1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiết kế mô hình hệ thống cấp phôi và phân loại sản phẩm

28 374 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, mặc dù tự động hoá quá trình các quá trình sản xuất là một lĩnh vực đặt trưng của khoa học kỹthuật hiện đại của thế kỷ 20, nhưng những thông tin về cơ cấu tự động, làm việc không

Trang 1

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật con người ngày càngđòi hỏi trình độ tự động hoá phải càng phát triển để đáp ứng được nhu cầu của mình.

Tự động hoá ngày càng phát triển rộng rãi trong mọi lĩnh vực kinh tế, đời sống xã hội,

nó là ngành mũi nhọn trong công nghiệp Ngày nay, trình độ tự động hoá của mộtquốc gia đánh giá cả một nền kinh tế của quốc gia đó Chính vì lẽ đó mà việc pháttriển tự động hoá là một việc hết sức cần thiết

Bởi vậy ngành tự động hoá đã được đào tạo kỹ lưỡng ở các trường Đại Học, CaoĐẳng trên cả nước, và trường Cao Đẳng Công Nghệ Đà Nẵng cũng không ngoại lệ.Sinh viên được đào tạo về các dây chuyền sản xuất tự động các cơ cấu chấp hành cũngnhư các thiết bị điều khiển Ngành Cơ-Điện tử là một trong những nghành như thế.Viêc tạo ra các sản phẩm tự động hoá không những trong công nghiệp mà ngay cảtrong đời sống con người ngày càng được phổ biến Hầu như trong mọi lĩnh vực đềuthấy có cần thiết của tự động hoá

Từ những thực tế trên là sinh viên của ngành Cơ-Điện tử sau 3 năm học, em đãtích lũy được một số kiến thức về tự động hoá Và để cũng cố và bổ sung thêm nhữngkiến thức đã học và để áp dụng những kiến thức đó vào thực tế em đã được nhận và

thực hiện đồ án tốt nghiệp với đề tài “Thiết kế mô hình hệ thống cấp phôi và phân

loại sản phẩm” Như đã nói ở trên việc tạo ra một hệ thống như vậy để thay thế con

người thiết nghĩ cũng là vấn đề hết sức cần thiết Với phạm vi đồ án em sẽ tạo ra một

mô hình mô phỏng hoạt động của hệ thống phân loại và đóng gói sản phẩm

Việc hoàn thành đề tài của em sẽ không tránh được những sai lầm thiếu sót Emrất mong được sự phê bình đánh giá của các thầy cô để em có thể rút ra được kinhnghiệm và cũng nhằm bổ sung kiến thức cho mình

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT TỰ ĐỘNG 5

1.1.GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG SẢN XUẤT TỰ ĐỘNG 5

1.1.1 TÓM TẮT LỊCH SỬ CỦA TỰ ĐỘNG HÓA SẢN 5

1.1.2 VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CHO QUÁ TRÌNH TỰ ĐỘNG HÓA 7

1.2 HỆ THỐNG NẠP SẢN PHẨM VÀ PHÂN LOẠI 11

CHƯƠNG II: THIẾT KẾ HỆ THỐNG PHÂN LOẠI VÀ ĐẾM SẢN PHẨM 12

2.1 GIỚI THIỆU NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI 12

2.2 PHÂN TÍCH LỰA CHỌN CÁC PHƯƠNG ÁN 12

2.3 LẬP CHU TRÌNH LÀM VIỆC CỦA HỆ THỐNG 13

2.3.1 CẤU TẠO CÁC THIẾT BỊ VẬN TẢI 13

2.3.1.1 BĂNG CHUYỀN 13

2.3.1.2 BĂNG GẦU 13

2.3.1.3 THANG CHUYỀN 14

2.3.2 SƠ ĐỒ ĐỘNG TOÀN HỆ THỐNG 14

CHƯƠNG III: BỘ ĐIỀU KHIỂN LẬP TRÌNH 15

3.1 TỔNG QUAN PLC, NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 15

3.1.1 ĐẶC ĐIỂM BỘ ĐIỀU KHIỂN LẬP TRÌNH 15

3.1.2 PHÂN LOẠI PLC 17

3.1.3 SO SÁNH VỚI CÁC BỘ ĐIỀU KHIỂN KHÁC 18

3.2 CẤU TRÚC PHẦN CỨNG CỦA PLC 18

3.2.1 BỘ XỬ LÝ TRUNG TÂM CPU (CENTER PROCESSING UNIT) 19

3.2.2 BỘ NHỚ À KHỐI VÀO/RA 20

3.3 LỢI ÍCH VÀ ỨNG DỤNG TIÊU BIỂU CỦA PLC 21

3.4 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ VẤN ĐỀ LẬP TRÌNH PLC 23

