Khái niệm cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế đó là “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước
Trang 1MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU 1
II NỘI DUNG 1
1 Khái quát chung 1
2 Nội dung cơ bản của Luật thuế bảo vệ môi trường 3
2 1 Đối tượng chịu thuế 3
2 1.1 Nguyên tắc xác định đối tượng chịu thuế 3
2.1.2 Đối tượng chịu thuế theo Luật bảo vệ môi trường 3
2.2 Chủ thể nộp thuế 5
2.3 Căn cứ tính thuế 5
2.4 Phương pháp tính thuế 7
5 Quản lí thuế 7
3.Thực tiễn áp dụng luật thuế bảo vệ môi trường trong 6 tháng đầu năm 2015 8
3.1 Thực tiễn tác động của thuế bảo vệ môi trường đến xuất nhập khẩu 8
3.2 Thực tiễn tác động của thuế bảo vệ môi trường đến hoạt động của Doanh nghiệp 11
3.3 Đánh giá chung 12
4 Đề xuất pháp lí của nhóm thông qua mặt hàng Thuế nilong thuộc diện chịu thuế 14
I KẾT LUẬN 15
Trang 2I. MỞ ĐẦU
Hiện nay, môitrườngsốngđangbị ô nhiễmnghiêmtrọng Điềuđótrởthànhmốiquantâm,
lo lắngchungchocácquốcgiatrênphạm vi toàncầunóichungvàViệt Nam nóiriêng.Ô
ngườivàlàmbiếnđổicácđặcđiểmcủahệsinhtháitrêntráiđất Để bảo vệ môi trường, Nhà nước ta đã ban hành ra những chính sách cụ thể, trong đó có quy định về các loại thuế bảo vệ môi trường Luật thế bảo vệ môi trường ra đời và phát triển cho đến nay
đã mang lại những kết quả tích cực, đồng thời cũng còn nhiều hạn chế Thực tiễn triển khai trên thực tế về vấn đề này như thế nào, cần áp dụng những biện pháp khắc
phục ra sao? Để trả lời cho câu hỏi đó, nhóm em xin lựa chọn đề bài: " Phân tích nội dung cơ bản Luật thế bảo vệ môi trường - thực tiễn ápdụng 6 tháng đầu năm
2015 và đề xuất pháp lí của nhóm thông qua việc áp dụng đối với mặt hàng thuế nilon thuộc diện chịu thuế"
Trang 3II NỘI DUNG
1 Khái quát chung
Môi trường là một khái niệm tương đối rộng và được định nghĩa theo nhiều
cách khác nhau Trong tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu
là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung
quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người”
Khái niệm vềThuế:
Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và khái niệm về thuế cũng không ngừng được hoàn thiện Hiện nay, trên thực tế có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thuế Khái niệm
cổ điển nhất và cũng nổi tiếng nhất về thuế đó là “Thuế là một khoản trích nộp
bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước”
Khái niệm về Thuế bảo vệ môi trường
Ý tưởng sử dụng công cụ thuế để khắc phục những tác động ngoại ứng có hại
tới môi trường đã được Pigouđưa ra từ năm 1920 trong tác phẩm “Kinh tế học
phúc lợi” nên thuế bảo vệ môi trường còn có tên là thuế Pigou
Trên thực tế, thuế bảo vệ môi trường còn được gọi tắt là thuế môi trường
Về mặt lý thuyết, thuế môi trường là một công cụ tương đối đơn giản vì mức thuế tối ưu chính bằng với mức chi phí xử lý ô nhiễm của doanh nghiệp Pigou đã nêu ra nguyên tắc đánh thuế là: “Mức thuế ô nhiễm (mức thuế môi trường) tính cho mỗi đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm có giá trị bằng chi phí ngoại ứng do đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm gây ra tại mức sản lượng tối ưu xã hội”
Trang 4Bên cạnh các định nghĩa về thuế môi trường trên thế giới, Luật thuế bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII,
kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010 cũng đưa ra một định nghĩa
ngắn gọn và dễ hiểu về thuế môi trường như sau: “Thuế bảo vệ môi trường là loại
thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường”
Phân loại:
Dựa vào lĩnh vực hoạt động: sẽ có các loại thuế chính như: Thuế năng lượng,
Thuế giao thông, Thuế tài nguyên
Dựa vào đối tượng gây ô nhiễm: thuế được chia thành:
- Thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm
- Thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm
Dựa vào căn cứ tính thuế: Cách phân loại này dựa vào căn cứ tính thuế đã
được nói đến ở trên như: thuế xăng, thuế nước thải…
Trang 52 Nội dung cơ bản của Luật thuế bảo vệ môi trường
2 1 Đối tượng chịu thuế.
