II Các công cụ giao dịch trên thị trường trái phiếu quốc tế: 1 Trái phiếu có lãi suất cố địnhstraight fixed-rate bond: - Trái phiếu có lãi suất cố định là loại trái phiếu thông thường, c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM
MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
BÀI THUYẾT TRÌNH
THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ
HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU QUỐC
TẾ CỦA VIỆT NAM
GVHD: Nguyễn Thị Hồng Vinh
Trang 2HỌ VÀ TÊN MSSV NHIÊM VỤ
1
Tìm tài liệu phần các công cụ giao dịch trên thị trường trái phiếu quốc tế Tổng hợp word,thuyết trình phần 1
2
Tìm tài liệu, trình bày word phần thị trường Eurobond và xếp hạng tín nhiệm
3
Tìm tài liệu, trình bày word phần đặc điểm và tổng hợp powerpoint
4
Tìm tài liệu, trình bày chỉnh sửa word, làm trang bìa và power point phần 2
5
Tìm tài liệu, tổng hợp word và thuyết trình phần 2
6
Tìm, trình bày, chỉnh sửa word, nội dung phát hành trái phiếu quốc tế Việt Nam
Trang 3MỤC LỤC
I) Khái niệm và đặc điểm 4
1) Khái niệm 4
2) Phân loại 4
II) Các công cụ giao dịch trên thị trường trái phiếu quốc tế 5
1) Trái phiếu có lãi suất cố định(straight fixed-rate bond) 5
2) Trái phiếu có lãi suất thả nổi (floating-rate note, floating coupon bond) 5
3) Trái phiếu không trả lãi(zero coupon bond) 5
4) Trái phiếu chuyển đổi (convertible bonds) 6
5) Trái phiếu song tệ (dual currency bond) 6
III) Thị trường Eurobond 6
1) Sự hình thành thị trường Eurobond 6
2) Nét đặc trưng của Eurobond 7
3) Tổ chức thị trường Eurobond 7
4) Phát hành Eurobond 8
5) Thủ tục thanh toán Eurobond 8
IV) Xếp hạng tín nhiệm trên thị trường trái phiếu quốc tế 8
PHẦN 2: HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 9 I) Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế lần đầu tiên 2005 9
1) Thực trạng phát hành 9
2) Nguyên nhân của sự phát hành thành công là do 10
3) Kết quả phát hành 11
II) Phát hành trái phiếu quốc tế năm 2010 11
1) Thực trạng phát hành 11
2) Nguyên nhân của mức lãi suất cao 12
3) Kết quả phát hành 13
III) Phát hành trái phiếu 1 tỷ USD năm 2014 13
Trang 4PHẦN 1: THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ I) Khái niệm và đặc điểm:
1) Khái niệm:
- Thị trường trái phiếu là thị trường mà các trái phiếu được phát hành và giao dịch xuyên các biên giới quốc gia
- Là kênh huy động vốn, vừa bổ sung vừa cạnh tranh trực tiếp với thị trường trái phiếu nội địa truyền thống
2) Phân loại:
Về cơ bản có 2 loại: thị truờng trái phiếu Eurobond và thị trường trái phiếu nước ngoài (foreign bond)
Thị trường trái phiếu Eurobond:
Là thị trường mua bán trái phiếu ngoại biên mà chủ thể phát hành là người trong nước hay nước ngoài đều được Eurobond là trái phiếu được phát hành bằng đồng tiền khác với đồng tiền của nơi mà nó được phát hành Ví dụ: công ty Pháp phát hành trái phiếu tính bằng đồng Bảng Anh ở Đức, Thụy Sỹ đều được gọi là Eurobond
Đặc điểm:
- Trái phiếu Eurobond được phát hành cùng lúc ở nhiều quốc gia khác nhau, nó đã trở thành loại trái phiếu bao trùm để huy động vốn đồng thời từ các nền kinh tế trên thế giới
- Việc phát hành trái phiếu Eurobond cho phép chọn lựa loại đồng tiền nên các chủ nợ có thể yêu càu được hoàn trả bằng một trong những đồng tiền khác nhau, nhờ
