- Các doanh nghiệp lớn trong ngành khá năng động và có độ tập trung ngành lõi cao: Với đặc trưng ngành về xuất khẩu, hoạt động trong môi trường cạnh tranh khốc liệt với những nhà xuất kh
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT CẦN THƠ
KHOA CÔNG NGHỆ THUỶ SẢN
**********
Chuyên đề:
Thuận lợi, khó khăn, kế hoạch - chiến lược phát triển, những triển vọng và thách thức của ngành
thuỷ sản Việt nam
Cần thơ, ngày 14 tháng 2 năm 2016.
Trang 21 Tổng quan
- XK thủy sản 3 tháng đầu năm 2014 đạt 1,65 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm ngoái chủ yếu do XK tôm tiếp tục tăng trưởng mạnh (88%), cá tra hồi phục nhẹ, cá ngừ, mực bạch tuộc và các mặt hàng hải sản khác vẫn giảm sâu
- XK tôm chiếm tỷ trọng cao nhất, trên 48%, so với năm ngoái chiếm 34%, cá tra bị giảm tỷ trọng từ 31% xuống còn 25%, cá ngừ giảm mạnh từ 12% xuống còn 7%
Trang 32 Thuận lợi
- Nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của nhà nước: Ngành thủy sản Việt Nam luôn
nhận được sự quan tâm lớn của chính phủ Dù chưa hoàn toàn hoàn chỉnh về chính sách, nhưng chính phủ và các cơ quan chức năng luôn dành các ưu tiên về vốn, hỗ trợ cho ngành thủy sản, thường xuyên ngồi lại cùng doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn Hiện Chính phủ đã có quyết định cụ thể cho mục tiêu phát triển dài hạn của ngành thông qua Quyết định số 332/QĐ-TTg Hiệp hội chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) là tổ chức luôn theo sát, hỗ trợ cho hoạt động của ngành VASEP được đánh giá là một trong các Hiệp hội năng động, tích cực nhất cả nước Với sự quan tâm, hỗ trợ sát sao của các cơ quan ban ngành và hiệp hội (VASEP), ngành thủy sản sẽ có nhiều thuận lợi để vượt qua khó khăn và phát triển trong tương lai
- Uy tín đã được thừa nhận ở nhiều nước: thương hiệu của ngành thủy sản Việt
Nam đã dần được định hình ở nhiều thị trường Con cá tra Việt Nam hiện đã được
ưu thích và tiêu thụ rộng rãi ở nhiều nước và luôn nằm trong top dẫn đầu ở các thị trường nhập khẩu Con tôm thì đang cạnh tranh “sòng phẳng” với nhiều đối thủ lớn như Thái Lan, Indonesia, Ecuador, Ấn Độ, Mehico… Nhiều loài thủy sản khác như mực, bạch tuột, nhuyễn thể hai mảnh vỏ, cá ngừ… đang len lỏi ở các thị trường khắp nơi trên thế giới
- Các doanh nghiệp lớn trong ngành khá năng động và có độ tập trung ngành lõi cao: Với đặc trưng ngành về xuất khẩu, hoạt động trong môi trường cạnh tranh
khốc liệt với những nhà xuất khẩu thủy sản trên toàn cầu, và phải đối mặt với nhiều trở ngại, qui định khắt khe ở từng thị trường xuất khẩu, nên hầu hết các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn, đều rất năng động, thích nghi tốt để có thể tồn tại và phát triển Bên cạnh đó, các doanh nghiệp thủy sản hầu như chỉ tập trung vào phát triển lĩnh vực kinh doanh chính, rất ít đầu tư tràn lan ra các lĩnh vực khác không phù hợp Đây là nền tảng để ngành thủy sản Việt
Trang 4Nam có chỗ đứng trên thế giới và tiến xa hơn trong tương lai.
