- Trái phiếu đầu tư: Đây là loại trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm được phát hành để huy động vốn cho các công trình cụ thể và cho Quỹ hỗ trợ phát triển the
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MAKETING
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
TIỀN TỆ - NGÂN HÀNG
NGÀNH TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
LỚP TC-NH 9.1
ĐỀ TÀI:
TÍN DỤNG NHÀ NƯỚC – THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
CHÍNH PHỦ TẠI VIỆT NAM
Học viên thực hiện: Võ Thanh Giang
Nguyễn Vũ Huy Cường Trần Vân Anh
Nguyễn Thị Thùy Linh Nguyễn Ngọc Hồng Nhung Nguyễn Phúc Thành
Hoàng Phương Thảo Đào Thị Lê Vy
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Huy Hoàng
TP HCM, THÁNG 06 NĂM 2017
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1 Tín dụng nhà nước 3
1.1.1 Khái niệm – Phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm 4
1.1.3 Tác dụng 4
1.2 Chức năng và vai trò của thị trường trái phiếu Chính phủ 8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG 10
2.1 Tổng quan thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam thời gian qua 10 2.2 Định hướng hội nhập và phát triển thị trường trái phiếu chính phủ Việt Nam thời gian tới 16
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM HIỆN NAY 19
3.1 Giải pháp ngắn hạn 18
3.2 Giải pháp dài hạn 19
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tín dụng nhà nước
Căn cứ vào yếu tố thời gian, tín dụng nhà nước được chia làm hai loại:
- Tín dụng ngắn hạn: Là những khoản vay ngắn hạn của nhà nước để giải quyết tình trạng mất cân đối tạm thời khi thu chưa kịp đáp ứng nhu cầu chi của ngân sách nhà nước Các khoản tín dụng này được thực hiện dưới hình thức phát hình tín phiếu kho bạc, việc phát hành tín phiếu kho bạc thực hiện bằng hai cách:
+ Phát hành để vay vốn của ngân hàng trung ương
+ Phát hành vay vốn các cá nhân, doanh nghiệp, chủ yếu là các tổ chức tài chính trung gian như ngân hàng thương mại, công ty tài chính
- Tín dụng trung dài hạn: Các khoản vay trung dài hạn đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước Hiện nay, tín dụng được sử dụng như một phương pháp chủ yếu để giải quyết bội chi cho đầu tư phát triển của ngân sách Nhà nước thực
Trang 4hiện huy động vốn dưới hình thức phát hành công trái, trái phiếu chính phủ, vay qua các hiệp định vay nợ giữa chính phủ với chính phủ nước khác hoặc với tổ chức tài chính tiền tệ trên thế giới
Căn cứ vào hình thức huy động, tín dụng nhà nước được thực hiện qua hai phương thức:
- Huy động vốn qua phát hành chứng từ có giá
- Huy động vốn qua các hiệp định vay nợ
Căn cứ vào phạm vi huy động, tín dụng nhà nước gồm:
- Tín dụng trong nước
- Tín dụng nước ngoài
1.1.2 Đặc điểm:
Tín dụng nhà nước có các đặc điểm sau:
- Thể hiện lợi ích kinh tế mang tính tự nguyện, tính cưỡng chế và tính chính trị -
xã hội
- Hình thức tín dụng đa dạng, phạm vi huy động vốn rộng
- Việc huy động vốn và sử dụng vốn có sự kết hợp giữa các nguyên tắc tín dụng
và các chính sách tài chính – tiền tệ của nhà nước
1.1.3 Tác dụng:
Trong giai đoạn kinh tế thị trường phát triển, nhà nước là một chủ thể kinh tế không thể thiếu tham gia trên thị trường, thực hiện các hoạt động kinh tế nhằm đảm bảo cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế xã hội Tín dụng được nhà nước sử dụng như một công cụ tài chính để thực hiện các mục tiêu này Tác dụng của nó được thể hiện trên các mặt:
- Đòn bẩy kinh tế quan trọng để nhà nước điều tiết giữa tích lũy và tiêu dung
- Điều tiết lưu thông tiền tệ trên thị trường
Trang 5- Kiểm soát quy mô đầu tư, điều tiết cơ cấu đầu tư, bố trí hợp lý cơ cấu ngành nghề, tạo nên một cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các vùng lãnh thổ
- Thay đổi một cách thỏa đáng sự phân bổ nguồn lực tài chính trong quá trình điều tiết việc phân phối thu nhập của xã hội