đó sẽ giảm được rủi ro tỷ giá
- Eurobond được phát hành bằng nhiều đồng tiền khác nhau nên cũng được gọi tên theo loại tiền được ghi trên tờ trái phiếu
Ví dụ: Trái phiếu được phát hành bằng đồng Dollar Mỹ thì được gọi là
“Eurodollar bond”
- Eurobond thường là trái phiếu vô danh nhờ đó mà việc chuyển nhượng trở nên
dễ dàng hơn Tuy nhiên, Eurobond cũng là trái phiếu ký danh, chỉ có người đăng ký mới được thanh toán tiền
Trang 5- Hầu hết trái phiếu Eurobond được phát hành bởi các công ty có tín nhiệm cao AAA hoặc AA (chiếm 80%) và thường được thanh toán bằng đồng Dollar Mỹ
Trái phiếu nước ngoài:
Là trái phiếu do người nước ngoài (phi cư trú) phát hành tại một quốc gia bằng chính đồng tiền của quốc gia đó
Ví dụ: Công ty Anh phát hành trái phiếu bằng đồng yên Nhật ở sở giao dịch Tokyo
Đặc điểm:
- Chủ thể cho vay sẽ chịu rủi ro về tỷ giá khi thu tiền về từ các đợt phát hành
- Trái phiếu nước ngoài chịu sự điều tiết của chính phủ nước sở tại vì nó khá giống với trái phiếu nội địa
II) Các công cụ giao dịch trên thị trường trái phiếu quốc tế:
1) Trái phiếu có lãi suất cố định(straight fixed-rate bond):
- Trái phiếu có lãi suất cố định là loại trái phiếu thông thường, có ghi rõ thời gian đáo hạn và mức lãi suất cố định mà người giữ trái phiếu được thanh toán định kỳ trong thời gian đáo hạn của trái phiếu Trái phiếu có lãi suất cố định chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số trái phiếu được phát hành trên thị trường quốc tế
- Đối với bên phát hành lẫn bên mua, trái phiếu có lãi suất cố định được yên thích
vì nó có kỳ hạn trả lãi với dòng tiền thanh toán được biết trước
2) Trái phiếu có lãi suất thả nổi (floating-rate note, floating coupon bond):
Trái phiếu có lãi suất thả nổi là loại trái phiếu có lãi suất được tính theo một giá trị tham chiếu nhất định Thông thường giá trị tham chiếu đó là lãi suất cho vay ngắn hạn các đồng tiền trên thị trường liên ngân hàng London do hiệp hội ngân hàng Anh tính toán và công bố Lãi suất coupon của trái phiếu bao gồm lãi suất tham chiếu trên thị trường tiền tệ cộng với biên độ phản ánh mức độ tín nhiệm của chủ thể phát hành
Trang 63) Trái phiếu không trả lãi(zero coupon bond):
- Trái phiếu không trả lãi là loại trái phiếu không trả lãi coupon trong suốt thời gian đáo hạn của trái phiếu Khi đáo hạn chủ thể phát hành thanh toán lại tiền cho nhà đầu tư theo mệnh giá được ghi trên trái phiếu Thông thường, trái phiếu này được bán cho nhà đầu tư quốc tế với giá thấp hơn mệnh giá
- Đối với bên phát hành, trái phiếu không trả lãi là một công cụ tài trợ lý tưởng cho các dự án không có dòng tiền thu về trong một số năm nhất định Tuy nhiên toàn
bộ số nợ từ việc phát hành trái phiếu tập trung vào một thời điểm nên dễ dẫn tới rủi ro tín dụng Vì thế thị trường này thường chỉ giới hạn cho một số chủ thể phát hành nhất định có mức tín nhiệm được xếp hạng cao
4) Trái phiếu chuyển đổi (convertible bonds):
- Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu cho phép nhà đầu tư có thể chuyển từ việc nắm giữ trái phiếu sang nắm giữ tài sản khác theo một tỷ lệ chuyển đổi được xác định vào thời điểm phát hành trái phiếu Tài sản có thể là cổ phiếu của công ty phát hành trái phiếu hay cổ phiếu của công ty con thuộc sở hữu của công ty phát hành trái phiếu