3.4.1 GIẢI THÍCH CHƯƠNG TRÌNH LADDER 23

3.4.2 NGÕ VÀO VÀ NGÕ RA 23

3.4.3 RƠLE ( -( ) -) 23

3.4.4 THANH GHI (REGISTER) VÀ TẬP LỆNH TRONG PLC 24

3.4.5 BỘ ĐẾM (COUNTER) VÀ BỘ ĐỊNH THỜI (TIMER) 25

3.5 CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG VÀ XỬ LÝ TÍN HIỆU TRÊN PLC 27

Trang 3

3.5.1 CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG 27

3.5.2 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ 28

3.6 TỔNG QUAN SIMATIC S7 – 200 30

3.6.1 CẤU HÌNH PHẦN CỨNG 30

3.6.2 CẤU TRÚC BỘ NHỚ 31

3.6.3 THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH 33

3.7 NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH CỦA S7-200 34

3.7.1 PHƯƠNG PHÁP LẬP TRÌNH 34

3.7.2 TẬP LỆNH CỦA S7-200 35

CHƯƠNG IV: TÍNH TOÁN THIẾT KẾ MÔ HÌNH HỆ THỐNG VÀ PHẦN ĐIỀU KHIỂN TOÀN BỘ HỆ THỐNG 37

4.1 THIẾT KẾ ĐỘNG HỌC CỦA HỆ THỐNG 37

4.1.1 TÍNH NĂNG KỸ THUẬT CỦA HỆ DẪN ĐỘNG 37

4.1.2 TÍNH BỀ RỘNG BĂNG TẢI 37

4.1.3 PHÂN PHỐI TỶ SỐ TRUYỀN CỦA BỘ HỆ THỐNG 38

4.1.3.1 TÍNH LỰC KÉO BĂNG TẢI 38

4.1.3.2 TÍNH TOÁN CÁC THÔNG SỐ BỘ TRUYỀN 40

4.2 THIẾT KẾ BỘ TRUYỀN ĐỘNG ĐAI 41

4.2.1 CHỌN LOẠI ĐAI 41

4.2.2 TÍNH TOÁN CÁC THÔNG CỦA ĐAI ĐỐI VỚI ĐAI LOẠI O 42

4.2.3 TÍNH TOÁN CÁC THÔNG SỐ ĐỐI VỚI ĐAI LOẠI A 43

4.3 THIẾT KẾ TRỤC 47

4.4 PHƯƠNG PHÁP CỐ ĐỊNH Ổ TRÊN TRỤC VÀ TRONG VỎ HỘP 54

4.4.1 DÙNG ĐAI ỐC VÀ ĐỆM CÁNH 54

4.4.2 ỐNG LÓT 54

4.4.3 NẮP Ổ 54

4.4.4 KHỚP NỐI 55

4.4.5 CẤU TẠO VỎ MÁY 55

CHƯƠNG V: CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU KHIỂNHỆ THỐNG 57

5.1 NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG: 57

5.2 CẢM BIẾN VÀ CÔNG TẮC HÀNH TRÌNH 57

5.2.1 CẢM BIẾN QUANG 57

Trang 4

5.2.2 CÔNG TẮC HÀNH TRÌNH 60

5.3 CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU KHIỂN PLC 62

CHƯƠNG VI: KẾT LUẬN 66

6.1 KẾT QUẢ 66

6.2 HƯỚNG PHÁT TRIỂN 66

Trang 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT TỰ ĐỘNG 1.1.Giới thiệu về hệ thống sản xuất tự động

