1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

thực trạng lạm phát và kiểm soát lạm phát ở việt nam

22 203 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 198,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với đề tài “Thực trạng làm phát và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam” nhóm 5 hi vọngtìm hiểu kĩ hơn về lạm phát, về tình hình lạm phát của nước ta trong những năm gần đây và các biện pháp, c

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING

KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

Trang 2

Mục lục

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Lạm phát là một hiện tượng thường xuyên xảy ra của nền kinh tế, trong thời giangần đây, vấn đề lạm phát ngày càng được quan tâm nhiều hơn Lạm phát có thể là độnglực giúp một nền kinh tế phát triển xong nó cũng là nguyên nhân phá vỡ sự phát triển củanền kinh tế một quốc gia, gây nên những bất ổn từ kinh tế dẫn đến đời sống và ảnh hưởngtới lĩnh vực chính trị - xã hội Ở Việt Nam, ảnh hưởng của lạm phát không còn là mới lạ,

từ thời kỳ bao cấp nền kinh tế của chúng ta đã bị thiệt hại nặng nề, tiền đồng liên tục mấtgiá, 3 lần đổi tiền liên tiếp trong thời gian ngắn Bước sang nền kinh tế thị trường hiệnnay, vấn đề lạm phát đã khó kiểm soát nay còn khó khăn hơn với những tác động từ thếgiới trên thị trường tiền tệ, giá nguyên liệu,… gây ra những bất ổn khó lường

Với đề tài “Thực trạng làm phát và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam” nhóm 5 hi vọngtìm hiểu kĩ hơn về lạm phát, về tình hình lạm phát của nước ta trong những năm gần đây

và các biện pháp, công cụ mà chính phủ sử dụng để kiểm soát lạm phát từ đó có thể hiểu

kỹ hơn về vấn đề này, về sự kết hợp của các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ củaChính Phủ trong việc điều hành nền kinh tế vĩ mô

Nội dung kết cấu của tiểu luận gồm 3 phần:

- Phần 1: Cơ sở lý luận

- Phần 2: Thực trạng lạm phát và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam

- Phần 3: Kết luận

Trang 4

Phần 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN1.1 Quan điểm về lạm phát:

Theo các định nghĩa chính thống trong sách giáo khoa kinh tế thì lạm phát(inflation) được coi là hiện tượng lượng tiền lưu thông tăng vượt quá sự tăng trưởng hànghóa sản xuất ra Hiện tượng này dẫn đến giá cả của hầu hết các hàng hoá trong nền kinh tếkhông ngừng tăng lên Đây có thể coi là khái niệm nguyên bản về lạm phát

Khái niệm về lạm phát được trình bày ở trên được mô tả theo quan điểm củatrường phái tiền tệ Đại diện cho trường phái này là hai nhà kinh tế học Milton Friedman

và John Maynard Keynes.Trường phái tiền tệ cho rằng lạm phát chỉ xuất hiện do nguyênnhân tiền tệ còn các nguyên nhân khác như “cầu kéo” hoặc “chi phí đẩy” đối với hàng hoákhông thể xảy ra lâu dài và thường xuyên, mà chỉ có tính chất tạm thời.Tuy nhiên, quanđiểm về lạm phát tiền tệ gặp phải một trở ngại là việc xác định khối lượng tiền tệ cần thiếtcho lưu thông là không khả thi, vì thực tế tổng lượng hàng hoá, dịch vụ luân chuyển trongnền kinh tế luôn biến động Ngoài ra, vòng quay tiền cũng không ổn định và mục đích sửdụng tiền cũng luôn thay đổi Do vậy, chúng ta chỉ có thể nhận diện ra lạm phát qua dấuhiệu hàng hoá, dịch vụ tăng giá Vì những nguyên nhân này mà đa số các nhà kinh tế học

đã đồng nhất tỷ lệ lạm phát với tỷ lệ tăng giá.Điển hình là nhà kinh tế học Paul Samuelsoncho rằng lạm phát có thể xuất phát từ các nguyên nhân sau:

