Khái niệm thuế Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tầng lớp dân cư trong xã hội cho Nhà nước theo pháp luật quy định về mức độ và thời hạn, không mang tính hoàn trả trực tiếp, n
Trang 1NHỮNG BẤT CẬP, HẠN CHẾ TRONG CHÍNH SÁCH
THUẾ Ở VIỆT NAM.
I: Tổng quan chung về thuế.
II: Thực trạng, những bất cập và hạn chế trong chính
sách thuế ở Việt Nam.
III: Giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế ở Việt
Nam
Trang 2NHÓM 8
1 Hoàng Thị Vững – Nhóm Trưởng
2 Đỗ Hồng Hải
3 Trịnh Thu Thảo
4 Trần Thị Lan Hương
5 Đỗ Minh Tiến
6 Nguyễn Thị Lệ
7 Nguyễn Thùy Linh
8 Phạm Thị Thư
Trang 3I TỔNG QUAN CHUNG VỀ THUẾ
1 Khái niệm thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tầng lớp dân cư trong xã hội cho Nhà nước theo pháp luật quy định về mức độ và thời hạn, không mang tính hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội.
Một cách khái quát, thuế là một khoản phải nộp theo một quy tắc nào đó Do vậy, thuế cũng tương tự với học phí ở trường, với lệ phí khi qua cầu – là những khoản mà người sử dụng phải nộp có quy tắc cụ thể
2 Đặc điểm của thuế
a Tính bắt buộc
Tính bắt buộc là thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt giữa thuế với các hình thức động viên tài chính khác của ngân sách nhà nước
Đặc điểm này cho ta thấy rõ nội dung kinh tế của thuế là những quan hê tiền tệ được hình thành một cách khách quan và có một ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc động viên mang tính chất bắt buộc của nhà nước.Phân phối mang tính chất bắt buộc dưới hình thức thuế là một phương thức phân phối của nhà nước, theo đó một bộ phân thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế, mà hành động đóng thuế là hành động thực hiện nghĩa vụ của người công dân
b Tính không hoàn trả trực tiếp
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện ở chỗ: thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua việc cung cấp các dịch vụ công cộng của nhà nước Sự không hoàn hảo trả trực tiếp được thể hiện kể cả trước và sau thu thuế Trước khi thu thuế, nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế Sau khi nộp thuế, nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế
c Tính pháp lí cao
Thuế là một công cụ tài chính có tính pháp lý cao, được quyết định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và quyền lực ấy được thể hiện bằng pháp luật
Trang 43 Phân loại thuế
* Phân loại theo tính chất:
_ Thuế gián thu: Là loại thuế gián tiếp đánh vào thu nhập của người tiêu dùng, trong đó người nộp thuế không đồng thời là người chịu thuế
_ Thuế trực thu: Là loại thuế trực tiếp đánh vào thu nhập của các thành phần dân
cư, trong đó người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế
* Phân loại theo mối tương quan với thu nhập:
_Thuế lũy tiến là sắc thuế có tỷ lệ ngày càng tăng theo thu nhập chịu thuế
_Thuế tỷ lệ là sắc thuế mà thuế suất không thay đổi
_Thuế lũy thoái là sắc thuế mà tỷ lệ giảm dần khi thu nhập chịu thuế tăng lên
4 Nguyên tắc đánh thuế
Thứ nhất, đánh thuế phải đảm bảo công bằng Nguyên tắc này được hiểu là mọi đối
tượng có năng lực chịu thuế đều phải nộp thuế và mọi người có điều kiện liên quan đến thuế như nhau phải được đối xử về thuế như nhau
Thứ hai, đánh thuế phải đảm bảo cân bằng lợi ích giữa nhà nước và người nộp
thuế Việc đánh thuế vừa phải đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước vừa phải đảm bảo người nộp thuế không phải nôp số thuế quá lớn
Thứ ba, đánh thuế phải đảm bảo dễ hiểu, đạt hiệu quả Nội dung của nguyên tắc
này là các loại thuế phải đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu cho mọi đối tượng và có tính ổn định đồng thời hệ thống thuế phải được tổ chức sao cho chi phí quản lí thuế không cao hơn mức mà mục tiêu đề ra cho phép
