Cho vay tài trợ và cho vay theo mục tiêu chỉ định của Chính phủ Chi Ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển là khoản chi quan trọng vàchiếm tỷ lệ cao trong tổng chi tiêu của Ngân sách
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I Các hình thức sử dụng vốn tín dụng Nhà nước 2
1 Tạm ứng cho Ngân sách Nhà nước 2
2 Cho vay tài trợ và cho vay theo mục tiêu chỉ định của Chính phủ 2
3 Cho nước ngoài vay 3
II Thực trạng tín dụng Nhà nước hiện nay 3
1 Thực trạng vay nợ của Nhà nước 3
1.1 Vay nợ trong nước thông qua phát hành các giấy tờ có giá 3
1.2 Vay nợ nước ngoài 6
1.2.1 Vay nợ nước ngoài dưới hình thức hỗ trợ phát triển chính thức 6
1.2.2 Vay nợ nước ngoài dưới hình thức phát hành trái phiếu quốc tế 7
1.2.3 Vay thương mại nước ngoài 13
2 Thực trạng sử dụng nguồn vốn tín dụng Nhà nước (thực trạng cho vay tín dụng Nhà nước) 15
2.1 Tạm ứng cho Ngân sách Nhà nước từ nguồn vốn của hệ thống Kho bạc Nhà nước 15
2.2 Cho vay tài trợ và vay theo mục tiêu chỉ định của Chính phủ 17
2.3 Cho nước ngoài vay và viện trợ các quốc gia kém phát triển 21
III Giải pháp kiến nghị 21
KẾT LUẬN 23
Trang 3
MỞ ĐẦU
Tín dụng Nhà nước ra đời gắn liền với sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước,đóng vai trò là nhân tố quan trọng thúc đẩy thị trường tiền tệ, thị trường vốn pháttriển Với cơ chế hoạt động ổn định, uyển chuyển của mình, tín dụng Nhà nước có thểnhanh chóng huy động vốn để giải quyết những nhiệm vụ quan trọng mà Tài chínhcông phải đảm bảo, giúp cho Ngân sách Nhà nước được ổn định, cân đối và là đònbẩy tích cực để Nhà nước quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà nền kinh tế thế giới có nhiều biến động, ảnhhưởng đến nền kinh tế trong nước theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực, thì vaitrò quản lý của Nhà nước về kinh tế, trong đó tín dụng Nhà nước cần phải được chútrọng nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực Sau đây, chúng
ta cùng tìm hiểu các hình thức sử dụng vốn tín dụng Nhà nước và thực trạng tín dụngNhà nước hiện nay, qua đó đưa ra những giải pháp kiến nghị nhằm khắc phục nhữnghạn chế, đồng thời phát huy vai trò tích cực của công cụ tài chính này
Trang 4
I Các hình thức sử dụng vốn tín dụng Nhà nước
1 Tạm ứng cho Ngân sách Nhà nước
Nguồn vốn của hệ thống Kho bạc Nhà nước được hình thành có tính chất tạmthời Do đó, các Kho bạc Nhà nước ở tỉnh, thành được sử dụng nguồn vốn này để tạmứng cho địa phương để giải quyết các nhu cầu chi cấp bách của Ngân sách địa phươngtrong những thời điểm thu của ngân sách chưa tập trung đủ để chi
Việc tạm ứng vốn Kho bạc Nhà nước được quy định cụ thể tại Thông tư Số:162/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính
Các trường hợp được tạm ứng theo quy định:
Chi các khoản có tính chất thường xuyên: lương, phụ cấp lương, học bổng, sinhhoạt phí, thương binh xã hội được Ngân sách địa phương đài thọ
Chi các khoản không có tính chất thường xuyên nhưng đã được ghi trong kếhoạch do Chính phủ giao và Ủy ban nhân dân tỉnh duyệt, bao gồm: Chi đầu tưcác công trình kinh tế xã hội, các khoản chi cần thiết, cấp bách khác của Ngânsách địa phương