(1) Nguyên nhân cầu kéo (do các cơn sốc về nhu cầu hàng hoá tiêu dùng);

(2) Nguyên nhân phí phí đẩy (do các cơn sốc về phía cung);

(3) Nguyên nhân xuất phát từ tâm lý kỳ vọng lạm phát tăng mạnh trong tương lai;

(4) Cung tiền tăng nhanh hơn lượng hàng hóa sản xuất (giống trường phái tiền tệ)

Sự khác biệt cơ bản trong quan điểm về các nguyên nhân gây ra lạm phát của haiquan điểm về lạm phát ở trên là quan điểm tổng hợp của Paul Samuelson cho rằng giá cảhàng hoá gia tăng dù là tạm thời cũng có thể coi là có lạm phát Trong khi đó, trường pháitiền tệ mà đại diện là Milton Friedman và John Maynard Keynes thì cho rằng chỉ khi mứcgiá chung tăng lên liên tục trong một quá trình kéo dài có tính quy luật thì mới gọi là lạmphát

1.2 Tác hại và lợi ích của lạm phát đối với nền kinh tế

Trang 5

Theo Gregory Mankiw thì lạm phát gây ra 5 tổn thất sau:

(1) Làm giảm sức mua của đồng tiền Vì vậy, lạm phát đồng nghĩa với một loạithuế vô hình lấy đi một phần thu nhập của công dân và những người nắm giữ tiền mặt

(2) Buộc các doanh nghiệp phải thay đổi biểu giá thường xuyên Việc thay đổi nàygây ra chi phí cho doanh nghiệp

(3) Gây ra thay đổi giá tương đối trong khi đó người sản xuất và tiêu dùng khôngthích ứng kịp Nền kinh tế thị trường dựa vào giá tương đối để phân bố nguồn lực mộtcách hiệu quả.Lạm phát làm cho việc phân bố nguồn lực trở nên kém hiệu quả, khi xétdưới góc độ kinh tế học vi mô

(4) Làm giảm nguồn thu thuế do nhiều điều khoản của luật thuế không tính đến tácđộng của lạm phát Lạm phát có thể thay đổi nghĩa vụ thuế của cá nhân mà người làm luậtkhông lường hết được

(5) Gây ra bất tiện cho cuộc sống trong một thế giới mà giá cả thị trường thườngxuyên thay đổi Tiền là thước đo mà trong đó chúng ta tính chi phí các giao dịch kinh tế.Lạm phát làm cho thước đo này co giãn, làm đảo lộn kế hoạch tài chính cá nhân và doanhnghiệp

Như vậy, có thể thấy lạm phát gây ra nhiều mặt tiêu cực cho xã hội và nền kinhtế.John Maynard Keynes đã chỉ trích gay gắt và vạch rõ bản chất của lạm phát gây ranhững thiệt hại không gì bù đắp nổi cho nhân loại

Tuy nhiên, trên thực tế lạm phát không hẳn là hoàn toàn có tác động tiêu cực.Trong cuốn “Lý thuyết về việc làm, tiền tệ và lãi suất”,Keynes đã chủ trương thực hiệnchính sách tiền tệ giảm giá.Lập luận của Keynes cho rằng trong điều kiện kinh tế trì trệ,thất nghiệp tăng cao thì chính phủ có thể chi tiêu nhiều hơn (chính tài khóa mở rộng) vàduy trì một tỷ lệ lạm phát nhất định để kích thích kinh tế tăng trưởng.Lập luận này củaông dựa trên cơ sở là khi tiền giảm giá trị, người dân có xu hướng tiêu dùng cho sinh hoạt

và sản xuất nhiều hơn là tích luỹ Việc tiêu dùng này làm tăng tổng cầu, đẩy nhanh vòngquay vốn và vực dậy sản xuất thoát khỏi vòng suy thoái

