Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây: a Không có di chúc; b Di chúc không hợp pháp; c Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời đi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÀI THUYẾT TRÌNH NHÓM 5
Chủ đề: Thừa kế theo pháp luật, thanh toán vàphân chia di sản
Trang 2
MỤC LỤC Trang
1.Tổng quan về pháp luật thừa kế……… 2
2.Khái niệm thừa kế theo pháp luật……… 3
3.Các trường hợp thừa kế theo pháp luật……… 4
Trường hợp 1……… 5
Trường hợp 2……… 5
Trường hợp 3……… 6
Trường hợp 4……… 6
Trường hợp 5……… 7
Trường hợp 6……… 8
4 Diện và hàng thừa kế……… 9
4.1 Diện thừa kế theo pháp luật… 9
4.1 a Quan hệ hôn nhân……… ……… 9
4.1 b Quan hệ huyết thống……… 10
4.1 c.Quan hệ nuôi dưỡng……… 10
4.2 Hàng thừa kế theo pháp luật……… 10
4.2 a Hàng thừa kế thứ nhất……… 11
4.2 b Hàng thừa kế thứ hai……… 15
4.2 c Hàng thừa kế thứ ba……… 16
5 Thừa kế thế vị……… 17
6.Thanh toán và phân chia di sản……… 17
6.1 Thanh toán di sản……… 17
6.2 Phân chia di sản thừa kế……… 20
Trang 36.2 a Phân chia theo di chúc……… 20 6.2 b phân chia theo pháp luật……… 20
Trang 41.Tổng quan về pháp luật thừa kế
Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị tríquan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ cácquyền của công dân Chính vì vậy, thừa kế đó trở thành nhu cầu không thể thiếuđược đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội Mỗi nhà nước
dù có các xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bảncủa công dân và được ghi nhận trong đạo luật gốc: Hiến pháp
Lịch sử phát triển về chế định thừa kế theo pháp luật xuất hiện sớm Nhữngquy định về thừa kế theo pháp luật được tìm thấy trong luật XII Bảng như sau:
(THỪA KẾ - INHERITANCE)
1. Nếu một người qua đời không để lại di chúc mà cũng không có người thừa kế theo luật, thì người đàn ông tiếp theo thuộc họ hàng gần nhất sẽ hưởng thừa kế Nếu không có người đàn ông kế tiếp thuộc họ hàng gần nhất, những người đàn ông thuộc dòng tộc còn lại sẽ được hưởng thừa
kế.
(Đối chiếu:
- Tiếng la tinh
Si intestato moritur, cui suus heres nec escit, adgnatus proximus familiam habeto.
Si adgnatus nec escit, gentiles familiam habento.
Nếu một người bị điên, thì người đàn ông tiếp theo thuộc họ hàng gần nhất
của người đósẽ có quyền đối với tài sản của anh ta.
(Đối chiếu:
Trang 5Ở Việt Nam, sớm nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của thừa kế, nên ngay những ngày đầu mới dựng nước, các triều đại Lý, Trần, Lê cũng đã quan tâm đến ban hành pháp luật về thừa kế Pháp luật thành văn về thừa kế ở nước ta, lần đầu tiên được quy định trong chương "Điền sản" của Bộ luật Hồng Đức dưới triều vua Lê Thái Tổ Không chỉ quan tâm đến thừa kế theo di chúc, luật thành văn thời phong kiếncũng đề cấp đến chế định “thừa kế không theo di chúc” So với pháp luật phong kiến thì pháp luật về thừa kế thời Pháp thuộc theo khuôn mẫu của bộ luật dân sự
Napôlêông đã quy định chi tiết hơn trong các bộ Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt Trung kỳ bộ luật, ghi nhận 2 hình thức : thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật
Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng CNXH ở nước ta, các quyđịnh về thừa kế theo pháp luật đã được ghi nhận, mở rộng, phát triển và đặc biệt là
sự ra đời của Bộ luật Dân sự 1995, sau đó Bộ luật Dân sự năm 2005 đã đánh dấumột bước phát triển của pháp luật Việt Nam nói chung và chế định thừa kế theopháp luật nói riêng BLDS dành 1 chương, cụ thể là chương XXIV gồm 7 điều(Đ674 – Đ680) quy định về thừa kế theo pháp luật
