Tuy nhiên, quốc đảo Sư tử Singapore đã vươn lên trở thành nền kinh tế cạnhtranh nhất trên toàn thế giới trong nhiều năm liền, đánh giá này do Ngân hàngThế giới World Bank phối hợp cùng T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA KINH TẾ
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ PHÁT TRIỂN
THỰC TRẠNG VÀ CON ĐƯỜNG TĂNG TRƯỞNG
CỦA QUỐC GIA SINGAPORE
GVHD: TRẦN MINH TRÍ
Trang 2M c L c ụ ụ
Trang 3Tuy nhiên, quốc đảo Sư tử Singapore đã vươn lên trở thành nền kinh tế cạnhtranh nhất trên toàn thế giới trong nhiều năm liền, đánh giá này do Ngân hàngThế giới (World Bank) phối hợp cùng Tổ chức Tài chính Quốc tế IFC thực hiệndựa trên một số yếu tố như thời gian để bắt đầu khởi nghiệp, thời gian nộp thuế
và lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của từng quốc gia Thu nhập bình quân đầungười của Singapore đã tăng mạnh, từ 435 USD/người vào năm 1959, đến12.700 USD/người vào năm 1990 và đạt ngưỡng 68.541 USD/người vào năm
2013, trở thành nước có GDP bình quân đầu người cao nhất trên toàn thế giới
Các mặt hàng chính của ngành công nghiệp Singapore là điện tử, hóa chất,thiết bị khoan lọc dầu, chế biến cao su và các sản phẩm từ cao su, thực phẩm chếbiến và đồ uống, sửa chữa tàu biển, xây dựng, công nghệ sinh học Trong đó cácsản phẩm máy móc và linh kiện (điện tử viễn thông), dược phẩm và hóa chất,sản phẩm từ dầu mỏ tinh chế đã được xuất khẩu ra nhiều nước
Bên cạnh đó, Singapore đã xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng rất thuậntiện bao gồm các cảng biển, hệ thống đường giao thông trên cạn và dưới nước đểcạnh tranh với các nước láng giềng trong các hoạt động buôn bán, xuất nhậpkhẩu Thành phố hải cảng của Singapore là một trong những nơi bận rộn nhấttrên thế giới, vượt xa Hồng Kông và Thượng Hải
Singapore có nền kinh tế thị trường tự do phát triển cao và rất thành công.Người dân Singapore được hưởng một môi trường kinh tế mở cửa đa dạng, lànhmạnh và không hề có tham nhũng Hiện nay, Singapore là quốc gia đi đầu trongviệc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức với mục tiêu đến năm 2018 sẽ trở thànhnền kinh tế hàng đầu thế giới
Những gì mà Singapore đạt được từ thời kỳ lập quốc đến nay, đáng để cho Việt Nam học hỏi Bài tiểu luận này đi vào thực trạng và con đường phát triển của Singapore từ năm 2010 đến 2016
Trang 41.2 Sơ lược về Singapore
Singapore tên chính thức là nước Cộng hòa Singapore, là một thành bang và
tại Đông Nam Á, Singapore đã mở mang lãnh thổ bằng đất lấy từ những ngọnđồi, đáy biển và những nước lân cận Nhờ đó, diện tích đất của Singapore đãtăng từ 581,5 km² ở thập niên 1960 lên 697,25 km² ngày nay
Là quốc gia đô thị hóa cao độ, vùng thành thị trước đây chỉ tập trung bao
ít thảm thực vật nguyên sinh Singapore có khí hậu xích đạo ẩm với các mùa
Các hòn đảo của Singapore có người định cư vào thế kỷ thứ 2 Côngnguyên và sau đó thuộc một số quốc gia bản địa, Anh Quốc giành được chủ
tranh thế giới thứ hai, và sau chiến tranh Singapore tuyên bố độc lập vào năm
1963, và hợp nhất với các cựu lãnh thổ khác của Anh Quốc để hình
hổ châu Á
Với sự phát triển của thương mại và vận tải biển, đến năm 1900, Singapore
Nam Á, là một trong các trung tâm thương mại lớn của thế giới, với vị thế trungtâm tài chính lớn thứ tư và một trong năm cảng bận rộn nhất Nền kinh tế mangtính toàn cầu và đa dạng của Singapore phụ thuộc nhiều vào mậu dịch, đặc biệt
là chế tạo, chiếm 26% GDP vào năm 2005, Theo sức mua tương đương,Singapore có thu nhập bình quân đầu người cao thứ ba trên thế giới Quốc gianày xếp hạng cao trong các bảng xếp hạng quốc tế liên quan đến giáo dục, chămsóc sức khỏe, sự minh bạch của chính phủ, và tính cạnh tranh kinh tế, là mộttrong năm thành viên sáng lập của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
cao Đông Á, Phong trào không liên kết, và Thịnh vượng chung các quốc gia Sựphát triển nhanh chóng của Singapore tạo cho quốc gia này có ảnh hưởng đáng
kể trong các vấn đề toàn cầu, khiến một số nhà phân tích nhận định Singapore làmột cường quốc bậc trung
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 5a) Mục tiêu chung
Nhận định thực trạng và con đường phát triển của Singapore từ năm 2010 đến 2016
b) Mục tiêu cụ thể
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa vào các số liệu thu thập được từ Wordbank
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp thống kê
2. Phần nội dung
2.1 Tăng trưởng và kinh tế phát triển
a) Khái niệm thế giới thứ 3
Trang 6Sau chiến tranh thế giới thứ II thì một số các nước ở châu Á và Châu Phigiành độc lập, và trở thành nhân tố mới trong chính trường quốc tế Những nướcnày được gọi là thế giới thứ 3.
