảnứng cho sự khác biệt, mâu thuẫn không hóa giải được Khái niệm này đã được nhiều tácgiả áp dụng trong công trình của mình, như Karl Popper sử dụng khái niệm chân trời chờ
đợi trong tiểu luận“Quy luật tự nhiên và hệ thống lí luận” (1949) Hans Robert Jauss vận
dụng khái niệm vào nghiên cứu văn học, theo Jauss thì khái niệm này được hiểu là: hệthống những chuẩn mực và hệ quy chiếu của công chúng văn học vào một thời điểm lịch
sử nhất định, từ đó mà việc bình luận, đánh giá tác phẩm ra đời Bao gồm ba nhân tốchính: kinh nghiệm thưởng thức; hình thức và chủ đề tác phẩm; sự đối lập giữa ngôn ngữthi ca với ngôn ngữ thực tiễn, giữa thế giới tưởng tượng với thế giới thực hằng ngày.Còn
đối với Wener Bauer trong “Văn bản và tiếp nhận” thì chân trời chờ đợi được tạo ra bởi
sự trải nghiệm ngôn từ, kinh nghiệm xử lí văn bản, đặc biệt là các văn bản văn chương và
sự trải nghiệm cá nhân, có thể xem đây là sự tương quan biện chứng: người đọc chờ đợitác phẩm và tác phẩm chờ đợi người đọc
Một điều đáng nói ở đây là khoảng cách giữa chân trời chờ đợi có sẵn với tác phầm mớixuất hiện, bởi hệ quả của chúng là sự chênh lệch ở trình độ tiếp nhận cũng như quan điểmthẩm mỹ Dẫn đến việc người đọc quy chiếu chân trời chờ đợi của tác phẩm vào nhữnggiá trị thẩm mỹ cũ, không còn phù hợp và không đón nhận những chuẩn mực nghệ thuậtmới, sáng tạo Jauss đã giải thích: “Khả năng tái lập chân trời chờ đợi của một tác phẩmcũng chính là xác định tư cách tác phẩm nghệ thuật của nó qua việc thể hiện bản chất vàtác động mạnh mẽ đối với một công chúng nhất định Chúng ta gọi “khoảng cách thẩmmỹ” là khoảng cách chân trời chờ đợi có sẵn với một tác phẩm mới là sự tiếp nhận có thể
Trang 18kéo theo một sự thay đổi chân trời đưa đến xung đột với những kinh nghiệm quen thuộchay làm cho những kinh nghiệm khác lần đầu tiên xuất hiện, chiếm lĩnh ý thức ngườiđọc Chính khoảng cách thẩm mỹ được đo lường bằng những cung bậc phản ứng củacông chúng và phán xét của giới phê bình (đạt thành công tức thì, bị bác bỏ hay bị mangtai tiếng, được tán thưởng bởi những cá nhân riêng lẻ, được thấu hiểu từng bước haymuộn màng) có thể trở thành một tiêu chí của sự phân tích lịch sử”
Như vậy, chúng ta phải nâng cao chân trời chờ đợi của người đọc hay chính là nâng caothị hiếu thẩm mỹ của công chúng theo chiều hướng tiến bộ nhằm nâng cao trình độ sángtạo của chính nền văn học Định hướng chân trời chờ đợi, giúp cho người đọc hiều được
và hưởng thụ các giá trị tư tưởng của các tác phẩm lớn Phẩm chất nội tạ của nghệ thuậtchính là tính nâng cao, là sự tinh lọc và là tinh thần sáng tạo
2 VAI TRÒ CỦA NGƯỜI ĐỌC
2.1.Chủ thể tiếp nhận văn học
2.1.1 Khái niệm chủ thể tiếp nhận văn học
Người đọc chính là chủ thể tiếp nhận văn học.Theo Yuri Borev: “Người đọc không chỉđơn thuần là người có nhu cầu về các sản phẩm nghệ thuật, không chỉ là đối tượng của sựtác động tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm Người đọc là người cùng tham gia vào tiếntrình sáng tạo để xây dựng ý nghĩa của tác phẩm nghê thuật, là người đồng sáng tạo, làchủ thể thực hiện quá trình đọc như một hành sáng tạo có tính chất xây dựng.” Người đọccũng là hiện thân cho động lực thôi thúc người nghệ sĩ cầm bút.Nói một cách hình ảnh thìnếu xem một tác phẩm văn học là một sinh thể thì những dòng chữ trên trang viết kia chỉ