Thứ tư, đánh thuế phải đảm bảo không xảy ra tình trạng một đối tượng tính thuế
phải chịu một loại thuế nhiều lần
Thuế
Thuế đánh vào
hàng hóa, dịch vụ
Ví dụ: GTGT,
TTĐB, thuế nhập
khẩu,
Thuế đánh vào thu nhập
Ví dụ: thuế TNDN, thuế TN
cá nhân,
Thuế đánh vào tài sản
Ví dụ: Thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền SDĐ, thuế tài nguyên,
Trang 55 Vai trò của thuế đối với nền kinh tế quốc dân
a Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác vv Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế
càng phát triển thì khoản thu này càng tăng Ở nước ta, thuế thực sự trở thành nguồn
thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước từ năm 1990 Điều này được thể hiện qua tỷ trọng số thuế trong tổng thu ngân sách
Biều đồ: Tình hình tỉ lệ thuế và phí trong tổng thu ngân sách nhà nước ta trong thời
gian qua ( Tài liệu của Tổng cục thuế )
Năm Tổng số thuế và phí ( tỷ
Qua biểu trên ta thấy số thu thuế và phí đã chiếm phần chủ yếu trong tổng thu NSNN
và tăng nhanh qua các năm, đã bảo đảm về cơ bản yêu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng của NSNN, giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, từng bước góp phần ổn định trật tự xã hội, giành một phần để tăng chi cho tích luỹ Như vậy, chứng tỏ thuế là nguồn thu quan trọng nhất của NSNN
b Thuế, một công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân
Trang 6c Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm
Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan trọng mà nhà nước
sử dụng là chính sách thuế Nội dung điều tiết của thuế gồn hai mặt: Kích thích và hạn
chế Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt trong từng thời kỳ nhất
định, bằng việc tác động vào cung-cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh- một đặc
trưng vốn có của nền kinh tế thị trường
d Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp phần đảm bảo công bằng xã hội
Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng Thông qua thuế thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia tăng
e Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng Thuế được sử dụng để điều chỉnh lạm phát, ổn định giá
cả thị trường Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thuế để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động
f Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều kiện hoà nhập nền kinh
tế thế giới
Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh khốc kiệt từ bên ngoài được coi là hết sức cần thiết đối với các nước Điều này được thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu Để kích thích sản xuất trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, nhà nước đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước đã sản xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng xa xỉ
Trang 7II THỰC TRẠNG, NHỮNG BẤT CẬP VÀ HẠN CHẾ
TRONG CHÍNH SÁCH THUẾ Ở VIỆT NAM
1 Thực trạng và những bất cập trong chính sách thuế ở Việt Nam
a Thực trạng
Thủ tục hành chính còn rườm rà, gây khó khăn cho người nộp thuế, một số quy định về thủ tục hồ sơ chưa đồng bộ với các văn bản pháp luật khác.
Luật Quản lí hiện hành chủ yếu vẫn đảm nhiệm sứ mệnh giải quyết tình thế cho các luật về chính sách thuế, nên không mang tính thực tiễn cao, chưa đáp ứng được nguyện vọng của người nộp thuế, bởi vì nộp thuế không chỉ là nghĩa vụ mà còn là quyền của ngươi dân, doanh nghiệp đóng góp với nhà nước xã hội
Ví dụ: Tại điều 32, luật quản lí thuế quy định thời hạn nộp hồ sơ khai thuế chậm nhất là ngày thứ 10 kể từ ngày phát sinh thuế đối với các loại thuế đối với các loại thuế khai và nộp từng lần phát sinh Tuy nhiên ngày phát sinh nghĩa vụ thuế là thời điểm nào,cụ thể như thế nào lại chưa có văn bản hướng dẫn chưa đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch.