Mức tạm ứng theo quy định Nhà nước và thời gian tạm ứng là 1 tháng Hết thờigian tạm ứng nếu Sở Tài chính không chủ động trả nợ, Kho bạc Nhà nước tỉnh, thànhphố được quyền trích tồn quỹ của Ngân sách địa phương để thu hồi nợ Mọi khoảntạm ứng trong năm đều phải được thu hồi và quyết toán trong phạm vi năm ngân sách
2 Cho vay tài trợ và cho vay theo mục tiêu chỉ định của Chính phủ
Chi Ngân sách Nhà nước cho đầu tư phát triển là khoản chi quan trọng vàchiếm tỷ lệ cao trong tổng chi tiêu của Ngân sách Nhà nước Vốn Ngân sách đượcphân bổ, tập trung cho các công trình trọng điểm, các công trình xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế xã hội, các cơ sở sản xuất kinh doanh trọng yếu phục vụ công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước và các vùng còn có nhiều khó khan về phát triển kinh tế xã hội Ngoài ra, đứng trước yêu cầu phải sử dụng hết tiềm năng sức sản xuất của nềnkinh tế, Nhà nước ưu tiên dành một số vốn nhất định để cho vay đầu tư qua nghiệp vụtín dụng Nhà nước Việc đầu tư này đòi hỏi đối tượng được sử dụng vốn tín dụng Nhànước phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định thì mới có thể nhanh chóng bù đắp
số vốn được Nhà nước đầu tư
Trang 5
Song song với đó, để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, Nhà nước còn ápdụng chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, thời hạn cho vay dài, thủ tục đơngiản Đối tượng được áp dụng chính sách này là người nghèo, người chưa có việclàm, người thuộc diện xã hội phải ưu đãi Chính sách này có ý nghĩa to lớn cả về mặtchính trị lẫn kinh tế, thể hiện được trách nhiệm của Nhà nước với nhân dân, đồngthời, tác động và tạo điều kiện cho tầng lớp dân cư này biết kinh doanh, sử dụng vốn
có hiệu quả, không ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà nước
Nguyên tắc đầu tư phát triển qua tín dụng Nhà nước:
Thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội và chính sách Tài chính của Nhà nước;phát triển sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập
Bảo tồn và sinh lợi vốn, số vốn phải được thu hồi và bằng hoặc lớn hơn vốn đãcho vay, đây cũng là nguyên tắc cơ bản của nghiệp vụ tín dụng
3 Cho nước ngoài vay
Nguồn vốn của Chính phủ cho nước ngoài vay được trích từ nguồn của Ngânsách Nhà nước Việc cho vay ra nước ngoài được quy định tại Thông tư số:37/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước
Các phương thức cho vay ra nước ngoài của Chính phủ:
Cho vay trực tiếp giữa hai Nhà nước (song phương)
Cùng nhiều nước phối hợp cho một nước khác nhau (đa phương)
Các khoản cho vay chủ yếu được thực hiện dưới hình thức viện trợ phát triểnchính thức ODA Loại vốn này ưu đãi về lãi suất, thời hạn vay dài và khối lượng vaytương đối lớn nhằm mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển Cho vay ra nướcngoài của Chính phủ ngoài việc đem lại nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước từ số lợitức cho vay còn đem lại cho Chính phủ chủ nợ những quyền lợi khác về kinh tế, chínhtrị, ngoại giao
II Thực trạng tín dụng Nhà nước hiện nay
1 Thực trạng vay nợ của Nhà nước
1.1 Vay nợ trong nước thông qua phát hành các giấy tờ có giá
Trong quá trình điều hành ngân sách, các chính phủ thường có nhu cầu chi