là phần Xác,còn sự tiếp nhận của người đọc mới thực sự làm nên phần Hồn của tácphẩm.Mất đi phần hồn,tác phẩm chỉ còn lại văn bản,dòng chữ kia chỉ còn là " những vếtđen trên tờ giấy trắng " vô nghĩa Người đọc chủ động tiếp nhận,mở rộng giới hạn ngữnghĩa cho văn bản,chính họ - chủ thể tiếp nhận là người giải mã " bảy phần chìm của mộttảng băng trôi" ,họ đối thoại bằng những cảm xúc thẩm mỹ trong hoạt động giao tiếp màngười phát là tác giả
2.1.2 Phân loại chủ thể tiếp nhận văn học-người đọc
- Đứng về phía người tiếp nhận, người ta chia người đọc ra làm 4 loại:
Trang 19+Thứ nhất là người đọc tiêu thụ Ðây thường là loại người đọc đọc ngấu nghiến cốttruyện, ham thích tình huống éo le gay cấn, nhiều khúc mắc cạm bẫy Loại này đọc lướtnhanh vào giờ nhàn rỗi, tìm thú giải trí, có những đánh giá dễ dãi
+Thứ hai là, loại đọc điểm sách Loại người này có ý thức tìm ở văn chương những thôngtin mới về cuộc sống, đạo đức … để thông báo cho độc giả của các báo
+ Thứ ba là loại người đọc chuyên nghiệp - những người giảng dạy nghiên cứu phê bình
ở các trung tâm nghiên cứu
+Thứ tư là những người sáng tác - nhà văn, nhà thơ đọc theo cảm hứng bất chợt hoặc đểtham gia viết những trang phê bình ngẫu hứng
-Đứng ở góc độ sáng tác,người ta chia người đọc ra làm 3 loại:
+Thứ nhất là người đọc thực tế Tức là những người đọc, người tiếp nhận sáng tác tồn tạimột cách cụ thể, cá thể.Họ tiếp nhận văn chương theo nhu cầu , theo cá tính, theo sởthích cá nhân.Tuy nhiên nhà văn cũng không thể nào đáp ứng được từng đối tượng một,sáng tác dành riêng cho đối tượng nào đó mà chỉ có thể sáng tác cho một bộ phận ngườitiếp nhận có thị hiếu tương đồng
+Thứ hai là người đọc giả thiết Ðây là loại độc giả của từng tác giả Loại này tồn tạitrong tác giả suốt quá trình sáng tác từ nảy sinh ý đồ cho đến kết thúc Nhà văn có chủđích hướng tới họ là chủ yếu
Thứ ba ,người đọc hữu hình là loại người đọc tồn tại bên trong tác phẩm như một nhânvật luôn đối diện và đối thoại với nhà văn
-Đứng ở góc độ thời guan,người ta chia người đọc ra làm 3 loại:
+Thứ nhất,người đọc hiện tại – người đọc đang sống đồng thời cùng tác giả,thực sự tiếpnhận tác phẩm và lên tiếng khen chê trực tiếp với tác giả
+Thứ hai,người đọc quá khứ,loại người đọc không thể và không bao giờ tiếp nhận tácphẩn.Ví như Tố Hữu viết “ Kính gửi cụ Nguyễn Du” thì đây không phải là bức thư gửi cụNguyễn Du sống ở nơi nào đó mà là gửi cho linh hồn cụ Nguyễn Du
+Thứ ba,người đọc tương lai.Loại người đọc này chưa tồn tại thực tế có thể,hoặc khôngthực sự đọc tác phẩm nhưng vẫn xuất hiện trong quá trình làm tác phẩm của tác giả và cókhi là chủ đích hướng tới của nhà văn
Trang 20Thưởng thức văn học của người đọc muôn màu muôn vẻ và có những tiếp nhận tích cựcnhưng cũng có những cảm nhận tiêu cực, phiến diện, tiêu cực Nếu trong sáng tác có vấn