1.1.1 Tóm tắt lịch sử phát triển của tự động hóa quá trình sản xuất.

Đã từ xa xưa, con người luôn mơ ước về các loại máy có khả năng thay thế chomình trong các quá trình sản xuất và các công việc thường nhặt khác Vì thế, mặc dù

tự động hoá quá trình các quá trình sản xuất là một lĩnh vực đặt trưng của khoa học kỹthuật hiện đại của thế kỷ 20, nhưng những thông tin về cơ cấu tự động, làm việc khôngcần có sự trợ giúp của con người đã tồn tại từ trước công nguyên Các máy tự động cơhọc đã được sử dụng ở Ai Cập cổ và Hy Lạp khi thực hiện các màn múa rối để lôi kéonhững người theo đạo Trong thời trung cổ người ta đã biết đến các máy tự động cơkhí thực hiện các chức năng người gác cổng của Albert Một đặc điểm chung của cácmáy tự động kể trên là chúng không có ảnh hưởng gì tới các quá trình sản xuất của xãhội thời đó

Chiếc máy tự động đầu tiên được sử dụng trong công nghiệp do một thợ

cơ khí người Nga, ông Pônzunôp chế tạo vào năm 1765 Nhờ nó mà mứcnước trong nồi hơi được giữ cố định không phụ thuộc vào lượng tiêu hao hơinước Để đo mức nước trong nồi, Pônzunôp dùng một cái phao Khi mứcnước thay đổi phao sẽ tác động lên cửa van, thực hiện điều chỉnh nước trongnồi Nguyên tắc điều chỉnh của cơ cấu này được sử dụng rộng rãi trong nhiềulĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau, nó được gọi là nguyên tắc điều chỉnhtheo sai lệch hay nguyên tắc Pôdunôp - Giôn Oat Đầu thế kỷ 19, nhiều côngtrình có mục đích hoàn thiện các cơ cấu điều chỉnh tự động của máy hơinước đã được thực hiện Cuối thế kỷ 19 các cơ cấu điều chỉnh cho tuabin hơinước bắt đầu xuất hiện Năm 1712 ông Narrtôp, một thợ cơ khí người Nga đãchế tạo được máy tiện chép hình để tiện các chi tiết định hình Việc chéphình theo mẫu đã được thực hiện Chuyển động dọc của bàn dao do bánhrăng - thanh răng thực hiện Cho đến năm 1798 ông Henry Nandsley ngườiAnh mới thay thế chuyển động này thành chuyển động của vitme - đai ốc.Năm 1873 Spender đã chế tạo được máy tiện tự động có ổ cấp phôi và trụcphân phối mang các cam đĩa và cam thùng Năm 1880 nhiều hãng trên thế

Trang 6

giới như Pittler Ludnig Lowe (Đức), RSK (Anh) đã chế tạo được máy tiệnrơvônve dùng phoi thép thanh Năm 1887 Đ.G Xtôlepôp đã chế tạo đượcphần tử cảm quang đầu tiên, một trong những phần tử hiện đại quan trọngnhất của kỹ thuật tự động hoá Cũng trong giai đoạn này, các cơ sở của lýthuyết điêù khiển và điều chỉnh hệ thống tự động bắt đầu được nghiên cứu,phát triển Một trong những công trình đầu tiên về lĩnh vực này thuộc về nhàtoán học nổi tiếng P.M.Chebưsep có thể nói, ông tổ của các phương pháptính toán kỹ thuật của lý thuyết điều chỉnh hệ thống tự động là I.A.Vưsnhegratxki, giáo sư toán học nổi tiếng của trường đại học công nghệ thựcnghiệm Xanh Pêtecbua Năm 1876 và 1877 ông đã cho đăng các công trình “

Lý thuyết cơ sở của các cơ cấu điều chỉnh” và “ Các cơ cấu điều chỉnh tácđộng trực tiếp” Các phương pháp đánh giá ổn định và chất lượng của cácquá trình quá độ do ông đề xuất vẫn dùng cho tới tận bây giờ

Không thể không kể tới đóng góp to lớn trong sự nghiệp phát triển lýthuyết điều khiển hệ thống tự động của các nhà bác học A.Xtôđô người Sec,A.Gurvis người Mỹ, A.K.Makxvell và Đ.Paux người Anh, A.M.Lapunôpngười Nga và nhiều nhà bác học khác

Các thành tựu đạt được trong lĩnh vực tự động hoá đã cho phép trongnhững thập kỷ đầu của thế kỷ 20 chế tạo các loại máy tự động nhiều trụcchính, máy tổ hợp và các đường dây tự động liên kết cứng và mềm dùngtrong sản xuất loạt lớn và hàng khối Cũng trong thời gian này, sự phát triểnmạnh mẽ của điều khiển học, một môn khoa học về các quy luật chung củacác quá trình điều khiển và truyền tin trong các hệ thống có tổ chức đã gópphần đẩy mạnh sự phát triển và ứng dụng của tự động hoá các quá trình sảnxuất vào công nghiệp