Trong đợt khủng hoảng kinh tế năm 2008, mối lo sợ nhất của nhiều nền kinh tế làgiảm phát.Vì vậy, hầu hết các quốc gia đều thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng để chống

Trang 6

suy thoái kinh tế và giảm phát.Chính sách này đã đạt được những thành công nhấtđịnh.Tuy nhiên, nếu chính sách tiền tệ nới lỏng bị lạm dụng quá mức, không phù hợp vớihoàn cảnh kinh tế sẽ khiến thâm hụt ngân sách kéo dài, lạm phát tăng cao và có thể dẫnđến nguy cơ khủng hoảng kinh tế.

1.3 Các chỉ số đo lường lạm phát

Hiện nay, quan điểm về lạm phát như nhà kinh tế học Paul Samuelson được sửdụng rộng rãi, tức là lạm phát đồng nhất với việc tăng giá của hàng hóa và dịch vụ CPIchỉ là một trong những chỉ số đo lường mức độ lạm phát/tăng giá trong nền kinh tế

Ngoài CPI rất nhiều chỉ số khác được sử dụng để giúp có một cái nhìn toàn diện vềgiá cả trong nền kinh tế, như chỉ số khử lạm phát (GDP deflator), chỉ số giá nhà sản xuất,lạm phát lõi/cơ bản (core inflation), chỉ số giá bán lẻ …

Mặc dù CPI vẫn được sử dụng khá phổ biến để phản ánh mức độ lạm phát nhưngviệc đo lường không hoàn toàn chính xác Tính toán CPI còn mang nhiều ý nghĩa chủquan và đôi khi không phản ánh đúng mức tăng giá thực tế

Tại Việt Nam đã có nhiều đề xuất về việc tính chỉ số lạm phát cơ bản thay cho CPIlàm cơ sở cho việc điều hành chính sách tiền tệ.Dù vậy, đề xuất này đến nay vẫn chưađược chấp thuận để áp dụng chính thức

1.4 Một số nghiên cứu của các tác giả đi trước:

(1) TS Lê Quốc Phương – Trung tâm thông tin công nghiệp và thương mại (Bộ Công Thương), “Thuận lợi và thách thức trong kiểm soát lạm phát”, Tạp chí Tài chính ngày 26/03/2017.

Trang 7

Chỉ tiêu lạm phát Quốc hội đặt ra cho năm 2017 là dưới 4%.Để đảm bảo đạt mụctiêu này, đòi hỏi nỗ lực rất lớn trong quản lý, điều hành nền kinh tế.Xét từ các đặc điểmchính của lạm phát ở Việt Nam cũng như các yếu tố thuận lợi và thách thức trong việcthực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, bài viết đề xuất một số giải pháp giúp kiểm soáthiệu quả lạm phát năm 2017.

(2) TS Nguyễn Đức Độ - Viện kinh tế tài chính, “ Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và lạm phát”, Tạp chí Tài chính ngày 31/03/2017

Xét trên khía cạnh lý thuyết, giữa chính sách tiền tệ và lạm phát có mối quan hệchặt chẽ, đặc biệt là trong dài hạn.Tuy nhiên, thực tế tại các nước phát triển thời gian quacho thấy, chính sách nới lỏng tiền tệ quy mô lớn có thể song hành cùng với lạm phátthấp.Nói cách khác, chính sách tiền tệ cũng có những giới hạn nhất định trong việc thúcđẩy lạm phát.Liệu điều này có đang xảy ra ở Việt Nam?

(3) TS Nguyễn Anh Phong, Đại học Kinh tế-Luật, Đại học quốc gia Tp HCM,

“Tăng trưởng kinh tế và ngưỡng lạm phát tối ưu”, Tạp chí Tài chính ngày 30/5/2017.