Trang 53 Khó khăn
3.1 Dịch bệnh thường xuyên đe dọa:
Dịch bệnh trên các loài thủy sản nuôi đang ngày càng diễn biến phức tạp, đặc biệt là tôm Là loài động vật chân khớp sống ở vùng nước lợ gần biển, tôm rất dễ nhiễm các loài bệnh dịch khi môi trường xung quanh không đảm bảo Loài tôm sú có đặc tính khó nuôi hơn tôm chân trắng nên nguy cơ mắc bệnh dịch cũng cao hơn Hơn nữa, hầu hết các hộ nông dân và cả một
số doanh nghiệp nuôi tôm (hoặc một số loài thủy sản khác) hầu như không được đào tạo một cách hệ thống các kiến thức, công nghệ trong nuôi trồng từ các cơ quan chức năng, nên không có khả năng phòng ngừa và xử lý bệnh dịch Điều này khiến các đợt bệnh dịch trên tôm thường xuyên xảy ra (như dịch bệnh EMS trên diện rộng thời gian qua) gây rất nhiều thiệt hại cho các doanh nghiệp và các hộ nuôi, thậm chí một số đi đến phá sản, không còn khả năng thanh toán tiền vay cho ngân hàng Ngoài ra, nó cũng tạo ra sự thiếu hụt nguyên liệu cho chế biến, gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp Đây không chỉ là khó khăn riêng của ngành tôm mà của bất kỳ loài thủy sản nuôi trồng nào khác, khi trình độ công nghệ
và kiến thức nuôi trồng của Việt Nam vẫn còn một số hạn chế
Trang 63.2 Khả năng tiếp cận vốn khó khăn:
Đặc trưng của ngành thủy sản là cần nguồn vốn đầu tư ban đầu và nguồn vốn lưu động lớn để duy trì hoạt động liên tục Tuy nhiên, khi điều kiện kinh doanh khó khăn như thời gian qua, hầu hết các ngân hàng đều “e dè” hỗ trợ vốn cho người nuôi
và doanh nghiệp để hạn chế rủi ro tín dụng, một số đối tượng còn tồn động dư nợ cũ cao càng khiến các ngân hàng trở nên thận trọng hơn Điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho cả người nuôi và doanh nghiệp, khiến họ không kịp xoay sở vốn cho hoạt động kinh doanh, một số thậm chí phải treo ao, tạm dừng hoạt động Thời gian gần đây, dù chính phủ đã ra chỉ đạo cho vay hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp thủy sản nhưng nhìn chung khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng vẫn chưa được cải thiện đáng kể
Trang 73.3 Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu:
Do không được quản lý và qui định chặt chẽ, hàng loạt doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đã “mọc” lên trong các năm qua mà không có sự kiểm soát về chất lượng, hoạt động Các doanh nghiệp nhỏ với tư duy ngắn hạn, manh mún, thường không đảm bảo về chất lượng sản phẩm, lại thường bán phá giá sản phẩm, đặc biệt là trong tình cảnh khó khăn, tồn kho cao như trong năm 2012, dẫn đến tình trạng các khách hàng lợi dụng ép giá các doanh nghiệp khác vừa gây thiệt chung cho các doanh nghiệp vừa làm ảnh hưởng đến hình ảnh sản phẩm thủy sản của Việt Nam
Trang 83.4 Thiếu nguyên liệu
Mặc dù số lượng thống kê của Tổng cục Thủy sản về sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản của cả nước trong 5 tháng đầu năm nay vẫn tăng so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng ngành chế biến và xuất khẩu thủy sản vẫn chưa thoát khỏi tình trạng thiếu nguyên liệu ngày càng tăng như mấy năm trước Nguyên nhân do sản lượng 2 loài thủy sản nuôi chính không ổn định, dịch bệnh trên tôm làm giảm sản lượng, nhất là với tôm sú, diện tích nuôi cá tra cũng giảm do nông dân thiếu vốn đầu tư nuôi và do giá cá bất ổn làm ảnh hưởng tâm lý người nuôi