Trong những năm gần đây, các nước có nền công nghiệp phát triển tiếnhành rộng rãi tự động hoá trong sản xuất loạt nhỏ Điều này phản ánh xu thếchung của nền kinh tế thế giới chuyển từ sản xuất loạt lớn và hàng khối sangsản xuất loạt nhỏ và hàng khối thay đổi Nhờ các thành tựu to lớn của côngnghệ thông tin và các ngành khoa học khác, ngành công nghiệp gia công cơcủa thế giới trong những năm cuối của thế kỷ 20 đã có sự thay đổi sâu sắc

Sự xuất hiện hàng loạt các công nghệ mũi nhọn như kỹ thuật linh hoạt (Agile

Trang 7

engineering), hệ thống điều hành sản xuất qua màn hình (VisualManufacturing), kỹ thuật tạo mẫu nhanh (Rapid Prototyping) và công nghệNanô đã cho phép thực hiện tự động hoá toàn phần không chỉ trong sản xuấthàng khối mà cả trong sản xuất hàng loạt nhỏ và đơn chiếc Chính sự thayđổi nhanh của sản xuất đã liên kết chặt chẽ công nghệ thông tin với côngnghệ chế tạo máy, làm xuất hiện hàng loạt các thiết bị và hệ thống tự độnghoá hoàn toàn mới như các loại máy điều khiển số, các trung tâm gia công,các hệ thống điều khiển theo chương trình logic PLC (Programmable LogicControl), các hệ thống sản xuất linh hoạt FMS (Flexible ManufacturingSystems), các hệ thống sản xuất tích hợp CIM (Computer IntegradtedManufacturing) cho phép chuyển đổi nhanh sản phẩm gia công với thời gianchuẩn bị sản xuất ít nhất, rút ngắn chu kỳ sản xuất sản phẩm, đáp ứng tốt tínhthay đổi nhanh của sản xuất hiện đại.

Những thành công ban đầu của quá trình liên kết một số công nghệ hiệnđại trong khoảng 10-15 năm qua đã khẳng định xu thế phát triển của nền sảnxuất trí tuệ trong thế kỷ 21 trên cơ sở các thiết bị thông minh

1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của tự động hoá quá trình sản xuất.

Tự động hoá các quá trình sản xuất cho phép giảm giá thành và nâng cao năngsuất lao động Trong mọi thời đại, các quá trình sản xuất luôn điều khiển theo các quyluật kinh tế Có thể nói giá thành là một trong những yếu tố quan trọng xác định nhucầu phát triển của tự động hoá Không một sản phẩm nào có thể cạnh tranh được nếugiá thành của nó cao hơn các sản phẩm cùng loại, có tính năng tương của các hãngkhác Trong bối cảnh nền kinh tế luôn phải đối phó với các hiện tượng như lạm phát,chi phí cho vật tư, lao động quảng cáo, và bán hàng ngày càng tăng, buộc công nghiệpchế tạo phải tìm kiếm các phương pháp sản xuất tốt nhất để giảm giá thành sản phẩm.Mặt khác nhu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng mức phức tạp của quátrình gia công Khối lượng các công việc đơn giản cho phép trả lương thấp sẽ giảmnhiều Chi phí cho đội ngũ công nhân và đội ngũ phục vụ, giá thành thiết bị cũng tăngtheo Đây là động lực mạnh kích thích sự phát triển của tự động hoá

Tự động hoá các quá trình sản xuất cho phép cải thiện điều kiện sản xuất Cácquá trình sản xuất sử dụng quá nhiều lao động sống rất dễ mất ổn định về giờ giấc, vềchất lượng gia công và năng suất lao động, gây khó khăn cho việc điều hành và quản

Trang 8

lý sản xuất Các quá trình sản xuất tự động hoá cho phép loại bỏ các nhược điểm trên.Đồng thời, tự động hoá đã thay đổi hẳn tính chất lao động, cải thiện điều kiện làm việccủa công nhân, nhất là các khâu độc hại, nặng nhọc có tính lặp đi lặp lại và nhàm chán,khắc phục dần sự khác nhau giữa lao động trí óc và chân tay.