Bài viết nghiên cứu quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam giaiđoạn từ năm 1992 đến 2016 Bằng kỹ thuật Bootstrap, nghiên cứu tìm ra ngưỡng lạm pháttối ưu tại Việt Nam là ở mức 3,22%/năm, nghĩa là muốn có tăng trưởng kinh tế tốt, cầnduy trì lạm phát ở mức vừa phải (3,22%/năm) Nếu lạm phát cao hơn mức này, khả năngsuy giảm tăng trưởng sẽ xuất hiện Để giữ cho tăng trưởng đạt mục tiêu, Chính phủ buộcphải nới lỏng các chính sách tài khóa và tiền tệ, việc làm này khiến lạm phát lại tăng lên

(4) Nguyễn Khắc Hiếu & Nguyễn Thị Anh Vân (2014), "Dự báo lạm phát tại Việt Nam bằng mô hình mạng thần kinh nhân tạo", Tạp chí Phát triển Kinh tế (286)

Lạm phát là vấn đề mà các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp và nhàđầu tư đều quan tâm.Có nhiều mô hình dự báo lạm phát, mỗi mô hình đều có ưu và nhượcđiểm riêng Bài viết này nhằm so sánh hiệu quả dự báo của mô hình mạng thần kinh nhân

Trang 8

tạo (Artificial Neural Network: ANN) và mô hình phân phối độ trễ tự hồi quy(Autoregressive Distributed Lag: ARDL) trong dự báo lạm phát theo tháng tại VN Kếtquả cho thấy, mô hình ANN dự báo trong mẫu tốt hơn mô hình ARDL ở cả 3 tiêu chí R2,RMSE và MAE.Đối với dự báo ngoài mẫu, mô hình ANN dự báo tốt hơn ở 2 tiêu chíRMSE và R2 Nhìn chung, mô hình ANN dự báo lạm phát tại VN tốt hơn mô hình ARDL.

(5) Trương Minh Tuấn (2013), "Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam", Tạp chí Phát triển Kinh tế (278)

Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai chỉ số kinh tế vĩ mô quan trọng Mối quan

hệ giữa hai chỉ số này tác động đến nhiều mặt của nền kinh tế như tiết kiệm, đầu tư, mứcsống của người dân… Bài viết này nghiên cứu mối tương quan giữa lạm phát và tăngtrưởng kinh tế ở VN thông qua việc kiểm định mối quan hệ nhân quả trong mô hình hồiquy đa biến gồm: lạm phát, tăng trưởng kinh tế, giá dầu, cung tiền và tỉ giá hối đoái Bàiviết sử dụng mô hình VAR và ECM để kiểm định mối quan hệ nhân quả và tìm ra mốitương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn Kết quảnghiên cứu cho thấy có mối quan hệ dài hạn giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Đểthực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, cần có chiến lược phát triển kinh tế từngắn hạn đến dài hạn theo hướng ưu tiên phát triển kinh tế trong ngắn hạn để tạo đà kiềmchế lạm phát trong dài hạn

(6) Trần Hoàng Ngân, Vũ Thị Lệ Giang, Hoàng Hải Yến (2013), "Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam thời gian qua", Tạp chí Phát triển Kinh tế (276)

Lịch sử lạm phát của VN 33 năm qua cho thấy phần lớn thời gian chúng ta lâm vàotình trạng lạm phát cao và mức lạm phát cao này ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sốngngười lao động, người có thu nhập thấp và ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Vìthế trong bài viết này, nhóm tác giả thực hiện một nghiên cứu xác định ngưỡng lạm pháttại VN nên ở mức nào sẽ hỗ trợ tốt cho tăng trưởng kinh tế Để thực hiện nghiên cứu,nhóm tác giả tiến hành thu thập dữ liệu thống kê nhằm xác định mối tương quan giữa lạmphát (tính bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI) và tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính bằng tốc độtăng GDP) ở VN trong vòng 26 năm (1987-2012) Mối quan hệ này cũng được tác giả so

Trang 9

sánh giữa hai giai đoạn 1987-2000 và 2001-2012.Kết quả nghiên cứu cho thấy ngưỡnglạmphát CPI ở VN nên ở mức 5-7%/năm.