Kinh tế Singapore tăng trưởng chậm lại tính cả năm 2011, tổng sản phẩmquốc nội (GDP) của Singapore tăng 4,8%, thấp hơn nhiều so với dự đoán và tốc
độ tăng trưởng 14,5% trong năm 2010, Cục Thống kê Singapore cho biết Nhưngđến năm 2013 nền kinh tế của “đảo quốc Sư tử” tăng trưởng nhanh 4,1%, caohơn nhiều so với mức tăng trưởng 1,9% trong năm 2012 Theo số liệu của BộCông Thương Singapore (MTI) công bố mới nhất 24/2/2016, kinh tế Singaporetăng trưởng 2% trong năm 2015, giảm nhiều so với tăng trưởng 3,3% vào năm2014
Trang 7c) Tổng thu nhập quốc dân (GNI):
GNI là tổng thu nhập từ sản phẩm, vật chất và dịch vụ cuối cùng do công
nhân một nước tạo ra trong khoảng thời gian nhất định.
Chỉ số GNI (tổng thu nhập quốc dân) singapore từ năm 2010 đến 2015
nguồn: data.worldbank.org
Chỉ số GNI của quốc gia này tăng 68 tỷ USD trong giai đoạn 2010-2013.Giữ nguyên ở mức 295 tỷ USS trong 2 năm 2013 và 2014 Đến nắm 2015 giảmxuống còn 288 tỷ USD
Các tiêu chí đánh giá phát triển xã hội:
Trang 8HDI là một chỉ tiêu mà LHQ đưa ra để đánh giá và tổng hợp xếp loại trình
độ phát triển giữa các quốc gia.
Tuổi thọ trung bình của người dân Singapore
2.2 Nghèo đói, bất bình đẳng và phát triển
Nghèo đói là khái niệm có nhiều khía cạnh Đó là sự khốn cùng về vật chất,được đo lường theo một tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng, sự thiếuthốn về giáo dục và y tế kèm theo nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro.Bất đồng đẳng được hiểu là tình trạng không đồng đều giữa các cá nhân, cácnhóm người hay các quốc gia với nhau:
Theo số liệu thống kê cho năm 2010, thu nhập bình quân đầu người tạiSingapore là 56.532 đô la Mỹ, tức còn hơn cả Na Uy, Mỹ và Hồng Kông Chỉtrong vòng hai năm, số người sở hữu trên 100 triệu đô la tăng 13%, tức gấp hai
Trang 9lần tỉ lệ bình quân thế giới Theo dự phóng đến năm 2016, cón số 13% sẽ tănglên 44%.