nhiều hơn số tiền thu được và việc cắt giảm các khoản chi rất là khó khăn vì liên quan
Trang 6
các giải pháp để bù đắp sự thâm hụt của ngân sách nhà nước Giải pháp mà chính phủ
sử dụng là vay thêm tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, bao gồm vay trong nước và vaynước ngoài Với dân số hơn 91 triệu người, nợ công tính theo đầu người xấp xỉ 944USD/người; trong khi các năm trước, nợ nước ngoài cao áp đảo so với nợ trongnước Nhưng từ năm 2014, nguồn nợ vay từ trong nước bất ngờ lại có tỷ trọng caohơn, chiếm 55% vay của chính phủ
Hiện nay, vay nợ trong nước thông qua phát hành các giấy tờ có giá đã trở thànhhình thức huy động vốn chủ yếu của Nhà nước nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách và
mở rộng chi đầu tư phát triển Các giấy tờ có giá của Nhà nước được phát hành dướidạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, có ghi tên hoặc không ghi tên với những kỳ hạnkhác nhau,phương thức phát hành đa dạng và từng bước được chuẩn mực hóa, tạothuận lợi cho việc giao dịch mua bán ở thị trường Tài chính sơ cấp và thứ cấp.Vớinhiều hình thức vay nợ trong nước được Nhà nước áp dụng như: tín phiếu nhà nước,trái phiếu chung, trái phiếu thu nhập dự án, trái phiếu chính phủ
Khái niệm nợ công chỉ thực sự có ý nghĩa đối với hệ thống quản lý tài chính ViệtNam từ năm 2010, khi Luật Quản lý nợ công chính thức có hiệu lực Trước đó, cácchỉ tiêu quản lý khác là nợ Chính phủ hay nợ quốc gia đều ở mức khá thấp (31-38%GDP) và chỉ thực sự tăng mạnh từ năm 2009, khi Việt Nam tích cực đi vay để kíchcầu
Những năm sau đó, kinh tế khó khăn, nguồn thu bị cắt giảm để hỗ trợ doanhnghiệp trong khi các khoản chi cho an sinh, các chương trình mục tiêu quốc gia…không thể cắt giảm khiến cho cơ quan quản lý phải thắt chặt túi tiền dành cho đầu tư
Tỷ trọng chi cho lĩnh vực này giảm từ 21,6% năm 2010 xuống mức 16-17% tổng chihiện nay Để bù đắp, Chính phủ phải phát hành 170.000 tỷ đồng trái phiếu trong 3năm 2014-2016, bên cạnh con số 225.000 tỷ đã được Quốc hội phê duyệt trước đócho giai đoạn 2011-2015 Chính điều này đã đẩy nợ công tăng cả về tỷ lệ lẫn số tuyệt
Trang 7
đối, từ mức 50% năm 2011 lên 64% GDP năm 2015 (tốc độ tăng nợ khoảng 18-25%một năm) Điểm tích cực của việc vay nợ những năm qua được Bộ trưởng Bộ Tàichính thông báo là tăng tỷ lệ vay trong nước, giảm phụ thuộc vào nước ngoài, lãi suấttrái phiếu Chính phủ cũng có xu hướng đi xuống Tuy nhiên, ông Đinh Tiến Dũngcũng cảnh báo về các khoản vay trong nước đều có kỳ hạn ngắn Điều này đồng nghĩavới áp lực trả nợ giai đoạn 2015-2016 là rất cao
Dù cho biết đến nay, Việt Nam luôn đảm bảo trả đầy đủ, kịp thời các khoản đếnhạn, không phát sinh nợ xấu, song Bộ trưởng Tài chính cũng thừa nhận cơ cấu nợhiện không bền vững Cơ quan điều hành phải phát hành trái phiếu đảo nợ với tổng sốtiền dự toán trong vòng 3 năm qua khoảng 137.000 tỷ đồng Cụ thể, số phát hành năm
2012 là 20.000 tỷ, 2013 là 40.000 tỷ và theo dự toán năm 2014 là 77.000 tỷ "Nếu thungân sách vượt lên theo báo cáo Quốc hội, có thể bố trí vào thì con số của năm 2014
có thể giảm đi Còn dự toán năm 2015 là 130.000 tỷ", Bộ trưởng cho biết