2 1.1 Nguyên tắc xác định đối tượng chịu thuế.
Theo Điều 112 Luật Bảo vệ môi trường: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh một số sản phẩm gây tác động xấu lâu dài đến môi trường và sức khỏe con người thì phải nộp Thuế môi trường”.
Vì vậy, các sản phẩm được lựa chọn đưa vào đối tượng chịu thuế phải là những sản phẩm được sản xuất, nhập khẩu mà khi sử dụng mới gây tác động xấu đến môi trường và sức khỏe con người Do đó, những hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế BVMT nhưng không được sử dụng ở Việt Nam thì sẽ được đưa vào đối tượng không chịu thuế BVMT.
2.1.2 Đối tượng chịu thuế theo Luật bảo vệ môi trường.
Theo quy định của Luật Thuế BVMT đối tượng chịu thuế gồm 8 nhóm hàng hóa:
a.Xăng dầu
Đây là sản phẩm có chứa một số chất hóa học như chì, lưu huỳnh,… ngay cả khi chưa sử dụng các chất chứa trong các loại xăng dầu đã phát thải ra môi trường và gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Việc đưa các sản phẩm xăng dầu vào đối tượng chịu thuế nhằm mục tiêu khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo Hiện nay, nhiều nước trên thế giới áp dụng thuế BVMT đối với xăng, dầu Các nước EU đang đánh thuế đối với nhiên liệu ( Xăng 0,42 Euro/lít, dầu Diesel 0,30 Euro/lít); Singapo: 0,4 đôla Singapo/lít xăng.
b.Than đá
Khi than được sử dụng cho mục đích đối cháy sẽ thải ra môi trường các loại khí như CO2, SO2 đều là các khí gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người Phạm vi sử
Trang 6dụng than cũng rộng khắp và với khối lượng gần 30 triệu tấn/năm Việc đưa than vào đối tượng chịu thuế cũng nhằm mục tiêu khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; giảm sự phụ thuộc vào năng lượng có nguồn gốc hóa thạch, khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo Nhiều nước như Trung Quốc thu từ 8 đến 37 Nhân dân tệ/tấn tùy theo hàm lượng lưu huỳnh trong than; Philipine thu ở mức 10
Pê sô/1 tấn.
c.Dung dịch hydro-chloro-fluoro-cácbon (HCFC)
Dung dịch HCFC được sử dụng trong một số lĩnh vực công nghiệp như: Làm lạnh, điều hòa không khí,… Sự phát thải chất HCFC vào khí quyển, làm ô nhiễm bầu không khí, là nguyên nhân chính làm suy giảm tầng ôzôn và gây hiệu ứng nhà kính Nước ta đã tham gia ý ký kết Nghị định thư Montreal về hạn chế sử dụng các chất làm suy giảm tầng ôzôn Việc đưa chất HCFC vào đối tượng chịu thuế BVMT sẽ góp phần vào việc thực hiện cam kết quốc tế, khuyến khích doanh nghiệp giảm dần
sử dụng HCFC bằng việc chuyển đổi công nghệ sản xuất.
d.Túi ni lông thuộc diện chịu thuế
Túi ni lông phải trải qua thời gian rất lâu để phân hủy, có thể tới hàng trăm năm hoặc không thể tự phân hủy được Túi nilông thải bỏ sau khi sử dụng sẽ tích tụ trong đất, suy thoái môi trường đất Khi bị phân hủy thì còn sinh ra các chất làm đất
bị trơ, không giữ được độ ẩm và dinh dưỡng cho cây trồng Việc đưa túi ni lông vào đối tượng chịu thuế nhằm mục tiêu nâng cao ý thức BVMT của toàn xã hội, từ đó góp phần thay đổi hành vi của người tiêu dùng trong việc sử dụng túi ni lông Hiện nay, có nhiều nước trên thế giới đã thu thuế đối với các sản phẩm nhựa (túi ni lông, bát nhựa, chai nhựa…) như: Anh, Ailen, Đài Loan…
e.Thuốc trừ cỏ, thuốc bảo quản lâm sản, thuốc khử trùng kho, thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng
Trang 7Đây là những hợp chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hoặc tổng hợp từ các chất hóa học được dùng để phòng trừ dịch hại trên cây trồng và bảo quản nông sản Việc đưa hóa chất bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng vào đối tượng chịu thuế nhằm nâng cao nhận thức của người sử dụng, khuyến khích họ thay đổi thói quen sử dụng lạm dụng, giảm thiểu những tác hại xấu của hóa chất bảo vệ thực vật đối với môi trường Hiện nay, một số nước như Đan Mạch, Bỉ cũng áp dụng thuế BVMT đối với các sản phẩm hóa chất bảo vệ thực vật.