2 Khái niệm thừa kế theo pháp luật.
Thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật, nhà nước ghi nhận và bảo
hộ quyền sở hữu của cá nhân đối với tài sản hoặc 1 tập hợp tài sản mà cá nhân đó
có được dựa vào những căn cứ hợp pháp Lúc còn sống họ có những tài sản đó, khi
họ chết thì có quyền để lại tài sản đó cho người khác còn sống Nếu người chết có
để lại di chúc và di chúc đó phát sinh hiệu lực pháp luật thì quá trình dịch chuyển
Trang 6đó sẽ căn cứ vào ý chí của người để lại di sản được định đoạt trong di chúc Nhưngtrong thực tế không phải lúc nào, trước khi chết người nào đó cũng sẽ để lại dichúc Điều đó có nghĩa là, hoặc người đó không để lại di chúc hoặc không thể kịpviết di chúc do tai nạn, đột tử Hoặc có di chúc để lại nhưng di chúc không có hiệulực pháp luật thì quá trình dịch chuyển di sản được tiến hành theo quy định củapháp luật Quá trình dịch chuyển này được gọi là thừa kế theo pháp luật.
Tại điều 674 BLDS quy định ‘thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàngthừa kế,điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định’ Ở đây pháp luật trựctiếp quy định những người có quyền hưởng thừa kế,phân định di sản cho nhữngngười thừa kế cùng hàng và các trình tự khác trong quá trình dịch chuyển di sản
So với thừa kế theo di chúc thì việc ai hưởng thừa kế và họ hưởng bao nhiêu đốivới tài sản hoàn toàn phụ thuộc vào ý trí của người lập di chúc Những người cótên trong bản di chúc có thể là người xa lạ với toàn bộ họ hàng của người lập dichúc Chủ thể được nhận di chúc là bất cứ cá nhân nào có đủ điều kiện hưởng thừa
kế
3 Những trường hợp thừa kế theo pháp luật.
Thừa kế theo pháp luật được áp dụng theo các trường hợp theo quy địnhtại Điều 675 BLDS,bao gồm các trường hợp sau:
1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây: a) Không có di chúc;
b) Di chúc không hợp pháp;
c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;
d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.
2 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:
a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
Trang 7b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng
di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.
Trường hợp1: Thừa kế theo pháp luật trong trường hợp không có di chúc:
Không có di chúc ở đây được xác định trong các trường hợp :
- Người chết không lập di chúc
- Di chúc có nội dung không rõ ràng mà những người thừa kế đã không thốngnhất về cách hiểu nội dung di chúc
- Kể từ thời điểm mở thừa kế di chúc bị thất lạc
- Di chúc bị hủy hoại đến mức không thể hiện được đầy đủ và rõ ràng ý chícủa người lập di chúc
Trong những trường hợp trên đây, toàn bộ di sản của người chết sẽ được chia chonhững người thừa kế theo quy định của pháp luật
Trường hợp 2: Người thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường
hợp có di chúc, nhưng di chúc không hợp pháp.
Khi di chúc không đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại điều 652 vànhững điều kiện chung của một giao dịch dân sự tại điều 122 BLDS
• Điều 652 :
1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đầy đủ các điều kiện sau :
a , Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, hoặc cưỡng ép.
b , Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội, hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
2. Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành văn bản và được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
Trang 83. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp , nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất 2 người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì
di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.
Di chúc không hợp pháp sẽ không có hiệu lực pháp luật, vì vậy mà sẽ khônglàm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc.Tùy theo phạm vi vi phạm của di chúc
để xác định di chúc đó vô hiệu một phần hay vô hiệu toàn bộ
- Di chúc vô hiệu một phần là di chúc chỉ có một phần di chúc không hợp phápnhưng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của di chúc
- Di chúc vô hiệu toàn bộ là di chúc có nội dung trái quy định của pháp luật tạiđiều 652 Di chúc vi phạm do người lập di chúc không đủ năng lực, không đủ tuổi, viphạm ý chí tự nguyện, người lập di chúc không minh mẫn sang suốt Trong trườnghợp này, toàn bộ di sản của người chết sẽ được chia cho những người thừa kế theopháp luật của họ
Trường hợp 3: Thừa kế theo pháp luật được áp dụng đối với phần di sản
không được định đoạt trong di chúc.