(7)Vũ Sỹ Cường(2011), Tác động của chính sách tài khóa và tiền tệ đến lạm phát mô hình lý thuyết và thực tiễn ở Việt Nam, Tạp chí Phát triển Kinh tế (247)

Nghiên cứu nguyên nhân lạm phát thường được xem xét dưới nhiều góc độ củachính sách tiền tệ Tuy nhiên, trong những năm gần đây các nhà kinh tế bắt đầu xem xétcăn nguyên của lạm phát từ chính sách tài khóa (cụ thể là thâm hụt ngân sách) Bài viếtnày giới thiệu một nghiên cứu về quan hệ giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ vàlạm phát ở VN.Bài viết tóm tắt lại các mô hình lý thuyết và sử dụng mô hình VAR(vector-auregressive) nhằm kiểm chứng cho trường hợp VN Kết quả phân tích địnhlượng cho thấy ngoài nguyên nhân tiền tệ thì lạm phát ở VN còn chịu ảnh hưởng củachính sách tài khóa với sự gia tăng bội chi ngân sách trong những năm gần đây

(8)Trần Hoàng Ngân và Võ Thị Tuyết Anh, (2008), Lạm phát, nguyên nhân và giải pháp, Tạp chí Phát triển kinh tế tháng 4/2008.

Nêu lên bối cảnh tình hình kinh tế ở Việt Nam, những nguyên nhân dẫn đến tìnhhình lạm phát Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp khắc phục lạm phát nhưthực hiện việc thắt chặt tiền tệ và tài chính để cắt giảm tổng cầu, trợ giá đối với một sốmặt hàng là đầu vào sản xuất, các giải pháp giảm nhập siêu, thực hiện cơ chế giá thịtrường của một số mặt hàng thiết yếu, do Nhà nước quản lý, theo một lộ trình thích hợp,

(9) TS Nguyễn Ngọc Tuyến, (2017) Lạm phát năm 2017: Nhận diện các yếu tố tác động, Tạp chí Tài chính tháng 3/2017 (652)

Lạm phát được xác định làm một trong những chỉ tiêu quan trọng trong điều hànhkinh tế vĩ mô ở Việt Nam từ trước tới nay Nhận thức rõ vai trò của lạm phát, trong nhữngnăm gần đây, chính phủ đã xác định mức cụ thể và coi lạm phát hằng năm là một chỉ tiêuphải được kiểm soát một cách chặt chẽ bên cạnh các chỉ tiêu kinh tế quan trọng khác.Phân tích diễn biến giá tiêu dùng năm 2016 cũng như nhận định các yếu tố tác động, bàiviểt đưa ra một số dự báo lạm phát năm 2017

(10)TS Nguyễn Đức Độ - Viện kinh tế - Tài chính (Học viện tài chính) – Xu hướng lạm phát 2017 - Tạp chí Tài chính tháng 01/2017

Trang 10

Theo số liệu mới được Tổng cục Thống kê công bố, chỉ số giá tiêu dùng (CPI)tháng 12/2016 đã tăng 4,74% so với tháng 12/2015 Đây là mức tăng thấp hơn so với mứclạm phát mục tiêu 5% được Quốc Hội thông qua nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng0,6% của năm 2015 Xu hướng lạm phát tăng trong năm 2016 đã dẫn đến nhiều dự báorằng, mức lạm phát mục tiêu 4% cho năm 2017 là khó đạt được Bài viết này phần giảiđáp câu hỏi liệu xu hướng lạm phát trong năm 2017 có tiếp tục gia tăng như trong năm

2016 ?