Tự động hoá các quá trình sản xuất cho phép đáp ứng cường độ cao của sản xuấthiện đại Với các loại sản phẩm có số lượng rất lớn (hàng tỷ cái trong một năm) nhưđinh, bóng đèn điện, khoá kéo v.v thì không thể sử dụng các quá trình sản xuất thủcông để đáp ứng sản lượng yêu cầu với giá thành nhỏ nhất

Tự động hoá các quá trình sản xuất cho phép thực hiện chuyên môn vàhoán đổi sản xuất Chỉ có một số rất ít sản phẩm phức tạp là được chế tạohoàn toàn từ một nhà sản xuất Thông thường một hãng sẽ sử dụng nhiều nhàthầu để cung cấp các bộ phận riêng rẽ cho mình, sau đó tiến hành liên kết,lắp ráp thành sản phẩm tổng thể Các sản phẩm phức tạp như ô tô, máy bayv.v nếu chế tạo theo phương thức trên sẽ có rất nhiều ưu điểm Các nhàthầu sẽ chuyên sâu với sản phẩm của mình Việc nghiên cứu, cải tiến chỉphải thực hiện trong một vùng chuyên môn hẹp, vì thế sẽ có chất lượng caohơn, tiến độ nhanh hơn Sản xuất của các nhà thầu có điều kiện thành sảnxuất hàng khối Do một nhà thầu tham gia vào quá trình sản xuất một sảnphẩm phức tạp nào đó có thể đóng vai trò như một nhà cung cấp cho nhiềuhãng khác, nên khả năng tiêu chuẩn hoá các sản phẩm là rất cao Điều nàycho phép áp dụng nguyên tắc “hoán đổi” - một trong các điều kiện cơ bảndẫn tới sự hình thành dạng sản xuất hàng khối khi chế tạo các sản phẩm phứctạp, số lượng ít Tuy nhiên, cũng không nên đề cao tầm quan trọng của tiêuchuẩn hoá Không có tiêu chuẩn hoá trong sản xuất chỉ có thể gây cản trởcho việc hoán chuyển ở một mức độ nhất định, làm tăng tiêu tốn thời giancho các quá trình sản xuất các sản phẩm phức tạp chứ không làm cho các quátrình này không thể thực hiện được Có thể nói tự động hoá giữ một vai tròquan trọng trong việc thực hiện tiêu chuẩn hoá bởi chỉ có nền sản xuất tựđộng hoá mới cho phép chế tạo các sản phẩm có kích cỡ và đặt tính khônghoặc ít thay đổi với số lượng lớn một cách hiệu quả nhất

Tự động hoá quá trình sản xuất cho phép thực hiên cạnh tranh và đápứng điều kiện sản xuất Nhu cầu về sản phẩm sẽ quyết định mức độ áp dụng

Trang 9

tự động hoá cần thiết trong quá trình sản xuất Đối với các sản phẩm phứctạp như tàu biển, giàn khoan dầu, và các sản phẩm có kích cỡ, trọng lượngrất lớn khác, số lượng sẽ rất ít Thời gian chế tạo kéo dài vài tháng đến vàinăm Khối lượng lao động rất lớn Việc chế tạo chúng là không hiệu quả vàkhông nên Mặt khác các sản phẩm như bóng đèn điện, ô tô, các loại dụng cụđiện dân dụng thường có nhu cầu rất cao, tiềm năng thị trường lớn, nhưng lạiđược rất nhiều hãng chế tạo Trong nhiều trường hợp, lợi nhuận cận biên củamột đơn vị sản phẩm là rất bé Chỉ có sản xuất tập trung với số lượng lớntrên các dây chuyền tự động, năng suất cao mới có thể làm giá thành sảnphẩm thấp, hiệu quả kinh tế đạt được cao Sử dụng các quá trình sản xuất tựđộng hoá trình độ cao trong những trường hợp này là rất cần thiết Chính yếu

tố này là một tác nhân tốt kích thích quá trình cạnh tranh trong cơ chế kinh tếthị trường Cạnh tranh sẽ loại bỏ các nhà sản xuất chế tạo ra các sản phẩm cóchất lượng thấp, giá thành cao Cạnh tranh bắt buộc các nhà sản xuất phải cảitiến công nghệ, áp dụng tự động hoá các quá trình sản xuất để tạo ra sảnphẩm tố hơn với giá rẽ hơn Có rất nhiều ví dụ về các nhà sản xuất không cókhả năng hoặc không muốn cải tiến công nghệ và áp dụng tự động hoá sảnxuất nên dẫn tới thất bại trong thương trường