Nếu người để lại di sản chỉ định đoạt một phần di sản, thì phần còn lại sẽđược áp dụng chia cho những người nằm trong hàng thừa kế (trừ khi họ là người
bị người lập di chúc chỉ rõ chỉ được hưởng phần di sản theo di chúc hoặc bị truấtquyền thừa kế theo di chúc)
Trường hợp 4: Trong trường hợp toàn bộ những người thừa kế chết trước
hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, các cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc đều không có người thừa kế theo quy định của pháp luật.
Một người thừa kế vừa có thể được hưởng di sản thừa kế theo di chúc lại vừađược hưởng thừa kế theo pháp luật nếu họ là người tồn tại vào thời điểm mở thừa
Trang 9kế thì toàn bộ di sản của người lập di chúc được dịch chuyển cho những người thừa
kế theo pháp luật của người đó
Các cơ quan, tổ chức chỉ bị coi là “không còn” nếu vào thời điểm mở thừa kếcác cơ quan, tổ chức đó đã chấm dứt sự tồn tại của mình trên thực tế như bị giải thểhoặc bị tuyên bố phá sản Vì vậy, nếu cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo dichúc bị chấm dứt do sáp nhập, hợp nhất hoặc chia tách thành cơ quan, tổ chức mớiđược sáp nhập, hợp nhất hoặc chia tách là cơ quan, tổ chức kế quyền thừa kế theo
di chúc của cơ quan, tổ chức cũ Do đó, phần di sản mà cơ quan, tổ chức cũ đượchưởng theo di chúc vẫn được dịch chuyển theo đúng ý chí của người để lại di sản
để cơ quan, tổ chức mới được thành lập do sáp nhập, hợp nhất hoặc chia tách sẽthừa hưởng
Nếu chỉ có một hoặc một số người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểmvới người lập di chúc; các cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc khôngcòn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di sản liên quan đến họ mới được
áp dụng thừa kế theo pháp luật
Trường hợp 5: Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản
Những người thừa kế lẽ ra được hưởng di sản theo di chúc nhưng lại thực hiệnnhững hành vi quy định tại khoản 1 Đ 643 BLDS sẽ không được hưởng di sản:
Ðiều 643 Người không được quyền hưởng di sản
1 Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm
Trang 10hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
2 Những người quy định tại khoản 1 Ðiều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng
di sản theo di chúc.
Những hành vi nên trên phải thoả mãn một trong các điều kiện sau:
- Hành vi nói trên xảy ra khi di chúc đã lập mà người lập di chúc không có ýkiến gì
- Hành vi nói trên xảy ra trước khi di chúc được lập nhưng người lập di chúckhông biết được người đó đã có hành vi đó
Nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng disản thì áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản mà người lập di chúc
để lại
Nếu chỉ có một hoặc một số người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng
di sản thì chỉ áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản liên quan đến nhữngngười đó
Trường hợp 6: Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người thừa
kế theo di chúc từ chối quyền hưởng di sản
Người thừa kế có quyền nhận, cũng có quyền từ chối việc hưởng di sản củangười chết để lại.Nếu việc từ chối quyền hưởng di sản đúng quy định tại Bộ LuậtDân sự thì phần di sản liên quan đến người từ chối sẽ được áp dụng thừa kế theopháp luật để giải quyết
Cần lưu ý rằng: trong thực tế có những người có thể là người thừa kế theo dichúc nhưng cũng đồng thời là người thừa kế theo luật của người lập di chúc Vìvậy, trong trường hợp này, nếu họ chỉ từ chối quyền hưởng di sản theo di chúc, thìphần di sản đó được chia cho những người thừa kế theo pháp luật và người từ chốivẫn được hưởng di sản theo pháp luật Nếu họ từ chối toàn bộ quyền hưởng di sản(cả theo di chúc, cả theo pháp luật) thì phần di sản đó được chia cho những ngườithừa kế theo pháp luật khác của người lập di chúc
Trong trường hợp toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều từ chốiquyền hưởng di sản, thì toàn bộ di sản thừa kế mà người lập di chúc để lại sẽ được
Trang 11chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người đó theo quy định tại điểm ckhoản 2 điều 675 Bộ Luật Dân sự.