Đồng thời, Luật cũng quy định điều khoản mở: “Trường hợp xét thấy cần thiết phải
bổ sung đối tượng chịu thuế khác cho phù hợp với từng thời kỳ thì Chính phủ trình
Ủy ban Thường vụ Quốëc hội xem xét, quy định”.
2.2 Chủ thể nộp thuế.
Thuế BVMT thu vào hàng hóa thuộc diện chịu thuế, vì vậy, Luật quy định theo nguyên tắc chung là: Những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế BVMT sẽ là Người nộp thuế Đồng thời, quy định cụ thể đối với một số trường hợp đặc thù để tránh phát sinh vướng mắc khi triển khai luật, như sau:
- Trường hợp ủy thác nhập khẩu thì người nhận ủy thác nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế BVMT là người nộp thuế.
- Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua than khai thác nhỏ,
lẻ mà không xuất trình được chứng từ chứng minh hàng hóa đã được nộp thuế BVMT thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế.
2.3 Căn cứ tính thuế.
Căn cứ tính thuế bảo vệ môi trường là số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối Số lượng hàng hóa tính thuế được quy định như sau:
Trang 8+ Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo.
+ Đối với hàng hóa nhập khẩu, số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu.
Đối với trường hợp số lượng hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường xuất, bán và nhập khẩu tính bằng đơn vị đo lường khác đơn vị quy định tính thuế tại biểu mức thuế Bảo vệ môi trường do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành thì phải qui đổi ra đơn vị đo lường quy định tại biểu mức thuế Bảo vệ môi trường để tính thuế.
+ Đối với hàng hoá là nhiên liệu hỗn hợp chứa xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch
và nhiên liệu sinh học thì số lượng hàng hoá tính thuế trong kỳ là số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu hoặc sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, đưa vào tiêu dùng nội bộ được quy đổi ra đơn vị
đo lường quy định tính thuế của hàng hoá tương ứng Cách xác định như sau:
Số lượng xăng, dầu,
mỡ nhờn gốc hoá
thạch tính thuế
=
liệu hỗn hợp nhập khẩu, sản xuất bán ra, tiêu dùng, trao đổi, tặng cho
x
Tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong nhiên liệuhỗn hợp
Căn cứ tiêu chuẩn kỹ thuật chế biến nhiên liệu hỗn hợp được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (kể cả trường hợp có thay đổi tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong nhiên liệu hỗn hợp), người nộp thuế tự tính toán, kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch; Đồng thời có trách nhiệm thông báo với cơ quan thuế về tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn có gốc hoá thạch chứa trong nhiên liệu hỗn hợp và nộp cùng
Trang 9với tờ khai thuế của tháng tiếp theo tháng bắt đầu có bán (hoặc có thay đổi tỷ lệ) nhiên liệu hỗn hợp.
+ Đối với túi ni lông đa lớp được sản xuất hoặc gia công từ màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE và các loại màng nhựa khác (PP, PA, ) hoặc các chất khác như nhôm, giấy… thì thuế bảo vệ môi trường được xác định theo tỷ lệ % trọng lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE có trong túi ni lông đa lớp Căn cứ định mức lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE sử dụng sản xuất hoặc gia công túi ni lông đa lớp, người sản xuất hoặc người nhập khẩu túi ni lông đa lớp tự kê khai, tự chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình.
2.4 Phương pháp tính thuế.
Thuế bảo vệ môi trường phải nộp được tính theo công thức sau:
Thuế bảo vệ môi
trường phải nộp =
Số lượng đơn vị hàng hoá tính thuế x
Mức thuế tuyệt đối trên một đơn vị hàng hoá
5 Quản lí thuế.
Về cơ bản, việc kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế BVMT được thực hiện theo quy định tại Luật Quản lý thuế Luật BVMT quy định cụ thể hơn về: Thời điểm tính thuế, khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế BVMT Cụ thể:
- Về thời điểm tính thuế: đối với hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội
bộ, tặng cho được thực hiện theo tháng và theo quy định của pháp luật về quản lý thuế; đối với hàng hóa nhập khẩu, thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan; đối với xăng dầu sản xuất hoặc nhập khẩu, thời điểm tính thuế là thời điểm đầu mối kinh doanh xăng dầu bán ra.