Thứ nhất, tỉ lệ nhập cư của Singapore rất cao : Singapore là điểm đến hấpdẫn thứ ba của người nhập cư trên thế giới, chỉ sau Mỹ và Canada Hiện ngườinhập cư chiếm 37% dân số Singapore Dân nhập cư gây ảnh hưởng đến việc làm
và thu nhập của một bộ phận không nhỏ người Singapore Nhiều người nhập cư
là các đại gia, tài sản kếch xù của họ góp phần làm cho thống kê tổng tài sản củaSingapore nói chung được cao hơn rất nhiều Thế nhưng, đối với ngườiSingapore, nhất là dân lao động thì không lợi ích gì, mà lại càng khiến cho cuộcsống khó khăn hơn, bởi thống kê thu nhập bình quân đầu người càng cao, tứcmức độ tính san bằng càng lớn, thì người nghèo lại càng khổ sở
Đi vào chi tiết sự chênh lệch giàu nghèo, tờ báo dẫn lại số liệu của tạp chíForbes cho biết : năm 2011, tổng tài sản của những người giàu nhất tạiSingapore là 54,4 tỉ đô la, năm nay con số này tăng lên thành 59,4 tỷ đô la;Singapore hiện có 16 tỉ phú, tức tăng thêm 3 người so với năm rồi; trong100.000 gia đình, chỉ có 10 hộ có tài sản vượt 100 triệu đô la
Cuộc sống tại Singapore thuộc hàng đắt đỏ nhất thế giới, lạm phát củaSingapore cũng thuộc top đầu Giá cả tăng không ngừng khiến tầng lớp lao độngphải lắm khổ sở Người nghèo thì nghèo thêm, còn người giàu thì giàu thêm Từ
5 năm nay, khoảng cách giàu nghèo ở Singapore ngày càng lớn, và như vậyđương nhiên bất bình đẳng xã hội ngày càng cao
2.3 Vốn và tăng trưởng kinh tế
Vốn được hiểu là giá trị vật chất được tích luỹ trong nhiều năm có thể là củacải vật chất, tài nguyên, sức lao động hoặc tài sản vật chất khác được ứng ra banđầu trong các quá trình sản xuất nhằm mục đích kiếm lợi nhuận
nguồn: data.worldbank.org
Tổng vốn đầu tư của Singapore trong vòng 6 năm từ 2010 đến 2015 có nhiềubiến động, cao nhất là 30,31% GDP ( năm 2013) đến năm 2015 giảm mạnh còn26,29% và là con số thấp nhất trong 6 năm
nguồn: data.worldbank.org
Trang 10Tổng vốn đầu tư so với tăng trưởng hàng năm giảm mạnh từ 13,9 (năm2013) xuống -6,21 (năm 2015) Chứng tỏ nguồn vốn để đầu tư của Singaporegiảm sút so với sự tăng trưởng của quốc gia.
ODA là tên viết tắt của Official Development Assitance – Hỗ trợ phát triểnchính thức hay viện trợ phát triển chính thức (Hỗ trợ phát triển chính thức làmột hình thức đầu tư nước ngoài Gọi là Hỗ trợ bở vì các khoản đầu tư nàythường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vaydài, đôi khi còn gọi là Viện trợ Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của cáckhoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư.Gọi là Chính thức vì nó thường là cho Nhà nước vay)
ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặctín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phichính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chínhquốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển
Singapore hiện nay được biết đến là một nền kinh tế phát triển bậc nhấtĐông Nam Á và là một trong 4 con rồng của Châu Á, tuy nhiên khi mới bắt đầu
tự trị (1959) đất nước gặp nhiều khó khăn ODA cũng chính là nguồn tài trợ quantrọng giúp cho Singapore có được bước phát triển thần kì như bây giờ
nguồn: www.indexmundi.com/facts/singapore/net-oda-received
1995 Giá trị cao nhất trong 35 năm qua là 3,91 vào năm 1970, trong khi giá trịthấp nhất là -0,19 vào năm 1960
nguồn: www.indexmundi.com/facts/singapore/net-oda-received
nhất trong 35 năm qua là 1,48 vào năm 1970, trong khi giá trị thấp nhất là -0,03vào năm 1960
nguồn: www.indexmundi.com/facts/singapore/net-oda-received
Trang 11 Tỷ lệ ODA thuần (% hàng nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ và thu nhập chính) ởSingapore là 0.011 vào năm 1995 Giá trị cao nhất trong 23 năm qua là 0.797vào năm 1972, trong khi giá trị thấp nhất là -0.004 vào năm 1990.