* Với những vai trò và ý nghĩa hết sức to lớn như vậy cho nên việc ứng dụng tựđộng hoá vào các quá trình sản xuất đang ngày càng được nhiều công ty, nhà máytrong nước sử dụng rộng rãi Nó giữ một vai trò quan trọng trong việc thực hiện tíêuchuẩn hoá bởi chỉ có nền sản xuất tự động hoá mới cho phép chế tạo ra các sản phẩm

có kích cỡ, đặc tính không hoặc ít thay đổi với số lượng lớn một cách hiệu quả nhất.Đồng thời cạnh tranh bắt buộc các nhà sản xuất phải cải tiến công nghệ, áp dụng tựđộng hoá vào các quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm tốt hơn, số lượng nhiều hơnvới giá thành rẽ hơn

* Khâu phân loại là công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất sản phẩm, nótrực tiếp quyết định sự đồng đều của mỗi loại sản phẩm Không những vậy quá trìnhphân loại còn phải đáp ứng được yêu cầu năng suất của dây chuyền thiết bị sản xuấtkhác, do đó việc ứng dụng tự động hóa vào quá trình này là thật sự cần thiết

Trang 10

Một số hình về hệ thống sản xuất tự động trong công nghiệp

a) Băng tải nạp liệu cầu cảng

b)Chiết rót định lượng bán tự động c) Hệ thống phân loại sản phẩm

Trang 11

Hình 1.3: Hệ thống sản xuất bia

1.2 GIỚI THIỆU NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI

Trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, cơ khí nói chung đóngmột vai trò rất quan trọng Nhưng ngày nay với sự phát triển vượt bậc của công nghệ,

cơ khí truyền thống không thể mang lại hiệu quả cao trong nền kinh tế thị trường.Chính vì vậy đã xuất hiện một xu hướng mới trong công nghệ, đó là sự kết hợp giữa

cơ khí, công nghệ thông tin và điện tử để hình thành một lĩnh vực mới

Lĩnh vực Cơ khí tự động hóa Trên thế giới, cơ khí tự động hoá để xuất hiện từ khálâu và phát triển rất mạnh, nhưng tại Việt Nam đây vẫn là một lĩnh vực mới và đangtrong quá trình hình thành và phát triển Một trong những sản phẩm của cơ điện tử - tựđộng hoá là những hệ thống phân loại và đếm sản phẩm được ứng dụng rộng rãi trongcông nghiệp Bên cạnh đó nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng Nắm được tầm quantrọng của hệ thống nhóm thực hiện nghiên cứu, thiết kế và chế tạo một mô hình hệthống phân loại và đếm sản phẩm Sản phẩm cũng như kết quả đạt được ngày hôm naytuy không có gì lớn lao nhưng đó là những thành quả bước đầu trước khi chúng em ratrường bước vào một cuộc sống mới

Trang 12

CHƯƠNG II THIẾT KẾ HỆ THỐNG CẤP PHÔI VÀ PHÂN LOẠI SẢN PHẨM

2.1 PHÂN TÍCH LỰA CHỌN CÁC PHƯƠNG ÁN

a)Các phương án nạp liệu:

-Phương án 1:Băng chuyền di chuyển phôi

-Phương án 2:Pittông đẩy hộp đến và hệ thống rót nạp liệu

Chọn phương án 1

b)Các phương án vận chuyển:

-Phương án 1:Vận chuyển bằng bằng chuyền

-Phương án 2:Vận chuyển bằng Pittông

-Phương án 3:Vận chuyển bằng cánh tay Robot

Chọn phương án 1

c)Các phương án phđn loại:

-Phương án 1:Phân loại theo tính từ

-Phương án 2:Phân loại theo màu sắc

-Phương án 3:Phân loại theo khối lượng

-Phương án 3:Phân loại theo kích thước

Chọn phương án 1

2.2 SƠ ĐỒ TOÀN HỆ THỐNG

Trang 14

Ma sát sinh ra giữa hai bề mặt được xác định công thức: F=n*f

Các thông số bộ truyền đai

-Lực căng dây ban đầu Fo

Ngày đăng: 28/08/2017, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w