đề phong cách, thì trong cảm nhận, thưởng thức tác phẩm cũng sẽ phụ thuộc vào nhữngyếu tố như nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi và cá tính của từng chủ thể tiếp nhận Về mặtnội dung tư tưởng thì chỉ có những chủ thể tiếp nhận thuộc vào xã hội tiên tiến trong từngthời kỳ, mới phát hiện ra giá trị khách quan của tác phẩm văn học
Khi tác phẩm văn học bước vào đời sống tinh thần của một lớp công chúng cùng thời vớinhà văn Tác giả có thể nhận được sự cộng hưởng từ lớp độc giả này mà không bị giáncách quá nhiều qua không gian và thời gian Những tác phẩm có cuộc sống dài lâu khôngchỉ đối diện với người đọc đương thời mà còn đối với người đọc của các thế hệ tươnglai.Như Nguyễn Du đã nghĩ đến tác phẩm về sau này khi viết: “Bất tri tam bách dư niênhậu Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ( Độc Tiểu Thanh Ký )
2.1.3 Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học - chủ thể tiếp nhận
Như đã trình bày ở chương I,trong quá trình hình thành và phát triển của văn học, đờisống hoạt động văn học từ xưa tới nay đều trải qua các giai đoạn hiện thực thẩm mỹkhách quan – nhà văn – tác phẩm – bạn đọc Giữa chúng có những mối quan hệ hết sứcmật thiết, liên kết với nhau Nghệ thuật là một trong những dạng sản xuất của cải tinhthần của con người Quá trình sản xuất ra của cải tinh thần - tác phẩm nghệ thuật diễn ranhư thế nào? Hiểu một cách đúng đắn và nghiêm ngặt thì, xong khâu sửa chữa, việc sángtạo nghệ thuật mới chỉ hoàn thành được một công đoạn trong cả một quá trình sản xuất
Ðó là công đoạn hoàn thành văn bản tác phẩm Những đứa con tinh thần được sản sinh radưới ngòi bút và cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, tác giả sẽ được định đoạt như thế nào làtùy thuộc vào nó và xã hội chung quanh Số phận của tác phẩm nghệ thuật như thế nào làtùy thuộc vào nó và người tiếp nhận nó Chỉ đến khi được người đọc tiếp nhận thì hoạtđộng sáng tạo nghệ thuật mới hoàn tất Nhưng trong một cơ chế hoạt động văn học thìmọi giai đoạn đều cực kì quan trọng và phải đúng với vị thế của nó và phải có sự tươngtác qua lại giữa các giai đoạn trong dây chuyền hoạt động chung.Chẳng hạn nếu cho rằngngười đọc mới tạo ra nghĩa cho tác phẩm thì sẽ dễ dẫn đến việc nhà văn chỉ viết ra một văn bản không cảm xúc, vô nghĩa.Vì vậy các giai đoạn trong hoạt động đời sống văn họccần được cân bằng,nhà văn luôn vinh dự và hiểu được trách nhiệm của mình trong việcsáng tác ra những văn bản tác phẩm vốn đã hàm chứa nội dung, ý nghĩa mà còn vô cùnggiá trị để cho người đọc tiếp nhận Tác giả Nguyễn Minh Châu đã từng nhận xét về tiểuthuyết” Chiến tranh và hòa bình” : “ Hình như cái “ ông già nhà văn” Nga ấy – mà có khingười ta đã ví với tạo hóa – đã đạt tới một mối giao hòa nào đấy đến mức độ bí ẩn với cái
“ tâm hồn Nga” đã đi đến kiệt cùng những giá trị tinh thần đẹp đẽ của dân tộc mình, cho
Trang 21nên đã bắt gặp được tâm hồn của những con người bình thường nhất của các dân tộckhác Đối với tôi, một người cầm bút, đó là một bài học bất chợt thu hoạch được từnhững người đọc, trong chuyến đi chiến trường làn ấy” Thông qua đó chúng ta nhận thấyđược vai trò quan trọng của chủ thể tiếp nhận văn học – người đọc.