nguồn: www.indexmundi.com/facts/singapore/net-oda-received
0,159 vào năm 1995 Giá trị cao nhất trong 5 năm qua là 0,268 vào năm 1993,trong khi giá trị thấp nhất là -0,050 vào năm 1990
Tuy nhiên vào năm Singapore đã “Tốt nghiệp” ODA và hiện nay lànguồn vốn ODA quan trọng cho sự phát triển của Việt Nam
FDI là viết tắt của Foreign Direct Investment được biết là hình thức đầu tư
trực tiếp nước ngoài dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khácbằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài
đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này
Tổ chức thương mại thế giới (WHO) định nghĩa FDI như sau: đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư)
có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản
lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tàichính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đóquản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhàđầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công tycon" hay "chi nhánh công ty"
nguồn: data.worldbank.org
Do tăng trưởng kinh tế và thương mại suy yếu nên dòng vốn FDI toàn cầutrong năm 2016 vừa qua đã giảm 13% và hiện ở mức 1,52 nghìn tỷ USD Chính
sự suy giảm trên toàn cầu đã kéo theo dòng vốn FDI tại Singapore giảm 23%, từ
65 tỷ USD năm 2015 xuống còn 50 tỷ USD trong năm 2016 Tuy nhiên, đángchú ý là Singapore vẫn nằm trong 10 điểm đến FDI hàng đầu và đứng ở vị trí thứ
5 trong bảng xếp hạng FDI toàn cầu, sau khi trượt xuống thứ 7 trong năm 2015
2.4 Lao động và tăng trưởng kinh tế
Trang 12Bộ Nhân lực Singapore cho biết việc kinh tế tăng trưởng chậm lại đang làm
tỷ lệ thất nghiệp của nước này có xu hướng gia tăng, trong đó bao gồm cả nhữngngười đã tốt nghiệp đại học Theo Báo cáo về thị trường lao động của Bộ Nhânlực Singapore, tỷ lệ thất nghiệp năm 2016 của nước này nhích lên 3%, trong đó
tỷ lệ thất nghiệp của nhóm những người trong độ tuổi từ 30 đến 39 và trên 50tuổi cao nhất Đáng chú ý tỷ lệ những người đã tốt nghiệp đại học không tìmđược việc làm cũng lên tới 1%, mức cao nhất kể từ năm 2004 đến nay
Năm 2016, hơn 19.000 công nhân Singapore bị mất việc, tăng 23% so với năm
2015 Mặc dù tỷ lệ này chưa cao bằng năm 2009, khi kinh tế Singapore rơi vàosuy thoái khiến hơn 23.000 công nhân không có việc làm, nhưng cũng là mứctăng cao nhất trong những năm gần đây Trước đó, tỷ lệ thất nghiệp tại Singaporegiữ ổn định ở mức 2,8% trong bốn năm liền
Tại Việt Nam, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thờiđiểm 01/7/2016 ước tính là 54,4 triệu người, tăng 654,3 nghìn người so với cùngthời điểm năm 2015 Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểmtrên ước tính 47,5 triệu người, tăng 263,6 nghìn người so với cùng thời điểmnăm 2015 Số người trong độ tuổi lao động khoảng 47,88 triệu người, giảm233,2 nghìn người so với cùng thời điểm tháng 9 năm ngoái Đặc biệt, tỷ lệ thấtnghiệp gia tăng theo từng quý Cụ thể, quý I/2016 tỷ lệ là 2,25%; quý II là2,29%; ước tính quý III là 2,34%
Singapore là một trong những con rồng kinh tế châu Á – là một trong nhữngnước có nền kinh tế thịnh vượng trên thế giới với thu nhập bình quân đầu ngườinăm 2014 trên 56.707 USD/người, gấp Việt nam 22 lần và đứng hàng thứ tư thếgiới Năng suất lao động bình quân tại Singapore đang ở mức cao nhất trên thếgiới, so sánh với Việt nam thì gấp tới 17 lần, nôm na một người lao động tạiSingapore làm hiệu quả bằng 17 người Việt Nam
Theo số liệu thống kê mới nhất của Bộ Nhân lực Singapore (MOM) cho biếtnhiều người lao động đã bị mất việc làm trong năm 2015 do kinh tế suy giảm,mặc dù tỷ lệ thất nghiệp của nước này vẫn ở mức thấp Theo MOM, 15.580 côngnhân đã bị sa thải trong năm ngoái, mức cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tàichính toàn cầu năm 2009 và tăng 20% so với năm 2014 Không những bị mấtviệc làm, MOM cũng chỉ ra rằng người lao động ngày càng gặp khó khăn hơnkhi tìm một công việc mới Chỉ hơn một nửa số người Singapore và nhữngngười có thẻ cư trú bị sa thải từ tháng 7 đến tháng 9/2015 là có thể tìm được việclàm vào cuối năm, giảm 55% so với quý trước đó và giảm 59% so với quý cuốicùng của năm 2014 Đáng chú ý, lao động địa phương tăng trưởng với tốc độ
Trang 13chậm nhất trong hơn một thập kỷ qua Số người Singapore và người có thẻ cưtrú có việc làm chỉ tăng 700 người trong năm 2015, trong khi con số này củanăm trước đó là 96.000 người Trong khi đó, số người lao động nước ngoài tạiSingapore tính đến cuối năm 2015 là trên 3,6 triệu người, chỉ tăng 0,7% so vớithời điểm đầu năm.
Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp của Singapore trong năm 2015 vẫn không thayđổi ở mức 2,9% đối với người Singapore, trong khi tỉ lệ này tăng nhẹ từ 2,7%trong năm 2014 lên 2,8% đối với thành người có thẻ cư trú
Theo MOM, sự thay đổi cấu trúc làm chậm tăng trưởng lực lượng lao độngđịa phương trùng với suy thoái theo chu kỳ Các ngành định hướng xuất khẩunhư sản xuất và thương mại tăng trưởng chậm lại cùng với các dịch vụ bất độngsản trong bối cảnh thị trường ảm đạm, thương mại bán lẻ cũng giảm sút do suythoái đã khiến cho tăng trưởng việc làm giảm
2.5 Môi trường và phát triển
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới phát triển nhanh chóng, đặcbiệt là sự tăng trưởng ấn tượng của hàng loạt các quốc gia khu vực châu Á –Thái Bình Dương Tuy nhiên đi cùng sự phát triển nhanh chóng này là một loạtcác vấn đề về môi trường nảy sinh như ô nhiễm môi trường sống, biến đổi khíhậu, cạn kiệt tài nguyên, suy giảm hệ sinh thái tự nhiên…
Các vấn đề về môi trường không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, cuộc sống củangười dân mà còn ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng và phát triển của cácquốc gia trên thế giới Đứng trước thực trạng này, việc chuyển đổi mô hình tăngtrưởng là điểm tất yếu và tăng trưởng xanh đã được coi như một con đường phùhợp nhất để phát triển bền vững mà nhiều quốc gia trên thế giới đang theo đuổi,trong đó có Việt Nam
tích rừng chỉ chiếm khoảng 1% diện tích và phần lớn chủ yếu là rừng ngập mặn
So với các nước trong khu vực có thể nói Singapore có diện tích rừng cực kỳnhỏ Sử dụng nhiều phương pháp chuẩn khác nhau (điều tra mặt đất, 2012GeoEye hình ảnh, vv), các khu rừng ngập mặn hiện tại của Singapore được ướctính là 734,9 ha
Rừng ngập mặn đã biến mất từ bờ biển Đông Nam Á trong nhiều thập kỷ,thay thế bằng các trang trại nuôi trồng thủy sản, phát triển công nghiệp và nhà ở
và các khu du lịch (Primavera, 1998; Duke và cộng sự, 2007) Tương tự như vậy,
Trang 14rừng ngập mặn một lần mở rộng của Singapore (75 km 2, khoảng 200 năm
trước) phần lớn đã biến mất do của chúng tôi nhu cầu phát triển của quốc gia
(Corlett, 1992) Ngoài ra, bao nhiêu rừng ngập mặn sẽ bị bỏ lại trong tương lai
gần nếu chúng ta xét đến sự gia tăng mực nước biển thay cho sự thay đổi khí hậu
Với mối quan tâm ngày càng tăng của hoàn cảnh cảu các sinh cảnh rừng
ngập mặn ở Singapore, kiến thức về đa dạng sinh học và đặc biệt là quy mô của
rừng ngập mặn rừng và hệ thực vật rừng ngập mặn hiện tại là những mối quan
tâm quan trọng Rừng ngập mặn tạo ra môi trường sống chủ yếu cho nhiều sinh
vật trên đất liền, cửa sông và biển.Việc mất rừng ngập mặn và các loài cá nhân
không chỉ góp phần làm mất đa dạng sinh học(Bao gồm các khu vực lân cận) và
chức năng hệ sinh thái, nhưng cũng có thể tác động tiêu cực đến sinh kế của con
người (đặc biệt là nghèo hơn)
Trong những năm gần đây, ý tưởng về rừng ngập mặn như 'bồn chứa cacbon'
nguyên nhân gốc rễ của sự thay đổi khí hậu Thông qua quang hợp, rừng ngập
chúng là một trong những vùng biển quan trọng,các hệ sinh thái đóng một vai trò
quan trọng trong việc hấp thụ cac-bon và trong việc điều chỉnh khí hậu địa
phương và có thể là khu vực