Sản lượng các loài có giá trị kinh tế cao như cá ngừ, mực, bạch tuộc vẫn thấp, trong khi sản lượng tăng lại tập trung chủ yếu vào các loài cá có giá trị thấp, cá tạp… Người nuôi và ngư dân thiếu vốn để sản xuất, đầu tư trở lại khi tôm hoặc cá tra bị rớt giá, dịch bệnh Các doanh nghiệp khó thu mua nguyên liệu vì nông dân không bán chịu, trong khi vòng quay vốn chậm do thị trường tiêu thụ khó khăn về tài chính
Trang 93.5 Thiếu vốn
- Với mức lãi suất quá cao 19-20% trong 3 tháng đầu năm, cả nông, ngư dân và doanh nghiệp đều thực sự khó khăn để duy trì sản xuất và chế biến khi mà các chi phí đầu vào khác đang tăng mạnh (5-10%) Vốn vay định mức thấp, cùng với việc siết chặt tín dụng của các ngân hàng đối với ngành thủy sản sau vụ vỡ nợ của một
số doanh nghiệp khiến cho nhiều doanh nghiệp không còn vốn để duy trì sản xuất Đặc biệt đối với ngành sản xuất cá tra, thiếu vốn trở nên nghiêm trọng Theo khảo sát của Vasep (Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam), có đến hơn 90% số doanh nghiệp mong muốn được tăng hạn mức vay vốn, từ 10-1.400 tỷ đồng, nhằm bổ sung vốn lưu động cho chế biến, cho nuôi cá tra và mua nguyên nhiên liệu, vật liệu, thức ăn cho vùng nuôi 53,85% số doanh nghiệp tôm có nhu cầu vay vốn đầu tư cho hoạt động phát triển (từ 2-300 tỷ đồng) để bổ sung đầu tư nuôi tôm chân trắng, trang bị máy móc, sửa chữa, bổ sung năng lực cấp đông, vốn trung hạn cho hoạt động xuất khẩu, xây nhà máy thức ăn, phát triển vùng nuôi, cải tạo và nâng cấp nhà xưởng, thiết bị Đối với ngư dân, vấn đề tiếp cận vốn cũng rất khó khăn vì họ cần vốn cho cả việc mua sắm tàu cá và thiết bị để bảo quản cá sau thu hoạch
- Bên cạnh đó, các chi phí sản xuất đều tăng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh cho thủy sản xuất khẩu Các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản còn phải đối phó với áp lực tăng chi phí đầu vào cho sản xuất, như giá nhiên liệu, điện, nước, nhân công, bao bì, cước phí vận chuyển… Bên cạnh đó, việc tăng các loại phí, thuế, như thuế bảo vệ môi trường đối với bao bì nhựa PE để bao gói hàng, trích 2% kinh phí cho công đoàn lấy từ quỹ lương, phí kiểm soát chất lượng thủy sản xuất khẩu, phí kiểm dịch thú y tăng 300% cũng góp phần làm gia tăng chi phí và ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của thủy sản Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều suy giảm, cạnh tranh thị phần khá khốc liệt
- Khó khăn về nguồn vốn và nguyên liệu cùng với sự gia tăng chi phí sản xuất khiến cho số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản trong quý I năm nay chỉ còn
Trang 10khoảng 473 doanh nghiệp, giảm 40% so với 800 doanh nghiệp của cùng kỳ năm ngoái Tuy nhiên số doanh nghiệp không xuất quý I năm nay hầu hết là doanh nghiệp thương mại với doanh số thấp, nên chỉ ảnh hưởng không nhiều Trong khi
đó, kim ngạch của các doanh nghiệp lớn cao hơn so với năm ngoái Top 10 doanh nghiệp quý I/2011 chỉ chiếm 18,5% doanh số, nhưng năm nay tăng lên 20,5% Kết quả trên cho thấy đã có sự phân hóa mạnh trong quy mô và năng lực quản trị của các doanh nghiệp thủy sản
Trang 113.6 Khủng hoảng thị trường
- Thị trường châu Âu bị suy giảm do khủng hoảng nợ công cũng là một khó khăn lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam Là thị trường lớn nhất trong số 129 thị trường tiêu thụ thủy sản Việt Nam, nhưng trong quý I năm nay, xuất khẩu sang EU
đã sụt giảm 7,9% so với cùng kỳ năm ngoái, do khủng hoảng nợ công ở khu vực này khiến tình hình kinh tế tài chính khó khăn, nhu cầu nhập khẩu không ổn định và khả năng thanh toán chậm