Mặc dù chúng ta cũng nhận thấy nếu như không có những sáng tác của nhà văn thì sẽkhông có người đọc và quá trình tiếp nhận văn học, nhưng nếu không có người đọc tiếpnhận thì tác phẩm của nhà văn ra đời nhằm mục đích gì.Sự tác động của chủ thể tiếp nhận– người đọc không phải chỉ xuất hiện trong thời kì xuất hiện nhà in, nhà xuất bản, cơquan phát hành và sản phẩm văn học trở thành hàng hóa lưu thông trên thị trường.Ở thời
cổ Hy Lạp, những nhà thơ thường đi ngâm thơ trên những sân khấu ngoài trời cho côngchúng nghe.Ở Nhật Bản thời “ tiền báo chí”, các nhà thơ, nhà tiểu thuyết sau khi viếtxong tác phẩm, in thủ công một ít, thường phải đem rao bán trước công chúng bằng cách
kể lại tóm tắt những tình tiết hay…qua đó chúng ta nhận thấy từ thời xa xưa thì ngườiđọc đã có tầm quan trọng như thế nào đối với tác giả.Theo Mác:” Trong tiêu thụ, sảnphẩm cuối cùng mới được hoàn thành” Tác phẩm văn học tác động sâu sắc đến đời sống
xã hội thông qua việc bồi dưỡng và nâng cao tâm hồn của mỗi con người,hướng mỗi conngười đến chân – thiện – mĩ Muốn thực hiện được những mục đích mà tác giả muốnhướng đến thì phải được người đọc tiếp nhận Những hình tượng khi tham gia tinh thầntrong tác phẩm khi tham gia vào thế giới tinh thần của người đọc mới biến thành một yếu
tố trong đời sống ý thức xã hội
Theo lý thuyết tiếp nhận người đọc không chỉ là chủ thể tiếp nhận văn học mà còn có vaitrò tích cực và chủ động trong toàn bộ tiến trình văn học Bằng sự tiếp nhận văn họcngười đọc chi phối cả quá trình sáng tạo, biên tập, phổ biến, phê bình và tiếp thu tácphẩm Người đọc vô tình tác động đến tư duy nghệ thuật, sự lựa chọn đề tài, sự thể hiệnchủ đề, phương thức xây dựng nhân vật, cách kết cấu đến cả nghệ thuật ngôn từ.Vì vậyngười đọc tác động sâu sắc đến tác giả trước khi tác phẩm ra đời và trong suốt quá trìnhhình thành tác phẩm Người đọc có ảnh hưởng đến tâm tưởng của nhà văn với những nhucầu, thị hiếu, động cơ, tâm thế, tầm đón, điều kiện và hoàn cảnh thưởng thức của mình.Tóm lại nếu sáng tác quy định phương thức tiếp nhận, thì tiếp nhận và người đọc
cũng chi phối trở lại phương thức và hình thức sáng tác.Trong quá trình chi phối trở lạitác phẩm, người đọc làm cho tác phẩm đó trở nên phong phú và thú vị hơn bằng nhữngcảm thụ riêng và đánh giá, phê bình của bản thân mình
Thị hiếu của người đọc chi phối đời sống văn học Người đọc tầm thường thì văn học tầmthường Khi người đọc khắt khe, nên có văn học quanh co, nói bóng nói gió Người đọcbao dung, cởi mở thì sẽ có văn học phóng khoáng Như vậy, người đọc là một nhân tố