- Về khai thuế, tính thuế và nộp thuế: đối với hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho được thực hiện theo tháng và theo quy định của pháp luật về
Trang 10quản lý thuế; đối với hàng hóa nhập khẩu được thực hiện cùng thời điểm với khai
và nộp thuế nhập khẩu; thuế BVMT chỉ phải nộp một lần đối với hàng hóa sản xuất hoặc nhập khẩu.
- Về hoàn thuế: Người nộp thuế được hoàn thuế BVMT đã nộp trong các trường hợp sau: hàng hóa nhập khẩu còn lưu kho, lưu bãi tại cửa khẩu và đang chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan, được tái xuất khẩu ra nước ngoài; hàng hóa nhập khẩu để giao, cho nước ngoài thông qua đại lý tại Việt Nam; xăng dầu để bán cho phương tiện vận tải của hãng nước ngoài trên các tuyến đường qua cảng Việt Nam hoặc phương tiện vận tải của Việt Nam trên các tuyến đường vận tải quốc tế theo quy định của pháp luật; hàng hóa tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu theo phương thức kinh doanh hàng tạm nhập, tái xuất; hàng hóa nhập khẩu do người nhập khẩu tái xuất khẩu ra nước ngoài; hàng hóa tạm nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm theo quy định của pháp luật khi tái xuất khẩu ra nước ngoài.
3.Thực tiễn áp dụng luật thuế bảo vệ môi trường trong 6 tháng đầu năm 2015
Các quy định của chính sách thuế hiện hành đã có tác động tích cực đến bảo vệ môi trường Các khoản thu thuế bảo vệ môi trường góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, dùng để chi cho đầu tư giải quyết các vấn
đề về môi trường, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường trong cộng đồng, nhưng đã lộ rõ nhiều bất cập trong việc áp dụng vào thực tiễn đời sống, đặc biệt là trong công tác quản lí môi trường.
Trang 113.1 Thực tiễn tác động của thuế bảo vệ môi trường đến xuất nhập khẩu.
− Khi chịu thêm thuế bảo vệ môi trường thì giá tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) bao gồm giá hàng hoá cộng thêm các loại thuế Như vậy, giá xăng dầu chắc chắn sẽ tăng do thuế GTGT tính trên cả số tiền nộp thuế BVMT Không chỉ xăng dầu mà hầu hết các mặt hàng khác có liên quan đến thuế BVMT đều bị đánh thuế BVMT, khi đó giá thành sản phẩm phải cộng thêm thuế BVMT và thuế GTGT bao gồm luôn cả thuế
− Trong khi đó, theo Điều 2 Thông tư số 152/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính, túi ni lông PE nhập khẩu vào Việt Nam lại không phải chịu thuế BVMT nếu tạm nhập khẩu và tái xuất khẩu trong thời hạn quy định của pháp luật Vì vậy, nhiều doanh nghiệp mua túi ni lông để đóng gói hàng hóa xuất khẩu đã lựa chọn phương pháp tạm nhập tái xuất khiến các doanh nghiệp sản xuất túi ni lông trong nước phải đối mặt với nguy cơ đóng cửa hoặc sản xuất cầm chừng.
- Việc nhập khẩu chưa bền vững do vẫn chú trọng nhập khẩu công nghệ trung gian, khuyến khích nhập khẩu hàng tiêu dùng xa xỉ Nhập khẩu chưa
được quản lý tốt đã góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm và suy thoái môi trường Tình trạng nhập khẩu hàng hóa không đảm bảo các quy định an toàn và môi trường còn khá phổ biến, nhất là nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc Tình trạng nhập khẩu thiết bị lạc hậu, thực phẩm kém chất lượng, hóa chất độc hại từ Trung Quốc và qua các cửa khẩu tiếp giáp với Lào và Căm Pu Chia chưa được ngăn chặn Tình trạng này vẫn chưa có biện phản phòng chống an toàn, triệt để.
− Thực tế hiện nay, các ngành may mặc, giày da, thuỷ sản xuất khẩu sử dụng một lượng lớn các túi nilon PE, PA nhưng luật thuế bảo vệ môi trường có hiệu lực đã làm tăng chi phí báo bì từ 30% - 50% sẽ làm cho giá thành của sản phẩm dệt may, da giầy, thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam tăng đáng kể sẽ khó có lợi thế cạnh tranh so với các nước khác.