Từ thực tế này, đại diện ngành tài chính cũng đưa ra kế hoạch khá chi tiết chochiến lược vay nợ của Việt Nam trong giai đoạn từ nay đến 2020 Cụ thể, với mức bộichi dự kiến 4-5% một năm, kế hoạch phát hành 145.000 tỷ đồng trái phiếu trong vòng
2 năm tới, Chính phủ dự kiến sẽ phải bán thêm khoảng 50.000 tỷ đồng trái phiếu mỗinăm cho giai đoạn 2017-2020 Cùng với đó, Chính phủ sẽ tiếp tục phải vay nướcngoài (chủ yếu là ODA, vay ưu đãi…) 5-6 tỷ USD một năm, trong đó số đi vay đểcho doanh nghiệp vay lại 1,5-2 tỷ USD Các khoản bảo lãnh cho doanh nghiệp đặcthù (dầu khí, điện, hàng không…) vay để làm các dự án trọng điểm cũng khoảng 3-4
tỷ USD mỗi năm, bảo lãnh cho các định chế tài chính đặc thù phát hành trái phiếu60.000-70.000 tỷ một năm… sẽ cùng với khoản nợ của chính quyền địa phương (caothêm 30.000-45.000 tỷ mỗi năm) tác động tới nợ công
Tuy vậy, với giả định GDP tăng trưởng 6,2-6,8% mỗi năm trong giai đoạn
2015-2020, lạm phát khoảng 5-6%, bội chi giữ ở mức 4-5%, Chính phủ dự kiến nợ công sẽ
Trang 8
tiếp tục tăng và đạt đỉnh vào năm 2017 (64,9% GDP) và giảm dần sau đó Đến 2020,
cơ quan điều hành kỳ vọng nợ công sẽ về mức 60,2% GDP
1.2 Vay nợ nước ngoài
1.2.1 Vay nợ nước ngoài dưới hình thức hỗ trợ phát triển chính thức
Theo Bộ Tài chính, từ năm 2010, Việt Nam đã trở thành nước thu nhập trungbình Mức độ ưu đãi từ các khoản cho vay của các đối tác phát triển dành cho ViệtNam giảm rõ rệt
Từ thời hạn vay bình quân khoảng 30-40 năm, với chi phí vay khoảng 0,8%/năm, bao gồm thời gian ân hạn (giai đoạn trước 2010) đến thời hạn vay bìnhquân chỉ còn từ 10-25 năm, tùy theo đối tác và từng loại vay; với chi phí vay khoảng2%/năm trở lên (giai đoạn 2011-2015) Nhiều nhà tài trợ đã chuyển từ nguồn vốnODA sang nguồn vốn vay hỗn hợp
Dự kiến đến tháng 7/2017, Việt Nam có thể không còn được vay theo điều kiệnODA, phải chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vay ưu đãi và tiến tới vay theo điềukiện thị trường Nguồn vốn ODA đã vay chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấpđôi hoặc tăng lãi suất từ 2%-3,5%
Theo báo cáo của Bộ Tài chính, trong giai đoạn 10 năm trở lại đây (2005 - 2015),tổng số vốn ODA, vay ưu đãi được ký kết khoảng 45 tỷ USD Trong đó, nguồn ODAdành cho Việt Nam tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như hỗ trợ cân đối tài chính vĩmô; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội; phát triển y tế, giáo dục và đàotạo; phát triển nông nghiệp kết hợp xóa đói, giảm nghèo; bảo vệ môi trường và ứngphó với biến đổi khí hậu
Một điều khá khó hiểu là những năm gần đây, giải ngân vốn ODA lại có dấu hiệugiảm dần Chẳng hạn, theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn ODA giải ngânsau hai năm 2013 – 2014 đạt mức kỷ lục, tương ứng trên 5,1 tỷ USD và 5,65 tỷ USD,
đã giảm xuống chỉ còn 3,7 tỷ USD vào năm 2015 – chỉ bằng 65,42% mức giải ngânnăm 2014 và thấp hơn mục tiêu đã đề ra (5 tỷ USD) Sáu tháng đầu năm nay, con sốđược ước tính là 1,85 tỷ USD, gần tương đương với cùng kỳ năm ngoái, nghĩa là tiếptục xu hướng giải ngân thấp và không có sự cải thiện Theo tính toán của Bộ thì giaiđoạn 2016 -2020 Việt Nam cần huy động tới 39,5 tỷ USD vốn ODA và vốn vay ưuđãi để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển trong giai đoạn này Trong khi đó, WB