- Trái phiếu chứng quyền (bond with warrants) có đặc điểm giống như trái phiếu chuyển đổi và kèm theo một quyền chọn mua( call option) được giao dịch riêng biệt gọi là chứng quyền Chứng quyền kèm theo trái phiếu có thể là chứng quyền cổ phiếu, chứng quyền trái phiếu hay chứng quyền hàng hóa
5) Trái phiếu song tệ (dual currency bond):
Trái phiếu song tệ là loại trái phiếu có lãi suất cố định mà việc thanh toán tiền lãi trái phiếu hoặc vốn gốc của trái phiếu được thực hiện bằng loại tiền tệ khác với đồng tiền mà trái phiếu được phát hành
Trang 7III) Thị trường Eurobond:
1) Sự hình thành thị trường Eurobond:
- Thị trường Eurobond bắt nguồn từ sự hình thành từ các khoản tiền gửi bằng đô
la Mỹ nằm ngoài nước Mỹ Điều này diễn ra vào trước chiến tranh thế giới thứ hai nhưng với qui mô không lớn cũng không ảnh hưởng mạnh đến thị trường tài chính thế giới
- Đến những năm 1950 đồng đô la Mỹ được sử dụng chủ chốt trong thanh toán quốc tế Ban đầu Nga và các nước cộng sản đều có tài khoản đô la Mỹ được mở tại New York để thuận lợi cho việc giao dịch thương mại quốc tế nhưng do lo sợ rủi ro mang lại từ cuộc chiến tranh lạnh giữu phương Tây và phương Đông nên các nước này đã chuyển tiền gửi của họ sang ngân hàng London và các trung tâm tài chính tại châu Âu hình thành nên các khoản tiền gửi bằng đô la Mỹ nằm ngoài nước Mỹ thêm vào đó một yếu tố nữa góp phần hình thành nên thị trường vốn và tiền tệ ngoại biên là việc chính phủ Mỹ ban hành quy chế quy định mức trần lãi suất áp dụng cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng tại Mỹ chính điều này đã thúc đẩy dòng vốn bằng đô la
Mỹ chảy ra ngoài nước Mỹ
- Sự hình thành thị trường Eurobond là một phần kết quả của đạo luật thuế cân bằng lợi tức do chính phủ Mỹ áp dụng vào năm 1963 thuế này đánh lên thu nhập từ đầu tư chứng khoán ở nước ngoài của công dân Mỹ và đầu tư vào các trái phiếu do người nước ngoài phát hành tại Mỹ nhằm hạn chế dòng vốn ra nước ngoài Trước tình hình đó các chủ thể đi vay đã phát hành trái phiếu để vay vốn bằng USD ở ngoài nước
Mỹ từ các nhà đầu tư quốc tế Các trái phiếu này được gọi là Eurobond
- 1965 chính phủ Mỹ đưa thêm một chương trình giới hạn tín dụng nước ngoài nhằm giảm bớt nguồn vốn chảy ra FCRP –Hạn chế lượng tín dụng mà các ngân hàng
Mỹ cấp cho người nước ngoài chính biện pháp này buộc người nước ngoài phải tìm đến thị trường Eurobond
- 1970 nhiều nước châu Âu ban hành các biện pháp kiểm soát vốn trong nước hình thành nên thị trường Eurobond với các đồng tiền phát hành đa dạng
- Theo tiến trình tự do hóa các biện pháp điều tiết của Mỹ và quốc gia khác dần bãi bỏ nhưng thị trường Eurobond vẫn ngày một phát triển vì không chịu bất cứ ràng buột nào từ chính phủ nên vẫn là kênh tài trợ vốn dài hạn hấp dẫn đối với người đi vay cũng như các nhà đầu tư quốc tế
Trang 82) Nét đặc trưng của Eurobond:
Được phát hành dưới dạng chi phiếu hoặc cupon thanh toán hàng năm Một vài loại Eurobond có khả năng chuyển sang một số lượng nhất định cổ phần thường Eurobond có một vài điều khoản bảo vệ là có một lợi thế cho các nhà phát hành Một vài loại Eurobond gọi là giấy nhận nợ có lãi suất thả nổi (FRNS) có lãi suất được điều chỉnh theo thời gian phụ thuộc vào lãi suất thịnh hành của thị trường
3) Tổ chức thị trường Eurobond:
Thị trường sơ cấp:
Các nhà quản trị đa quốc gia sẽ bán trái phiếu cho một nhóm bảo lãnh phát hành Eurobond được bảo lãnh phát hành bởi một nhóm các ngân hàng đầu tư đa quốc gia và diễn ra cùng một lúc ở nhiều nước khác nhau ,tạo thành một dãi rộng các nguồn quỹ
để thu hút vốn
Thị trường thứ cấp:
- Sau khi Eurobond được phát hành trên thị trường sơ cấp các thành viên của nhóm bán có thể bán lại các trái phiếu này cho các nhà đầu tư khác trên thị trường thứ cấp
- Thị trường thứ cấp là thị trường phi tập trung OTC Trong đó thành viên giao dịch là các nhà tạo thị trường và các nhà môi giới liên lạc với nhau qua hệ thống viễn thông Các trung tâm giao dịch lớn như London Zurich, Luxembourg, Frankfurt và Amsterdam
- Các nhà tạo thị trường là những người sẵng sàng mua vào và bán ra các Eurobond cho chính họ bằng cách yết giá hai chiều lợi nhuận có được chủ yếu từ chênh lệch giá Các nhà môi giớ trên thị trường thứ cấp là những người nhận lệnh mua, lệnh bán từ các nhà tạo thị trường và cố gắng tìm các đối tác để thực hiện giao dịch đối ứng
- Năm 1969 hiệp hội các nhà kinh doanh trái phiếu quốc tế AIBD được thành lập nhằm tạo khuôn khổ các quy định để vận hành thị trường Eurobond (OTC ) năm 1991
tổ chức lại thành hiệp hội thị trường chứng khoán quốc tế (ISMA )-đây là một cơ quan
tự quản có trụ sở đặt tại Zurich tất cả các nhà tạo thị trường và nhà môi giới Eurobond đều là thành viên của ISMA có nghĩa vụ phải báo cáo những điều khoản trong các giao dịch thông qua hệ thống giao dịch và xác nhận điện tử để đảm bảo giá cả thị trường được minh bạch
Trang 94) Phát hành Eurobond:
Bước 1: Người có nhu cầu vay vốn chọn một ngân hàng đầu tư làm người quản lí
chính
Bước 2: Người quản lí chính mời thêm các ngân hàng khác tham gia để thành lập
nhóm quản lí
Bước 3: Nhóm quản lí cùng với một số ngân hàng khác làm người bảo lãnh phát
hành trái phiếu và tổ chức một nhóm bán trái phiếu để bán trái phiếu cho các nhà đầu
tư công chúng
Bước 4: Hoàn tất giao dịch phát hành kết thúc đợt phát hành nhà phát hành nhận
được tiền bán trái phiếu sau khi trừ đi mọi chi phí liên quan
5) Thủ tục thanh toán Eurobond:
- Sau khi phát hành trên thị trường sơ cấp các Eurobond được giao dịch trên thị trường thứ cấp thông qua hệ thống thanh toán và chuyển giao quyền sở hữu giữa các thành viên thị trường hai hệ thống thanh toán quốc tế đã được thiết lập năm 1969 và
1970 là Euroclear và Cedel đến năm 2000 thì hệ thống clearstream đi vào hoạt động
Trang 10IV) Xếp hạng tín nhiệm trên thị trường trái phiếu quốc tế:
- Thông thường trước đợt phát hành trái phiếu quốc tế các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế tiến hành đánh giá hệ số tín nhiệm để xác định mức độ tin cậy của các quốc gia hay tổ chức phát hành về rủi ro đầu tư và khả năng hoàn trả các khoản vay Đây là cơ sở để xác định chi phí huy động vốn của nhà phát hành trên thị trường trái phiếu quốc tế
- Thường thì chủ thể phát hành không được xếp hạng tín nhiệm cao hơn chính phủ của quốc gia của chủ thể đó cư trú
- Standard & poor’s,Fitch ratings và Moody’s investor service là ba tổ chức xếp hạng tín nhiệm đã hoạt động nhiều năm trên thị trường thế giới