- Tỷ trọng của thị trường EU cũng bị giảm dần gần 5% (từ 24,2% xuống còn 19,7%) Xuất khẩu 2 mặt hàng chủ lực là tôm và cá tra đều giảm mạnh (giảm từ 21,8% và 12,4%) Tuy nhiên, xuất khẩu cá ngừ, mực, bạch tuộc sang thị trường này vẫn khả quan (cá ngừ tăng 29%, mực, bạch tuộc tăng trên 10,7%)
- Xuất khẩu tôm sú giảm, khả năng cạnh tranh của tôm Việt Nam cũng giảm Đối với Việt Nam, với diện tích nuôi trên 600.000 ha, sản lượng tôm sú mỗi năm đạt trên 300.000 tấn tạo cho Việt Nam thế mạnh hơn so với nhiều nước khác Tuy nhiên, dịch bệnh bùng phát trên tôm sú thâm canh đã và đang ảnh hưởng đến chất lượng, uy tín và giá trị mặt hàng này
Trang 12*Giải quyết khó khăn
Để giải quyết những thách thức trên, VASEP đã đề ra 3 chương trình lớn:
- Chương trình nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, bao gồm tiến hành
khảo sát chi tiết tính bền vững của từng ngành hàng tôm, cá tra, hải sản trên các mặt sản xuất nguyên liệu, chế biến và xuất khẩu theo tiếp cận quản lý chuỗi giá trị, từ đó kiến nghị các chính sách cần thiết cho mục tiêu phát triển bền vững cho từng ngành hành cũng như cho cả thủy sản xuất khẩu
- Tổ chức các hoạt động liên kết nhằm hỗ trợ lực lượng sản xuất nguyên liệu vận động chính sách một cách có hiệu quả Với chi phí đầu vào cho nuôi trồng có nhiều biến động, xu hướng phát sinh các loại dịch bệnh mới, việc phát triển nuôi trồng thủy sản trong nước cần có bước đi thích hợp để đảm bảo tính bền vững và bảo vệ môi trường
- Tận dụng thế mạnh về năng lực cấp đông lớn, điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm tốt nhất khu vực, công nhân lành nghề, hiệp hội VASEP sẽ phối hợp với các doanh nghiệp tiến hành khảo sát và tìm hiểu nhu cầu gia công nguyên liệu thủy sản của các nước Châu Âu và Nhật Bản nhằm thu hút được khách hàng mang nguyên liệu vào Việt Nam để gia công
- Thông qua mối quan hệ hợp tác song phương, các ngư dân và doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiến hành hợp tác đánh bắt thủy sản, tổ chức sơ chế bảo quản ở nước ngoài mang về Việt Nam để chế biến xuất khẩu
- Kiến nghị nhà nước có chương trình đồng bộ về chất lượng và các khâu con giống, thức ăn, thuốc thú y trong hoạt động nuôi trồng thủy sản nhằm đảm bảo yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm, ổn định giá nguyên liệu, giúp người nuôi có lãi Tiến tới việc thiết lập hệ thống kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm toàn chuỗi đảm bảo
Trang 13tính thống nhất và đồng bộ về tiêu chuẩn, quy phạm, quản lý tất cả các khâu từ sản xuất nguyên liệu, chế biến đến xuất khẩu
- Vận động doanh nghiệp liên kết người nuôi, thực hiện hợp đồng bao tiêu sản phẩm, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các bên tham gia trong quản lý chất lượng theo chuỗi, đảm bảo chất lượng của các khâu trung gian (giống, thức ăn ) nhẳm bảo vệ lợi ích cho người nuôi và hạ giá thành sản xuất, ổn định chất lượng nguyên liệu
- Chương trình vượt qua các rào cản thương mại, bao gồm phát triển hợp tác quốc tế hỗ trợ các doanh nghiệp vượt các rào cản thương mại, tìm cơ hội hợp tác, chia sẻ thông tin với đối tác nhằm hạn chế tác động của các vụ kiện chống bán phá giá, phối hợp với các nhà nhập khẩu trong công tác truyền thông, chủ động đưa thông tin đúng và phản bác các thông tin sai về thủy sản Việt Nam
- Đẩy mạnh hợp tác với các nhà nhập khẩu nhằm tìm các giải pháp vận động các nước nhập khẩu xem xét lại các quy định, tiêu chuẩn về dư lượng một cách phù hợp với thông lệ quốc tế, hạn chế những rào cản thương mại
- Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước tăng cường chống gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh về giá giữa các doanh nghiệp, thúc đẩy cạnh tranh
về chất lượng, nâng cao uy tín và giá trị sản phẩm thủy sản
- Chương trình quảng bá và phát triển thị trường thủy sản Việt Nam, bao gồm tích cực vận động, thiết lập các nguồn kinh phí cho hoạt động quảng bá và tiếp thị sâu hình ảnh thủy sản Việt Nam trên cơ sở nguồn đóng góp của doanh nghiệp, hỗ trợ nhà nước và biện trợ quốc tế
- Khảo sát, xây dựng các đề án cụ thể cho hoạt động xúc tiến thương mại và quảng báo hình ảnh làm cơ sở cho việc vận động các nguồn kinh phí
Trang 14- Thường xuyên thực hiện các hoạt động truyền thông, cung cấp thông tin giới thiệu về hệ thống khai thác, nuôi trồng, chế biến được kiểm soát tốt, kết hợp hoạt động tiếp thị chuyên nghiệm nhằm thuyết phục người tiêu dùng tin tưởng vào chất lượng thủy sản Việt Nam và chủ động đối phó các thông tin bôi nhọ từ các thị trường nước ngoài
Tổ chức nghiên cứu phát triển thị trường nội địa nhằm hạn chế những tác động xấu của biến động thị trường nước ngoài, đặc biệt khi kinh tế thế giới mất ổn định
- Nhận định tình hình năm 2014, Thứ trưởng Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cho rằng, biến động thị trường, dịch bệnh, thiên tai vẫn tiếp tục tác động đến ngành Thủy sản Do đó, ngành cần có những giải pháp quyết liệt ngay từ những ngày đầu năm mới
Trang 154 Kế hoạch và chiến lược phát triển của ngành:
Giai đoạn hiện tại dù ngành thủy sản Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng với lợi thế và uy tín
đã tạo dựng trong các năm qua, tiềm năng tăng trưởng dài hạn cho ngành thủy sản Việt Nam vẫn được đánh giá khá tốt Ngày 03/03/2011, Thủ Tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết định số 332/QĐ-TTg đặt mục tiêu phát triển dài
Trang 165 Triển vọng phát triển của ngành:
- Tình hình hiện tại ngành thủy sản nhìn chung đang gặp khá nhiều khó khăn với tính sàng lọc cao giữa các doanh nghiệp trong ngành Tuy vậy, triển vọng phát triển dài hạn vẫn được đánh giá cao bởi các yếu tố sau:
- Vị trí và điều kiện tự nhiên thích hợp cho hoạt động thủy sản: Với đặc
điểm bờ biển dài hơn 3.260 km, cùng hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, Việt Nam hầu như đáp ứng khá tốt điều kiện đánh bắt, nuôi trồng cho nhiều loài thủy hải sản trên toàn quốc Trong đó, tiềm năng gia tăng diện tích nuôi trồng nhiều loài thủy sản trong dài hạn vẫn còn rất lớn Với xu hướng áp dụng khoa học công nghệ ngày càng mạnh mẽ vào họat động nuôi trồng, đánh bắt, chế biến để đáp ứng yêu cầu chất lượng ngày càng cao của các nước nhập khẩu, ngành thủy sản Việt Nam có nhiều cơ hội để nâng cao chất lượng, hạ giá thành, tiết kiệm chi phí, cải thiện hiệu quả sản xuất
- Nhu cầu tiêu thụ thủy sản toàn cầu được dự báo tiếp tục tăng: Với vai trò
là nguồn thực phẩm quan trọng trong bữa ăn của bất kỳ gia đình nào trên thế giới, nhu cầu tiêu thụ thủy sản toàn cầu được dự báo sẽ tiếp tục tăng cao trong dài hạn Theo FAO, đến năm 2015, nhu cầu tiêu thụ thủy sản sẽ đạt 165 triệu MT (tăng bình quân 2,1%/năm), tiêu thụ thủy sản trên đầu người sẽ đạt 14,3 kg (mức hiện tại khoảng 14 kg, tăng khoảng 0,8%/năm), tạo ra nhiều cơ hội gia tăng giá trị xuất khẩu cho thủy sản Việt Nam
- Quá trình sàng lọc đang diễn ra mạnh: Ngành thủy sản hiện trong giai đoạn
nhiều khó khăn với nhiều doanh nghiệp nhỏ, phát triển manh mún đang đi đến phá sản Điều này có thể sẽ gây ra một số tác động tiêu cực cho các doanh nghiệp và cả ngành Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để loại bỏ những thực thể yếu kém đã gây