Trang 9
đã công bố cho Việt Nam “tốt nghiệp” ODA vào cuối năm 2017 Ngân hàng pháttriển Châu Á(ADB) có thể cũng sẽ ngừng cung cấp các khoản vay ưu đãi (ADF), thayvào đó là vốn vay kém ưu đãi hơn (OCR) sau WB trong 1-2 năm Anh đã thông báo
sẽ dừng cấp vốn ODA cho Việt Nam từ năm 2016 Một số đối tác khác như Phần Lan,
Na Uy đã và đang thực hiện chính sách cắt giảm dần vốn ODA cho Việt Nam tronggiai đoạn 2016-2020
Thực tế cho thấy, sau khi Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bìnhthấp vào năm 2010, sự suy giảm vốn ODA khá rõ nét Tổng vốn ODA và vốn vay ưuđãi ký kết từ chỗ đạt mức cao nhất là trên 6,9 tỷ USD vào năm 2011 đã giảm dầnxuống còn hơn 2,75 tỷ USD vào năm 2015 Thời của đầu tư dễ dàng cho cơ sở hạtầng bằng nguồn vốn ODA có lẽ đã bắt đầu chấm dứt Đây là một thách thức rất lớnđối với Việt Nam, khi nhu cầu vốn đầu tư phát triển không ngừng tăng lên
Trước những yêu cầu về quản lý tài chính đang đặt ra trong giai đoạn tới, Chínhphủ đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-TTg về tăng cường công tác quản lý và nâng caohiệu quả sử dụng nợ công “Nợ công chỉ sử dụng cho đầu tư phát triển, xây dựng cáccông trình kinh tế xã hội quan trọng, thiết yếu theo quy hoạch”, “Tăng dần tỷ lệ chovay lại, giảm dần tỷ lệ cấp phát đối với các khoản Chính phủ vay về cho vay cho vaylại” Do vậy, trong tương lai, cần phải nâng cao công tác quản lý nguồn vốn vay, đặcbiệt là quản lý tài chính nguồn vốn ODA và vay ưu đãi để phát huy hơn nữa hiệu quả
sử dụng nguồn vốn tài trợ của nước ngoài và đảm bảo mục tiêu vay nợ bền vững
1.2.2 Vay nợ nước ngoài dưới hình thức phát hành trái phiếu quốc tế
Tính đến năm 2016, Việt Nam đã trải qua 3 lần Chính phủ phát hành trái phiếuquốc tế thành công Những lần phát hành này đã thiết lập điểm chuẩn cho trái phiếuViệt Nam trên thị trường quốc tế; mở đường cho các doanh nghiệp lớn của Việt Namtrực tiếp huy động nguồn vốn trung và dài hạn bằng ngoại tệ; hiện thực hóa mục tiêuđưa Việt Nam hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế nhằm đa dạng hóa các hìnhthức huy động vốn đầu tư
Việc nhiều nhà đầu tư lớn quốc tế tham gia mua trái phiếu Việt Nam là điều kiệntốt để tăng tính thanh khoản cho trái phiếu khi giao dịch trên thị trường thứ cấp, tạothuận lợi cho những lần phát hành tiếp theo
Nhìn lại 3 lần phát hành trái phiếu quốc tế
Lần phát hành thứ nhất
Trang 10
Năm 2005, lần đầu tiên Việt Nam phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trườngquốc tế Tuy đây là lần phát hành đầu tiên nhưng đã đem lại kết quả ngoài sự mongđợi, tạo được tiếng vang trên thị trường vốn quốc tế, bởi thu hút sự quan tâm lớn củanhà đầu tư châu Âu, châu Á và châu Mỹ
Được sự ủy quyền của Chính phủ, Bộ Tài chính đã chính thức phát hành trái phiếuquốc tế của Chính phủ Việt Nam tại thị trường chứng khoán New York vào ngày27/10/2005 Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế trên thị trường trái phiếu toàn cầutheo phương thức 144A/điều khoản S nghĩa là khi phát hành không phải đăng ký tại
Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC), được bán trực tiếp cho một số nhà đầu tư chọn lọcthông qua một đại lý và được nhà quản lý chính bảo lãnh hoàn toàn cho đợt pháthành
Trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam đã được phát hành theo quy trìnhnghiêm ngặt Tư vấn pháp lý gồm Shearman & Sterlings, Bộ Tư pháp, Freshfields (tưvấn cho phía Việt Nam), Phillips Fox (tư vấn cho các ngân hàng bảo lãnh) Bảo lãnhphát hành là Ngân hàng Credit Suisse First Boston của Thụy Sỹ (nay là Ngân hàngCredit Suisse) Bảo lãnh phát hành chính cho Bộ Tài chính theo hợp đồng mua bántrái phiếu ký giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Credit Suisse ngày 27/10/2005
Ngoài ra, 7 ngân hàng khác tham gia hợp đồng bảo lãnh gồm: Citigroup (Mỹ),Nomura Securites (Nhật Bản), J.P Morgan, Deutch Bank, Merrill Lynch, MorganStanley và Ngân hàng HSBC Ngân hàng New York (Bank of New York) là ngânhàng được chọn làm đại lý thanh toán trái phiếu cho Bộ Tài chính theo hợp đồng đại
lý thanh toán ký giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng New York ngày 03/11/2005
Trang 11
Số lượng trái phiếu chính phủ Việt Nam dự định phát hành ban đầu là 500 triệuUSD, nhưng ngay ngày đầu tiên, số lượng các nhà đầu tư đặt mua đã đạt khoảng 1 tỷUSD, gấp 2 lần số lượng trái phiếu chính phủ Việt Nam định phát hành
Chính phủ đã quyết định tăng khối lượng phát hành thêm 250 triệu USD, nângtổng số phát hành lên tới 750 triệu USD, trái phiếu có thời hạn là 10 năm Mức lãisuất cố định là 6,875%/năm tính trên giá trị danh nghĩa (lãi suất thực là 7,125%) Tiềnlãi trái phiếu được thanh toán 6 tháng một lần vào ngày 15/1 và 15/7 hàng năm bằngUSD, kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 15/01/2006
Trong số trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam phát hành, số lượng trái phiếuđược các nhà đầu tư nắm giữ tính theo khu vực (châu Á 38%, châu Âu 32% và Mỹ30%) Như vậy, một trái phiếu phát hành từ châu Á như Việt Nam đã thực sự đượcphân bổ tương đối đều giữa các khu vực mà không bị dồn vào các nhà đầu tư châu Á Phân theo đối tượng các nhà đầu tư: Các quỹ đầu tư tài chính là đối tượng quantâm nhiều nhất đến trái phiếu chính phủ Việt Nam (chiếm tới 51%), còn lại là cácngân hàng (25%), các công ty bảo hiểm (17%) và các tổ chức tài chính khác (7%).Trong khi các công ty bảo hiểm chính là những nhà kinh doanh rủi ro lại chỉ nắm giữ17% số lượng trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam phát hành Điều này chothấy, niềm tin của các nhà đầu tư đặt vào Việt Nam còn tương đối thấp
Lần phát hành thứ hai
Thời điểm đầu năm 2007, kinh tế thế giới đang phát triển với tốc độ cao, tiềm năng
về vốn lớn, trong khi nền kinh tế Việt Nam cũng đang tăng trưởng nhanh, nhu cầu vềvốn thúc đẩy phát triển kinh tế lớn Cụ thể, dự án nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất đãkhởi công từ năm 2005 và đang thiếu vốn đầu tư
Vì vậy, nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế, ngày 1/6/2007, Chínhphủ đã thông qua Nghị quyết số 07/2007/NQ-CP về việc phát hành trái phiếu quốc tế