Nếu chỉ có một hoặc nhiều người trong số những người thừa kế theo di chúcđều từ chối quyền hưởng di chúc, thì chỉ áp dụng thừa kế theo pháp luật đối vớinhững phần di sản liên quan đến những người từ chối quyền hưởng di sản
4 Diện và hàng thừa kế.
Nếu như đối với thừa kế theo di chúc, người thừa kế do người để lại di sản định đoạt là chủ yếu thì với thừa kế theo pháp luật, pháp luật định đoạt người thừa kế theo diện và hàng thừa kế Vì thế, với thừa kế theo pháp luật, vấn đề quan trọng nhất
là phải xác định được ai là người được hưởng di sản của người chết và họ được hưởngtheo thứ tự nào? Vì thế, đặt ra việc xác định diện và hàng thừa kế
4.1 Diện thừa kế theo pháp luật.
Diện thừa kế là phạm vi những người có quyền thừa kế di sản của người chết theo quy định của pháp luật Để xác định diện thừa kế, các nhà lập pháp đã dựa trên ba cơ sở sau: quan hệ hôn nhân,quan hệ huyết thống,quan hệ nuôi dưỡng
a. Quan hệ hôn nhân
Quan hệ hôn nhân ở đây chính là quan hệ vợ chồng Quan hệ thỏa mãn đầy đủ các yếu tố quy định của pháp luật về hôn nhân, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, không vi phạm các quy định về kết hôn theo Luật Hôn Nhân và Gia Đình
Xuất phát từ một thực tế, quan hệ hôn nhân làm gắn kết vợ và chồng thành mộtthể thống nhất là gia đình Quan hệ hôn nhân không chỉ làm phát sinh những ràng buộc về tình cảm, trách nhiệm với đối phương mà còn làm phát sinh những ràng buộc về tài sản Trong thời gian hôn nhân, vợ chồng cùng nhau xâydựng một khối tài sản chung cho gia đình Không phải lúc nào khối tài sản đó cũng phân định rạch ròi của anh của tôi Trong quy định thừa kế theo pháp luật, khi người chết không để lại di chúc thì người vợ hoặc chồng đang còn sống sẽ được hưởng tài sản ở hàng thứ nhất Việc quy định vợ hoặc chồng cóquyền thừa kế tài sản của nhau không những bảo vệ quyền lợi của họ, mặt khác còn thể hiện sự gắn bó về tình cảm giữa người thừa kế và người quá cố
Trang 12b. Quan hệ huyết thống.
Xét trên phạm vi hẹp, quan hệ huyết thống là quan hệ giữa bố mẹ và con do mình sinh ra, tức là có mối liên hệ dòng máu trực hệ Việc người con được hưởng di sản không hề phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của bố mẹ Tức là
cả khi là con ngoài giá thú, nếu xác định đó chính là con ruột của người đã chết theo những căn cứ khác nhau thì đứa trẻ đương nhiên sẽ nhận được thừa
kế theo pháp luật Rộng hơn, quan hệ huyết thống còn là quan hệ giữa nhữngngười chung dòng máu, có mối quan hệ họ hàng thân thích gần gũi như: anh,
em, chú, bác, cô, dì…
c. Quan hệ nuôi dưỡng.
Quan hệ nuôi dưỡng tức là sự thể hiện nghĩa vụ chăm sóc với những người thân của mình theo quy định của pháp luật Quan hệ nuôi dưỡng giữa bố mẹ
và các con, giữa anh chị em, nghĩa vụ phụng dưỡng tuổi già cho ông bà, bố
mẹ Quan hệ nuôi dưỡng giữa ông bà và các cháu, bố mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng, bố mẹ nuôi với con nuôi
Nhưng không phải tất cả những người thuộc diện thừa kế đều được hưởng di sản thừa kế trong điều kiện và cùng một lúc như nhau mà căn cứ vào mức độ gần gũi và trách nhiệm nuôi dưỡng trong mối quan hệ với người để lại di sản Khoản 1 điều 676 BLDS đã quy định thành ba hàng thừa kế trước và sau
4.2 Hàng thừa kế theo pháp luật.
Hàng thừa kế được quy định trong điều 676 BLDS 2005 như sau:
Điều 676 Người thừa kế theo pháp luật
1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con
đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chịruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội,
bà nội, ông ngoại, bà ngoại;