(11) PGS.TS Phan Thị Cúc Khoa Tài chính – Ngân hàng - Trường ĐH Công Nghiệp TP HCM, Đề tài: Diễn biến lạm phát ở Việt Nam và giải pháp kiềm chế linh hoạt

Đề tài đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về lạm phát, và phân tích các diễn biến thực tế củalạm phát ở Việt Nam qua chỉ số CPI, lãi suất ngân hàng, tỉ giá hối đoái, tốc độ giảmGDP….trong nước, chỉ số giá vàng, USD trên thế giới… trong giai đoạn từ tháng 12/2007đến 11/2008, và dự báo rủi ro, thách thức, đề xuất hệ giải pháp trong thời gian tới với kỳvọng tham gia hoạch định chính sách vĩ mô, bổ sung kiến thức về lý luận và thực tiễn,nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu, học tập cho sinh viên và các bạn đồng nghiệp

Phần 2 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT VÀ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở

VIỆT NAM2.1 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2011 đến 2015

2.1.1 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam năm 2011

- Trong bối cảnh lạm phát tăng vọt, đầu tư công tràn lan kém hiệu quả và các "đầu tàu" củanền kinh tế đầu tư ồ ạt ra ngoài ngành, Nghị quyết 11 (ngày 24/2/2011) của Chính phủđược đưa ra nhằm rà soát và tái cơ cấu lại hoạt động của nền kinh tế, ổn định vĩ mô

- Việc thực hiện chínhsách tiền tệ chặt chẽ, chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tưcông, kiềm chế nhập siêu và đảm bảo an sinh xã hội theo Nghị quyết 11 đã được thểhiện xuyên suốt trong điều hành vĩ mô của Chính phủ năm 2011 Mặc dù lạm phát vẫncán mốc trên 18% nhưng những dấu hiệu cải thiện vĩ mô rõ rệt vào thời điểm cuối nămcũng như các định hướng tái cấu trúc kinh tế, cắt giảm lãi suất, thoái vốn ngoài ngành,tăng hiệu quả đầu tư công

Trang 11

- Tháng cuối cùng trong năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước tăng 0,53%, đẩy CPI cảnăm tăng 18,58% so năm 2010 So cùng kỳ tháng 12/2010, CPI cả nước tăng 18,13%

Nguyên nhân

• Yếu tố “cầu kéo”:

- Lý do cơ bản nhất để lạm phát bộc lộ mạnh vào những năm gần đây là quá trình phát triểnkinh tế dựa vào đầu tư và tình trạng kém hiệu quả trong việc sử dụng vốn

- Giá vàng liên tiếp thiết lập kỷ lục

• Yếu tố chi phí đẩy

- Đầu năm 2011, tình hình kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp: lạm phát tăng, giádầu thô, giá nguyên vật liệu cơ bản đầu vào của sản xuất, giá lương thực, thực phẩm vàgiá vàng trên thị trường thế giới tiếp tục xu hướng tăng cao đã tác động không nhỏ đếnnền kinh tế trong nước

- Doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tăng giá 2 lần (ngày 24/2 và ngày 29/3), mỗi lít xăngtăng khoảng 30%, dầu tăng khoảng 38% đã tác động trực tiếp tăng chỉ số giá nhóm giaothông vận tải và gián tiếp nhiều vòng đến hoạt động sản xuất của các lĩnh vực khác

- Giá điện cho sản xuất và sinh hoạt cũng được điều chỉnh tăng khoảng 15,3%

- Ngoài ra, việc tăng lương tối thiểu cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát

Các biện pháp chính phủ áp dụng

- Nghị quyết 11 xuất hiện từ tháng 4 năm 2011 với mục tiêu là tấn công trực diện vào cơnbão lạm phát với hai gọng kìm thắt chặt chính sách tài khóa qua cắt giảm đầu tư công vàthắt chặt tiền tệ qua hạn chế tăng trưởng tín dụng, đặc biệt là tín dụng cho khu vực phi sảnxuất Với các giải pháp cụ thể là:

+ Chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng;

+ Chính sách tài khóa thắt chặt, cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhànước;

Ngày đăng: 28/08/2017, 22:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w