ra thị trường vốn quốc tế với các nội dung sau: Hình thức phát hành: theo phươngthức phát hành trái phiếu toàn cầu và theo quy tắc 144A/Điều khoản S (tương tự đợtphát hành 2005); Mức phát hành: 1 tỷ USD; Thời hạn trái phiếu: từ 15 - 20 năm; Loạingoại tệ phát hành: USD; Mục đích sử dụng cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tổngcông ty Hàng hải Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà và Tổng công ty Lắp máy ViệtNam vay lại để thực hiện đầu tư các dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất, Dự án muatàu vận tải, Dự án thủy điện Xê Ca Mản 3 và Nhà máy Thủy điện Hủa Na
Trang 12
Tuy nhiên, đến cuối năm 2007, do thị trường quốc tế không thuận lợi, việc pháthành trái phiếu gặp phải rất nhiều khó khăn trước mắt, khó thành công nên đã phảitạm ngừng các đợt phát hành trái phiếu quốc tế
Kế hoạch phát hành 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường quốc tế từ tháng 6/2007 đã bịhoãn lại Sự thận trọng đó bắt nguồn từ bối cảnh kinh tế toàn cầu, đặc biệt là nền kinh
tế Mỹ gặp khó khăn, thị trường tài chính quốc tế tạm rơi vào tình trạng trầm lắngkhiến các nhà đầu tư Mỹ cũng như các nước khác dè dặt hơn trong việc tham gia đầu
tư vào trái phiếu của các quốc gia khác
Sau một thời gian chuẩn bị Bộ Tài chính đã chính thức phát hành trái phiếu quốc tếcủa Chính phủ Việt Nam lần thứ hai tại thị trường chứng khoán New York vào ngày25/1/2010 Trong lần phát hành này, Việt Nam cũng phát hành trái phiếu quốc tế theophương thức 144A/ điều khoản S tương tự lần phát hành trước
Các ngân hàng đồng bảo lãnh phát hành chính là Barclays Bank PLC (Anh),Citigroup Global Markets Inc (Mỹ) và Deutsche Bank Securities Inc (Mỹ) theo hợpđồng mua bán trái phiếu đã ký ngày 22/1/2010 giữa Bộ Tài chính với các ngân hàngđồng bảo lãnh Ngân hàng Citibank là ngân hàng được chọn làm đại lý thanh toán tráiphiếu cho Bộ Tài chính theo hợp đồng đại lý thanh toán đã ký ngày 14/1/2010 giữa
Bộ Tài chính và Ngân hàng Citibank
Tổng trị giá trái phiếu quốc tế phát hành lần này của Chính phủ Việt Nam là 1 tỷUSD, kỳ hạn 10 năm, đáo hạn vào ngày 29/1/2020 với lãi suất danh nghĩa6,75%/năm, lợi tức phát hành là 6,95% và được giao dịch theo phương thức T+4
Trang 13
Cơ cấu các nhà đầu tư tính theo khu vực: hơn một nửa số trái phiếu quốc tế củaChính phủ Việt Nam được mua bởi các nhà đầu tư đến từ Mỹ (56%), tăng mạnh sovới lần phát hành đầu tiên; 28% từ các nhà đầu tư châu Á và 16% từ các nhà đầu tưchâu Âu Tính theo lĩnh vực: 73% là các quỹ đầu tư và công ty quản lý tài sản, 10% làcác quỹ bảo hiểm và hưu trí, 10% là các ngân hàng và 7% là các nhà đầu tư khác
Đây cũng là giai đoạn lãi suất vay nợ trên thế giới có xu hướng giảm do các ngânhàng trung ương các nước áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ để kích thích phục hồi
và tăng trưởng kinh tế Do vậy, đây là thời điểm thuận lợi để Chính phủ phát hành tráiphiếu quốc tế nhằm đảo nợ khi thời hạn thanh toán của 2 khoản vay trước đó đang tớigần và tái cấu trúc tỷ lệ nợ công hiện tại
Đợt chào bán trái phiếu lần này diễn ra vào lúc 1 giờ chiều ngày 6/11/2014 (giờSan Francisco Mỹ) (tức ngày 7/11/2014 giờ Việt Nam), đồng thời với giao dịch hoánđổi hai trái phiếu chính phủ đã phát hành ra thị trường vốn quốc tế trước đó với hạnthanh toán vào năm 2016 và 2020
Tổng khối lượng phát hành là 1 tỷ USD theo phương thức 144A/ điều khoản S,tương tự như 2 đợt phát hành trước đó Tổng giá trị đăng ký mua trái phiếu của Chính