Để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước và đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế, nhà nước còn thực hiện huy động vốn bằng vay nợ trong và ngoài nước
Vay nợ chính phủ thuộc về phạm trù tín dụng nhà nước, phản ánh mối quan hệ tín dụng trong đó nhà nước là người trực tiếp vay vốn từ trong và ngoài nước để dảm bảo các khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước Chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng nhà nước bao gồm: chính quyền nhà nước trung ương, chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính, các tổ chức xã hội, dân cư và các chủ thể nước ngoài
Vay nợ trong nước
Vay nợ trong nước được thực hiện bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ Trái phiếu chính phủ là chứng chủ nhận nợ của chính phủ được phát hành để vay vốn các tầng lớp dân cư và tổ chức kinh tế - xã hội Ở Việt Nam, trái phiếu chính phủ tồn tại dưới các hình thức:
- Tín phiếu kho bạc: Đây là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, thời hạn dưới một năm, được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối thu chi tiền mặt tạm thời trong năm tài chính
- Trái phiếu kho bạc: Khác với tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc là loại trái phiếu trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngân sách đã được Quốc hội phê chuẩn
- Trái phiếu đầu tư: Đây là loại trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm được phát hành để huy động vốn cho các công trình cụ thể và cho Quỹ
hỗ trợ phát triển theo kế hoạch đầu tư đã được phê chuẩn của nhà nước
Việc phát hành trái phiếu chính phủ được thực hiện theo các phương thức sau:
Trang 6- Phương thức đấu thầu: Với phương thức phát hành này người đấu thầu phải có một số vốn nhất định và khi trúng thầu trong thời hạn quy định phải nộp tiền vào kho bạc nhà nước để nhận trái phiếu tiêu thụ Phương thức đấu thầu làm cho trái phiếu tiêu thụ nhanh, chi phí giảm và nhà nước tập trung nhanh chóng vốn vay vào ngân sách nhà nước
- Phương thức bảo lãnh phát hành: Theo phương thức này người bảo lãnh phát hành trái phiếu cho chính phủ trong trường hợp không bán hết thì phải tiêu thụ trái phiếu cho chính phủ Người bảo lãnh phát hành thông thường là các định chế tài chính
có năng lực tài chính
- Phương thức tiêu thụ qua các đại lý: Các định chế tài chính nhận làm đại lý tiêu thụ trái phiếu cho nhà nước Phương thức này cũng giảm chi phí tiêu thụ nhưng tiến độ tập trung vốn vào ngân sách nhà nước không nhanh chóng bằng phương thức trên
- Phương thức phát hành trực tiếp: Kho bạc nhà nước tự tổ chức tiêu thụ thông qua hệ thống hoạt động của mình ở trong nước và văn phòng đại diện ở nước ngoài Phương thức này có nhược điểm là chi phí cho việc tiêu thụ rất cao, tốn kém sức người sức của, tiến độ huy động vốn chậm và bị động nhiều mặt Đối tượng tham gia mua trái phiếu cũng rất đa dạng: các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp trong nước, nước ngoài, các công ty tài chính, các nhà đầu tư chứng khoán, các tầng lớp dân cư…
Vay nợ nước ngoài
Vay nợ nước ngoài của chính phủ là các khoản vay ưu đãi hỗ trợ phát triển chính thức, vay thương mại hoặc tín dụng xuất khẩu và vay từ thị trường vốn quốc tế (dưới hình thức phát hành trái phiếu ra nước ngoài), do cơ quan được ủy quyền của nhà nước hoặc chính phủ ký vay dưới danh nghĩa nhà nước hoặc chính phủ với người cho vay nước ngoài
- Vay hỗ trợ phát triển chính thức
Trang 7Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc chính phủ với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ
Hình thức cung cấp ODA bao gồm:
+ ODA không hoàn lại là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ
+ ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi) là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc
+ ODA vay hỗn hợp là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay
ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính chung lại có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc
Các phương thức cơ bản cung cấp ODA gồm có:
có chiến lược khai thác nguồn vốn này từ các chính phủ và các tổ chức liên chính phủ
- Vay thương mại nước ngoài của Chính phủ
Trang 8Tùy theo nhu cầu về vốn đầu tư phát triển, chính phủ có thể huy động nguồn vốn vay thương mại nước ngoài thông qua các hình thức vay trực tiếp như vay tài chính, vay tín dụng xuất khẩu, phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường vốn quốc
tế hoặc các hình thức phù hợp khác, trong khuôn khổ hạn mức vay thương mại hàng năm Nguồn vay thương mại nước ngoài của chính phủ chỉ được sử dụng cho các mục đích:
+ Cho vay lại đối với chương trình, dự án đầu tư phát triển trọng điểm của Nhà nước có nhu cầu nhập khẩu thiết bị, công nghệ, có khả năng hoàn vốn trực tiếp và trả được nợ vay
+ Hoặc để đảo nợ nước ngoài của chính phủ theo nguyên tắc đảm bảo có lợi và chi phí thấp nhất cho ngân sách
Ở nước ta hiện nay, nếu không đề cập đến 3 lần phát hành thành công trái phiếu chính phủ ra nước ngoài vào các năm 2005 (750 triệu USD), 2010 (1 tỷ USD)
và 2014 (1 tỷ USD) thì nguồn huy động chủ yếu của ngân sách nhà nước là từ trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương, việc phát hành tín phiếu kho bạc cũng hạn chế Do vậy, trong khuôn khổ đề tài về tín dụng nhà nước nhóm chỉ tập trung đề cập đến nguồn huy động chủ yếu là trái phiếu chính phủ để làm đối tượng nghiên cứu cho bài tiểu luận của nhóm
1.2 Trái phiếu Chính phủ
1.2.1 Khái niệm
Trái phiếu Chính phủ là trái phiếu do ngân sách chính quyền trung ương hay địa phương phát hành nhằm mục đích bù đắp các khoản chi đầu tư của ngân sách Nhà nước, quản lý lạm phát hoặc tài trợ cho các công trình, các dự án của Nhà nước
1.2.2 Vai trò và chức năng
Trái phiếu Chính phủ là công cụ đặc biệt quan trọng và có hiệu quả để huy động vốn cho ngân sách nhà nước, góp phần tạo thế chủ động trong công tác quản lý
và điều hành ngân sách nhà nước, hạn chế và đi đến chấm dứt việc phát hành tiền để
bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước Ngoài ra, trái phiếu Chính phủ còn được sử dụng để huy động vốn cho các công trình kinh tế - xã hội của trung ương và địa phương
Trang 9Thứ nhất, thị trường trái phiếu Chính phủ có vai trò trái phiếu hóa các nguồn
vốn cần huy động thông qua việc phát hành chứng khoán, khuyến khích tiết kiệm và thu hút các nguồn vốn đầu tư trong xã hội Thị trường trái phiếu Chính phủ có chức năng huy động và phân bổ các nguồn vốn, thực hiện quá trình chu chuyển tài chính, trực tiếp đưa các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền sang dạng vốn dài hạn
Thứ hai, thị trường trái phiếu Chính phủ là nơi định giá các trái phiếu Chính
phủ phát hành lần đầu và định giá lại các trái phiếu trên thị trường thứ cấp
Thứ ba, thị trường trái phiếu Chính phủ góp phần điều chỉnh quan hệ cung cầu
tiền tệ
Thứ tư, Chính phủ các nước trên thế giới đều sử dụng thị trường trái phiếu
Chính phủ để huy động vốn cho ngân sách nhà nước, cho đầu tư phát triển và coi đây
là một công cụ quan trọng trong việc điều hành chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ quốc gia
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế vĩ mô, sự phát triển của thị trường trái phiếu nói chung và thị trường trái phiếu Chính phủ nói riêng ngày càng có vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu chi cấp bách của ngân sách nhà nước, ổn định nền tài chính quốc gia Chính vì vậy phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ một cách sâu rộng theo xu hướng và thông lệ quốc tế để thúc đẩy huy động vốn cho ngân sách nhà nước là yêu cầu cấp thiết được đặt ra
Trang 10CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG
2.1 Tổng quan thị trường Trái phiếu Chính phủ Việt Nam thời gian qua
Thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam hình thành từ năm 1990 và bắt đầu phát triển từ năm 2000, trong giai đoạn từ 2011 đến nay thị trường trái phiếu Chính phủ phát triển mạnh nhằm đảm bảo mục tiêu là kênh huy động vốn hiệu quả cho ngân sách Nhà nước Đến nay thị trường đã phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, thể hiện ở cả thị trường sơ cấp lẫn thứ cấp, đặc biệt là trên thứ cấp
Trên thứ cấp, với việc thị trường trái phiếu Chính phủ chuyên biệt đi vào hoạt động từ năm 2009, thị trường thứ cấp đã ngày càng phát triển và từng bước thanh khoản hơn Còn trên sơ cấp, bên cạnh là kênh huy động vốn cho ngân sách Nhà nước, thị trường trái phiếu Chính phủ còn đóng vai trò là thị trường chuẩn cho thị trường tài chính Theo đó, thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam đã từng bước phát triển để đảm nhiệm được cả 2 mục tiêu này Cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường có sự thay đổi thông qua các giải pháp mà Bộ Tài chính và các thành viên thị trường đã tích cực triển khai trong thời gian qua như: Tập trung phát triển nhà đầu tư dài hạn, cụ thể là phát hành trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm, 15 năm, 20 năm và 30 năm một cách đều đặn để đáp ứng nhu cầu đầu tư của các công ty bảo hiểm
Tuy nhiên, quy mô thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam vẫn còn nhỏ, để thị trường phát triển một cách toàn diện, đáp ứng yêu cầu huy động vốn cho ngân sách Nhà nước cần phải thực hiện rất nhiều giải pháp Trong đó, vấn đề phát triển cơ sở nhà đầu tư cả trên thị trường sơ cấp, thứ cấp cần được chú trọng, trên cơ sở đó sẽ phát triển thị trường trái phiếu Chính phủ cả về chiều rộng và chiều sâu
Như đã nói ở trên, năm 2016 được xem là năm thành công của Thị trường trái phiếu Việt Nam, đặc biệt là trái phiếu chính phủ, với tổng khối lượng phát hành đạt 280.623 tỷ đồng, tương đương 98,3% kế hoạch phát hành năm với 91% khối lượng phát hành có kỳ hạn từ 5 năm trở lên (vượt mục tiêu do Quốc hội đề ra là 70% khối lượng phát hành có kỳ hạn từ 5 năm trở lên); đồng thời lần đầu tiên phát hành thành công trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 30 năm cho nhà đầu tư nước ngoài
Trang 11Sau khi thực hiện tái cơ cấu, danh mục nợ Chính phủ đã có sự cải thiện rõ rệt
cả về quy mô, kỳ hạn và chi phí huy động, quy mô đạt 27,3% GDP năm 2016 so với mức 16,2% GDP năm 2015, kỳ hạn phát hành bình quân đạt 8,71 năm (tăng 1,73 năm
so với năm 2015) qua đó kéo dài kỳ hạn bình quân của danh mục nợ Chính phủ lên mức 5,98 năm vào cuối năm 2016, tăng 1,54 năm so với cuối năm 2015, lãi suất phát hành bình quân là 6,49% (giảm từ 0,22%-0,5% ở tất cả các kỳ hạn)
Cơ sở nhà đầu tư đã có sự thay đổi tích cực theo hướng tăng tỷ lệ nắm giữ trái phiếu của các nhà đầu tư dài hạn như Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm tiền gửi, doanh nghiệp bảo hiểm (tăng từ mức 23% năm 2015 lên mức 44,6% năm 2016), giảm tỷ lệ nắm giữ trái phiếu của các Ngân hàng thương mại (từ mức 77% năm 2015 xuống còn 55,4% năm 2016)
Trên thị trường thứ cấp, khối lượng giao dịch trái phiếu tăng mạnh so với năm
2015, bình quân phiên đạt 6.285 tỷ đồng tăng 72% so với năm 2015, giúp thanh khoản thị trường tăng đáng kể
Đối với trái phiếu Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương:
Cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu huy động vốn của các Ngân hàng chính sách để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách của Nhà nước và chính quyền địa phương trong việc thực hiện các dự án đầu tư quan trọng, cấp bách thuộc nhiệm vụ chi của địa phương
Để có góc nhìn khách quan và toàn diện hơn, về việc khẳng định thị trường trái phiếu đã có những tăng trưởng và thành công nhất định trong những năm vừa qua, nhóm đưa ra một vài biểu đồ minh họa cho sự thành công của trái phiếu Chính phủ trong 5 năm (2012-2016) như sau: