Thêm nữa, với vai trò làm trung gian thanh toán, ngân hàng đã thực hiện các dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế từ đó thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển hàng hóa, luân chuyển vốn trong
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH - -
TIỂU LUẬN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH & CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH
ĐỀ TÀI: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
GVHD: Ths Nguyễn Phạm Thi Nhân Lớp: D07
5 Lê Thị Thanh Thủy
6 Khưu Quốc Tiến
Trang 2NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 2
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
Soạn câu hỏi đề tài 2
Soạn câu hỏi đề tài 7,8
Soạn câu hỏi đề tài 3
Soạn câu hỏi đề tài 5
Thuyết trình
Thuyết trình
Làm Slide Soạn phần trả lời câu hỏi
Trang 3NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 3
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 4
DANH MỤC VIẾT TẮT
BẢNG 2 Tốc độ tăng trưởng của các loại hình Tổ chức
Tín dụng tại Việt Nam năm 2015
18
Trang 5NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 5
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG I: NGÂN HÀNG TRUNG GIAN 8
1 Khái niệm 8
2 Đặc điểm 8
3 Vai trò 8
4 Phân biệt bốn loại hình ngân hàng 8
CHƯƠNG II: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11
1 Khái niệm 11
2 Đặc điểm 11
3 Phân loại NHTM 11
4 Chức năng của NHTM 11
4.1 Trung gian tín dụng 11
4.2 Trung gian thanh toán 12
4.3 Chức năng tạo tiền 12
5 Những nghiệp vụ của ngân hàng thương mại 12
5.1 Nghiệp vụ tài sản nợ (tạo nguồn) 12
5.2 Nghiệp vụ tài sản có (sử dụng vốn) 13
5.3 Nghiệp vụ trung gian hoa hồng 13
6 Các văn bản pháp luật chỉnh điều chỉnh hoạt động NHTM hiện nay 13
6.1 Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010 14 6.2 Nghị định số Số: 59/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại 14
7 Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 16
7.1 Rủi ro tín dụng 16
7.2 Rủi ro lãi suất 16
Trang 6NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 6
7.3 Rủi ro nguồn vốn 16
7.4 Rủi ro hối đoái 17
7.5 Rủi ro trong thanh toán 17
7.6 Rủi ro thuần tuý 17
8 Thực trạng hoạt động ngân hàng thương mại tại Việt Nam 17
8.1 Tình hình các ngân hàng thương mại năm 2015 17
8.2 Vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại 18
8.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 19
9 Vai trò của ngân hàng thương mại đối với thị trường tài chính của việt nam 19
9.1 NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế 19
9.2 NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường 20
9.3 NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế 20
9.4 NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế 20
CHƯƠNG III: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN - SACOMBANK 21
1 Giới thiệu chung và tình hình kinh doanh của Ngân hàng 21
2 Tình hình hoạt động: 21
3 Các nghiệp vụ của Sacombank 22
3.1 Nghiệp vụ nợ 22
3.2 Nghiệp vụ có 25
4 Vai trò của Sacombank trong hệ thống NHTM Việt Nam 28
TỔNG KẾT 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 7NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 7
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế của Việt Nam đang có những bước chuyển mình đáng kể Năm 2015
là một năm có nhiều dấu ấn quan trọng với đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt phải kể đến việc tham gia Hiệp định TTP và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) Đây là cơ hội rất tốt cho việc hội nhập quốc tế nhưng cũng là thách thức đặt ra cho Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng phải cạnh tranh gay gắt hơn với doanh nghiệp của nước ngoài, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ đứng trước nguy cơ bị thâu tóm Vì vậy việc huy động các nguồn vốn để phát triển nền kinh tế là một trong những vấn đề quan trọng cần được giải quyết Với vai trò là trung gian cung cấp vốn cho nền kinh tế, cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường, hệ thống ngân hàng ngày càng chứng tỏ được vị của mình trong nền kinh tế, đặc biệt là các Ngân hàng Thương Mại Tuy vậy, hệ thống Ngân hàng Thương Mại ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế bởi những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau Với đề tài nghiên cứu về Ngân hàng Thương Mại, nhóm đã cố gắng khái quát sơ nét thực trạng hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam, đồng thời liên hệ thực tiễn để qua đó phần nào khắc họa về bức tranh ngân hàng thương mại, củng
cố thêm kiến thức cho các bạn sinh viên khác
Với đề tài Ngân hàng Thương Mại, phần nội dung nghiên cứu của nhóm bao
gồm:
Chương1: Ngân hàng trung gian
Chương 2: Ngân hàng Thương Mại
Chương 3: Liên hệ thực hiễn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín Sacombank
Do những hạn chế về kiến thức thực tế cũng như nguồn tài liệu, bài tiểu luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Nhóm chúng em rất mong sẽ nhận được ý kiến nhận xét, đóng góp từ phía cô và các bạn để hoàn thiện hơn nữa đề tài của nhóm
Trân trọng cảm ơn
Trang 8NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 8
CHƯƠNG I: NGÂN HÀNG TRUNG GIAN
1 Khái niệm
Là một tổ chức tài chính và trung gian tài chính chấp nhận tiền gửi và định kênh những tiền gửi đó vào các hoạt động cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thị trường vốn Ngân hàng là kết nối giữa khách hàng có thâm hụt vốn và khách hàng có thặng dư vốn
Thêm nữa, với vai trò làm trung gian thanh toán, ngân hàng đã thực hiện các dịch vụ thanh toán cho nền kinh tế từ đó thúc đẩy nhanh quá trình luân chuyển hàng hóa, luân chuyển vốn trong xã hội, tiết kiệm chi phí thanh toán cho từng cá nhân, doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả của toàn nền kinh tế Đồng thời các ngân hàng cùng giám sát các hoạt động kinh tế góp phần tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, tạo được sự ổn định
Ngoài ra, NHTG còn là công cụ thực hiện CSTT của NHTW Để thực hiện được CSTT của NHTW phải sử dụng các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô Phần lớn công cụ của CSTT chỉ được thực hiện có hiệu quả với sự hợp tác tích cực của NHTG như việc chấp hành quy định dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt và việc nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư
Thông qua hệ thống các NHTG, NHTM phát hành thêm tiền vào lưu thông, thực hiện chính sách tín dụng, chính sách tỷ giá, chính sách lãi suất của NN để điều tiết các hoạt động của nền kinh tế
Hệ thống các NHTG trực tiếp cấp tín dụng cho nền kinh tế, tạo ra phương tiện thanh toán để dễ lưu thông hàng hóa và các dịch vụ
Vì vậy hoạt động của các NHTG ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng truỏng của nền kinh tế, đến sự ổn định của tiền tệ và ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế-xã hội Mặt khác, NHTG lại chịu sự quản lý của NHTW bằng các quy chế cụ thể và các hoạt động phải tuân theo chính sách tiền tệ đã được vạch ra và định hướng của NHTW
4 Phân biệt bốn loại hình ngân hàng
BẢNG 1 Phân biệt 4 loại hình ngân hàng trung gian
Chính sách xã hội (NHCSXH)
Trang 9NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 9
trường vốn cho khách hàng, mà khách hàng ở đây
nghiệp, bao gồm
cả chính phủ các nước
Hoạt động của Ngân hàng Phát triển không vì
nhuận; tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%;
không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi; được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
NHCSXH là ngân hàng tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại trên cơ sở tổ
nhằm mục dích thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia và cam kết trước cộng đồng quốc tế về xóa đói giảm nghèo
-Nghiệp vụ đầu
tư
nghiên cứu -Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn -Nghiệp vụ quản
lý đầu tư -Nghiệp vụ nhà môi giới chính
-Huy động vốn
-Tín dụng đầu tư
-Tín dụng xuất khẩu
-Bảo lãnh -Hỗ trợ sau đầu tư
-Vốn ODA và quỹ xoay vòng
-Cấp thác và cho vay vốn ủy thác
nghèo và các đối tượng chính sách -Nhận tiền gửi tiết kiệm
-Dịch vụ thanh toán ngân quỹ -Nhận vốn ủy thác của các tổ chức, cá
ngoài nước -Phát hành thẻ ATM cho học sinh, sinh viên -Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh
chính phủ trong phát hành chứng khoán
-Môi giới/kết nối giao dịch, tạo thị trường cho chứng khoán phát hành
Chính phủ trong thực hiện tài trợ phát triển
-Đóng góp vào quá trình xoá đói giảm nghèo thông qua các khoản vay cho các công trình xây dựng thuỷ lợi
có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng
ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo góp phần
Trang 10NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 10
các thương vụ M&A, các thương
vụ mua lại cổ phần riêng và tái cấu trúc doanh nghiệp
tầng cho các làng nghề, xây dựng cơ
sở hạ tầng kinh tế
xã hội cho các vùng sâu, vùng xa
và hỗ trợ xuất khẩu
thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn liền với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm
an sinh xã hội, vì mục tiêu dân giàu
- nước mạnh - dân chủ - công bằng- văn minh
-Ngân hàng Phát
Nam (VDB)
-Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam (VBSP)
Trang 11NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 11
CHƯƠNG II: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1 Khái niệm
Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM
Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính
Ở Việt Nam: NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính
mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch
vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội
2 Đặc điểm
- Là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận
- Hoạt động kinh doanh của NHTM được phân vào nhóm hoạt động kinh doanh có mức rủi ro cao
- Sự tồn tại của NHTM phụ thuộc nhiều vào sự tin tưởng của khách hàng
- Các NHTM chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau
3 Phân loại NHTM
Tại Việt Nam, nếu phân loại theo đối tượng ngành kinh doanh, thì hệ thống NHTM bao gồm:
Ngân hàng công thương Việt Nam: thực hiện kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch
vụ ngân hàng đối với các thành phần kinh tế chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp và dịch vụ,…
Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam: thực hiện kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ
ngân hàng đối với các thành phần kinh tế chủ yếu trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
Ngân hàng ngoại thương Việt Nam: kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng
đối với các thành phần kinh tế chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại
Thêm vào đó cũng có thể coi ngân hàng đầu tư và phát triển thuộc ngân hàng thương mại Vì trong hoạt động của mình, nó được thực hiện các nghiệp vụ về chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá, bảo lãnh và tái bảo lãnh vay vốn trong và ngoài nước, kinh doanh ngoại hối và thanh toán quốc tế như một NHTM Ngân hàng đầu tư và phát triển có chức năng huy động vốn trung hạn, dài hạn trong nước, ngoài nước và nhận vốn từ ngân sách Nhà nước cho vay cho các dự án phát triển kinh tế, kỹ thuật Nó kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng trong lĩnh vực đầu tư phát triển với khách hàng
4 Chức năng của NHTM
Trang 12NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 12
NHTM một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, mặt khác nó dùng chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với các thành phần kinh tế trong xã hội, hay nói cách khác là một tổ chức đóng vai trò “cầu nối” giữa các đơn vị thừa vốn với các đơn vị thiếu vốn Thông qua sự điều chuyển này, ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, cải thiện mức sống dân cư, ổn định thu chi Chính phủ Đồng thời chức năng này còn góp phần quan trọng trong việc điều hoà lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát Từ đó cho thấy rằng, đây là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại
Nếu như mọi khoản chi trả của xã hội đều được thực hiện bên ngoài ngân hàng thì chi phí thực hiện là rất lớn, bao gồm: chi phí in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền Với sự ra đời của ngân hàng thương mại, phần lớn các khoản chi trả trong hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá dịch vụ của xã hội dần được thực hiện qua ngân hàng, với những hình thức thanh toán phù hợp, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện với công nghệ ngày càng hiện đại hơn Chính nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội ở ngân hàng nên việc lưu thông hàng hoá dịch vụ trở nên nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm hơn Không những vậy, do thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có điều kiện huy động tiền gửi của toàn
xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói riêng tới mức tối đa, tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Xuất phát từ khả năng thay thế lượng tiền giấy bạc trong lưu thông bằng những phương tiện thanh toán khác như séc, uỷ nhiệm chi Chức năng này được thực hiện thông qua nghiệp
vụ tín dụng và đầu tư của hệ thống ngân hàng thương mại, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống dự trữ quốc gia Hệ thống tín dụng là điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế theo hệ
số tăng trưởng vững chắc Mục đích của chính sách dự trữ quốc gia là đưa ra một khối lượng tiền cung ứng phù hợp với chính sách ổn định về giá cả, tăng trưởng kinh tế ổn định và tạo được việc làm.NHNN và các Ngân hàng chuyên doanh trực thuộc Hệ thống NHNN Việt Nam hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa Theo Pháp lệnh Ngân hàng số 38 - LTC/HĐNN8 ngày 24/05/1990 quy định NHTM là: “Tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả
và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”
5 Những nghiệp vụ của ngân hàng thương mại
Ngày nay, hệ thống Ngân hàng Thương mại phát triển mạnh mẽ, tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội Sự đa dạng và phong phú các nghiệp vụ kinh doanh đã làm cho Ngân hàng Thương mại trở thành một tổ chức kinh doanh không thể thiếu trong tiến trình phát triển kinh tế
Ngân hàng thương mại bao gồm 3 nghiệp vụ chính
Là nghiệp vụ hình thành nên các nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, nó được thể hiện bên tài sản nợ của bảng cân đối kế toán Bao gồm các nghiệp vụ:
Huy động tiền gửi: là nguồn vốn có xuất xứ từ bên ngoài, do các cá nhân hoặc tổ chức
gửi vào ngân hàng dưới nhiều hình thức tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác với nhiều mục đích khác nhau theo nguyên tắc có hoàn trả đầy
đủ gốc và lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận, hình thành nên bộ phận chủ yếu trong nguồn vốn hoạt động của ngân hàng
Trang 13NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 13
Vay vốn trên thị trường tài chính và liên ngân hàng Nhà nước: Là quan hệ tín dụng
giữa các ngân hàng trong thị trường liên ngân hàng thông qua các hoạt động như tái chiết khấu, vay qua đêm,… với mục tiêu chủ yếu là tăng khả năng thanh toán cho các ngân hàng
Vốn tự có của ngân hàng: là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất, tùy tính chất sở hữu
khác nhau của các loại hình ngân hàng nên sẽ có các nguồn hình thành vốn tự có khác nhau, thường được hình thành qua hai thành phần là vốn điều lệ và quỹ dự trữ
Là nghiệp vụ tạo ra lợi nhuận và đảm bảo sự an toàn đối với ngân hàng, nó được thể hiện bên tài sản có của bảng cân đối kế toán
Dự trữ bằng tiền: đảm bảo khả năng thanh toán nhưng lại ít hoặc thậm chí không sinh
lời nên thường duy trì chúng ở mức tối thiểu, thường dữ trữ dưới dạng tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng trung ương và các tổ chức tài chính khác
Nghiệp vụ tín dụng: là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của ngân hàng nên chiếm tỷ trọng
lớn nhất trong các nghiệp vụ về sự dụng nguồn vốn Ngân hàng sẽ tiến hành phân phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động, điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, bổ sung vốn cho sản xuất kinh doanh Bao gồm các hình thức cấp tín dụng cho vay, chiết khấu, bao thanh toán và bão lãnh ngân hàng
Đầu tư: có vị trí quan trọng thứ hai sau tín dụng bởi nó mang lại khoản thu nhập lớn và
đáng kể cho ngân hàng, trong đó ngân hàng góp vốn trực tiếp vào các doanh nghiệp dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần hoặc gián tiếp thông qua việc mua bán, nắm giữ các tài sản tài chính trên thị trường
Là các nghiệp vụ ngân hàng phát sinh mà không ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thanh hay sử dụng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng Chủ yếu là các hoạt động dịch vụ và bão lãnh của ngân hàng
Dịch vụ quản lý ngân quỹ: Ngân hàng thực hiện chi hộ, thu hộ, chuyển tiền… cho
khách hàng không nhất thiết phải có tài khoản tại ngân hàng, khách hàng phải trả phí cho ngân hàng
Dịch vụ cam kết ngoại bảng: Hình thức cam kết của ngân hàng khá đa dạng nhưng
cùng bản chất, chỉ khác nhau ở điều kiện thực hiện cam kết từ phía ngân hàng phát hành Bao gồm: Bão lãnh ngân hàng, thư tín dụng, chấp nhận hối phiếu
Dịch vụ uỷ thác: Là nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện theo sự uỷ thác của khách hàng
trong việc quản lý tài sản, chuyển giao tài sản thừa kế…để hưởng hoa hồng
Dịch vụ đại diện: Người ủy nhiệm cho phép người đại diện thay mặt mình thực hiện
một số công việc trong phạm vi công việc được giao thông qua một thỏa thuận hoặc một thư chỉ định
Dịch vụ tư vấn: là việc cung cấp những thông tin, lời khuyên tốt nhất, những hiểu biết
sâu sắc về lĩnh vực mà khách hàng yêu cầu giúp khách hàng có những quyết định chính xác, giảm thiểu rủi ro
6 Các văn bản pháp luật chỉnh điều chỉnh hoạt động NHTM hiện nay
- Văn bản pháp luật
- Luật các tổ chức tín dụng 1997
- Sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng 2004
- Luật ngân hàng Nhà nước 1997
- Quyết định 24 năm 2007 về quy chế thành lập NHTM cổ phần tại Việt Nam
Trang 14NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 14
- Luật các tổ chức tín dụng 2010
- Các văn bản pháp luật hướng dẫn chi tiết khác
- Căn cứ Hiếp pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10
2010
Hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại
Nhận tiền gửi
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong
nước và nước ngoài
- Cấp tín dụng (cho vay, bảo lãnh, chiết khấu,…)
- Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng
- Cung ứng các phương tiện, dịch vụ thanh toán
Vay vốn
Ngân hàng thương mại được vay vốn của Ngân hàng Nhà nước, của tổ chức tín dụng,
tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật
Mở tài khoản
Ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước và tại tổ chức tín dụng khác
Ngân hàng thương mại được tham gia đấu thầu tín phiếu Kho bạc, mua, bán công cụ
chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị trường tiền tệ
Ngân hàng thương mại được quyền ủy thác, nhận ủy thác, đại lý trong lĩnh vực liên
quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản theo quy định của Ngân hàng Nhà nước
Các hoạt động khác
- Dịch vụ quản lý tiền mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ quản lý, bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két an toàn
- Tư vấn tài chính doanh nghiệp
- Mua, bán trái phiếu
- Dịch vụ môi giới tiền tệ
- Lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng và các hoạt động kinh doanh
thương mại
Mục 3; Điều 87 Trách nhiệm của ngân hàng
1 Chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình
2 Tuân thủ các quy định của pháp luật trong tổ chức, quản trị và hoạt động ngân hàng
3 Công bố công khai tại nơi giao dịch các thông tin về lãi suất tiền gửi và tiền vay, các mức phí, tỷ giá, thời gian giao dịch và các thông tin khác nếu ngân hàng thấy cần thiết
4 Lưu giữ hệ thống dữ liệu, sổ sách tài chính kế toán đầy đủ theo đúng các chính sách
và thông lệ kế toán nhằm giúp cơ quan giám sát ngân hàng đánh giá trung thực và hợp lý về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Thông tư Số: 01/2015/TT-NHNN
Trang 15NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 15
Quy định hoạt động kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất của ngân hàng
thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Hoạt động kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất trên thị trường trong nước
Nhằm mục đích phòng ngừa, hạn chế rủi ro lãi suất cho giao dịch gốc của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được kinh doanh, cung ứng các loại sản phẩm phái sinh lãi suất, bao gồm: Sản phẩm hoán đổi lãi suất một đồng tiền, Sản phẩm hoán đổi lãi suất giữa hai đồng tiền hoặc hoán đổi tiền tệ chéo, Sản phẩm lãi suất kỳ hạn Sản phẩm quyền chọn lãi suất (giới hạn trần, giới hạn sàn và kết hợp trần-sàn)
Hoạt động kinh doanh sản phẩm phái sinh lãi suất trên thị trường quốc tế
Khi thực hiện hoạt động kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất, ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải lập và lưu giữ hồ sơ hoạt động kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất, gồm:
1 Hợp đồng phái sinh lãi suất
2 Các tài liệu khác liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng phái sinh lãi suất theo quy định nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, phù hợp với quy địnhtại Thông tư này
Trích lập dự phòng rủi ro, hạch toán kế toán và báo cáo
Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất phải thực hiện quản lý và kiểm soát rủi ro tập trung tại trụ sở chính của ngân hàng thương mại Chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động, kinh doanh, cung ứng sản phẩm phái sinh lãi suất thực hiện quản lý và kiểm soát rủi ro theo quy định của ngân hàng mẹ hoặc được ngân hàng mẹ ủy quyền quản lý, kiểm soát rủi ro
- C là giá trị thực của vốn điều lệ
- N1 là số lượng chi nhánh đã thành lập và đề nghị thành lập tại khu vực nội thành thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh
- N2 là số lượng chi nhánh đã thành lập và đề nghị thành lập tại khu vực ngoại thành và các tỉnh, thành phố khác trực thuộc Trung ương
Tổ chức thực hiện
1 Có kế hoạch phát triển chi nhánh, đơn vị sự nghiệp ở trong nước; chi nhánh, văn phòng đại diện, ngân hàng 100% vốn ở nước ngoài trình cấp có thẩm quyền của ngân hàng thông qua hằng năm
2 Báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước các nội dung theo quy định
Trang 16NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – NHÓM 1 16
7 Các rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Tín dụng là hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại Nguồn thu từ hoạt động tín dụng luôn chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng thu nghiệp vụ ngân hàng và đem lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động tín dụng lại là hoạt động có nhiều rủi ro nhất và phức tạp nhất Hoạt động tín dụng liên quan chặt chẽ đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế Mỗi rủi ro trong các lĩnh vực này đều tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại luôn đặt ra mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, đồng thời tối thiểu hoá rủi ro Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi ngân hàng thương mại phải có những giải pháp thích hợp để quản lý và phòng ngừa rủi ro tín dụng
Đây là loại rủi ro mang tính xã hội, nó ảnh hưởng đến hầu hết các tổ chức kinh tế, các cá nhân trong nền kinh tế quốc dân Người ta quan niệm lãi suất là chi phí để vay hoặc giá phải trả để thuê vốn trong một thời gian nào đó Trong cơ chế thị trường, lãi suất luôn biến động
và điều này có thể gây ra rủi ro cho hoạt động của ngân hàng thương mại Chẳng hạn, ngân hàng đã ký hợp đồng cho vay một kỳ hạn với lãi suất cố định, sự thiệt hại của ngân hàng sẽ diễn ra khi lãi suất trên thị trường tăng lên Ngược lại, khi nhận vốn với một thời hạn và lãi suất ấn định, ngân hàng sẽ bị thiệt hại khi lãi suất thị trường giảm xuống
Rủi ro lãi suất là loại rủi ro do sự biến động của yếu tố tiền tệ Rủi ro lãi suất nảy sinh trong những trường hợp sau:
+Lạm phát tăng, lãi suất buộc phải điều chỉnh theo xu hướng tang làm chi phí của ngân hàng phải bỏ ra cũng tăng lên, do đó làm giảm thu nhập của ngân hàng Khi lạm phát cao thì thường có lợi cho người vay vốn và bất lợi cho người cho vay
+ Do cơ cấu tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng không hợp lý Ngân hàng dùng tài sản
nợ ngắn hạn để đầu tư vào tài sản có dài hạn Nếu lãi suất ngắn hạn tăng, chi phí ngân hàng phải bỏ ra cũng sẽ tăng lên, trong khi thu nhập ở tài sản có dài hạn vẫn giữ nguyên, như vậy thu nhập của ngân hàng không đủ bù đắp chi phí kinh doanh, dẫn đến ăn mòn vào vốn +Ngoài ra, rủi ro lãi suất có thể xảy ra do trình độ thấp kém bị thua thiệt trong việc cạnh tranh lãi suất trên thị trường Hoặc do yếu tố của nền kinh tế tác động đến lãi suất như cung, cầu, yếu tố thị trường…Khi Nhà nước có quyết định điều chỉnh lãi suất theo hướng giảm xuống, trong khi tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn trả Như vậy, lãi suất cho vay bị giảm thấp, nhưng phần trả lãi cho những khoản tiền gửi có kỳ hạn lại không giảm tương ứng dẫn đến rủi
Rủi do thiếu vốn
Loại rủi ro này xảy ra khi Ngân hàng không đáp ứng được các nhu cầu cho vay và đầu
tư, thậm chí không đủ vốn để thanh toán cho người gửi tiền khi đến hạn Rủi ro này xuất phát
từ chức năng chuyển hoán các kỳ hạn sử dụng vốn và nguồn vốn của ngân hàng, thông thường các kỳ hạn sử dụng vốn dài hơn kỳ hạn các nguồn vốn, hoặc do mất lòng tin mà các hàng loạt