Trang 11PHẦN 2: HOẠT ĐỘNG PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ CỦA VIỆT
NAM
- Nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước ngày càng lớn Bên cạnh việc khai thác nguồn vốn đầu tư trong nước, huy động vốn bằng con đường phát hành trái phiếu quốc tế giúp cho các doanh nghiệp có một hướng đi khác
để thỏa mãn nhu cầu về vốn Tuy nhiên không phải bất kì doanh nghiệp nào cũng có thể phát hành trái phiếu Rào cản lớn nhất đối với doanh nghiệp Việt Nam chính là uy tín trên trường quốc tế, hình ảnh và thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam chưa
đủ sức thuyết phục các nhà đầu tư mua trái phiếu của họ Phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam ra thị trường vốn quốc tế sẽ được thực hiện theo các hình thức: Chính phủ phát hành về cho vay lại, Chính phủ bảo lãnh cho doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường vốn quốc tế và doanh nghiệp tự trực tiếp phát hành không phải bảo lãnh của Chính phủ
- Một số dự án được vay lại vốn trái phiếu Chính phủ như: Nhà máy lọc dầu Dung Quất, dự án mua tàu vận tải của Tổng công ty Hàng Hải VN, dự án thủy điện Xekaman 3 của Tổng công ty Sông Đà,…
Trang 12I) Việt Nam phát hành trái phiếu quốc tế lần đầu tiên 2005:
1) Thực trạng phát hành:
- Sau khi Trung Quốc lần đầu tiên phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường
vốn thế giới, Bộ Tài chính Việt Nam đã học tập kinh nghiệm xây dựng đề án phát hành trái phiếu quốc tế với sự đánh giá hệ số tín nhiệm quốc gia của 3 công ty xếp hạng tín nhiệm uy tín trên thế giới là Standard & Poor’s, Moody’s và Fitch
- Năm 2005, thời cơ đã đến khi các yếu tố “thiên-thời-địa-lợi” chín muồi: Kinh
tế trong nước phát triển, nợ nước ngoài ở mức an toàn, thị trường tài chính thế giới ổn định cộng với nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngày một lớn
- Ngày 27/10/2005, Chính phủ Việt Nam lần đầu tiên chính thức phát hành ra thị
trường vốn quốc tế trái phiếu quốc tế kì hạn 10 năm tại New York Bảo lãnh phát hành chính là Ngân hàng Credit Suisse First Boston của Thụy Sỹ
- Dự định ban đầu, Việt Nam sẽ phát hành ở mức 500 triệu USD với lãi suất
7,5%/năm nhưng do nhà đầu tư đăng ký lên đến 4,5 tỷ USD, Việt Nam đã quyết định phát hành 750 triệu USD, giá bán 98,223% so với mệnh giá với mức lãi suất 7,125% Trong đó, số lượng trái phiếu được các nhà đầu tư nắm giữ tính theo khu vực (châu Á 38%, châu Âu 32% và Mỹ 30%) Phân theo đối tượng các nhà đầu tư: Các quỹ đầu tư tài chính là đối tượng quan tâm nhiều nhất đến trái phiếu chính phủ Việt Nam (chiếm tới 51%), còn lại là các ngân hàng (25%), các công ty bảo hiểm (17%) và các tổ chức tài chính khác (7%) Trong khi các công ty bảo hiểm chính là những nhà kinh doanh rủi ro lại chỉ nắm giữ 17% số lượng trái phiếu quốc tế của Chính phủ Việt Nam phát hành
- Mức lãi suất 7,125%/năm cho trái phiếu thời hạn 10 năm là một mức lãi suất
rất có lợi cho Việt Nam bởi nó thấp hơn mức lãi suất trái phiếu của các nước có cùng, thậm chí cao hơn mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam như Philippines, Indonesia – những nước có mặt trên thị trường trái phiếu quốc tế từ lâu