Mô hình cải cách chính sách theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở một số nơi còn lúng túng, chưa thực sự hợp lí trong một số lĩnh vực, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn chưa nhất quán, thiếu đồng bộ, thời gian giải quyết vẫn còn dài ở một
số thủ tục, trụ sở làm việc, cơ sở vật chất một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
Đối với luật thuế thu nhập doanh nhiệp:
Tại khoản 2.4,mục 4 phần c thông tư 130/2008/TT_BTC có quy định chi phí của doanh nghiệp mua bán hàng hóa, dịch vụ không có hóa đơn, được phép lập bảng kê thu mua hàng hóa nhưng phải kèm theo chứng từ thanh toán cho cơ sở, người bán hàng Nhưng điều này rất khó thực hiện đối với các doanh ngiệp, nhất là đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực nhà hàng Họ thường xuyên phải mua các nguyên vật liệu nông sản như rau củ quả hay các đồ gia vị Trên thực tế các doanh nghiệp này rất khó có thể lập bảng kê chi tiết đi kèm với chứng từ thanh toán cho các đối tượng này do tập quán buôn bán lẻ
_Miễn giảm thuế: Là yếu tố ngoại lệ được quy định trong các Luật thuế Chế độ
giảm thuế, miễn thuế được áp dụng đối với các pháp nhân và thể nhân là đối tượng nộp thuế nhưng có các dấu hiệu và sự kiện được dự liệu trong Luật thuế thì được giảm
Trang 8một phần số thuế phải nộp hoặc được miễn nộp thuế theo thời hạn do từng Luật thuế
quy định
=>Là một trong những bất cập lớn nhất của hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam.
Khoản 4 mục 2 phần H thông tư 130 có quy định về mức thuế suất ưu đãi 20% trong thời gian 10 năm áp dụng đối với doanh nghiệp thành lập từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn Do đó thời gian ưu đãi thuế là quá dài, các doanh ghiệp có thể lách luật bằng cách thành lập doanh nghiệp tại địa bàn kinh tế khó khăn bằng cách đặt trụ sở ở đó để hưởng ưu đãi thuế nhưng công việc kinh doanh chính không diễn ra ở đó
_Chuyển lỗ: Doanh nghiệp sau khi quyết toán thuế mà bị lỗ thì chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập (thu nhập chịu thuế đã trừ thu nhập miễn thuế) của những năm tiếp theo Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ
=>Là vấn đề nhạy cảm và dễ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp lách luật nhất.
Bằng nhiều phương pháp doanh ngiệp hoàn toàn có thể biến lãi thành lỗ hòng trốn thuế
Ví dụ: Doanh nghiệp tăng tối đa các khoản trích lập dự phòng cho hàng tồn kho, chứng khoán, đầu tư ngắn hạn, dài hạn để tang chi phí và giảm thu nhập chịu thuế Một cách phổ biến hơn đó là hình thức chuyển giá của những công ti mẹ hoặc chi nhánh ở nước ngoài Về nguyên tắc đóng thuế TNDN, nếu lãi thì doanh nghiệp phải nộp thuế, nếu lỗ thì không phải nộp Vì vậy, không nên có quy định chuyển trong luật thuế…
Đối với luật thuế TNCN:
Trong điều kiện cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội của nước ta còn thấp, các chính sách
an sinh xã hội, quy định pháp lí về thanh toán, kiểm soát nguồn thu chưa đồng bộ, người dân chưa có thói quen sử dụng tiền mặt trong sinh hoạt thì tính khả thi của Luật thuế TNCN còn chưa cao Vì thế có một bộ phận rất lớn người dân hoạt động sản xuất kinh doanh tự do, không thực hiện luân chuyển tiền qua hệ thống ngân hàng, cơ quan thuế không thể kiểm soát được thu nhập của họ là bao nhiêu để đánh thuế Luật thuế TNCN do đó chỉ đánh thuế với những người làm công ăn lương, cán bộ công chức Điều đó dẫn đến những bất bình đẳng trong việc đóng thuế, vi phạm tính công bằng, đi ngược lại với mục đích của luật là phân phối thu hập, giảm khoảng cách giàu nghèo
Trang 9Kết luận: Cả 2 bất cập trên gây ra sự bất bình đẳng giữa những doanh nghiệp hạch
toán đúng và những doanh nghiệp cố tình hạch toán sai Điều này vi phạm tiêu chí công bằng và đồng thời cũng vi phạm tính hiệu quả của một sắc thuế
b Những bất cập
*Bất cập về sự cân bằng giữa thành thị và nông thôn
Người dân sống tại các khu đô thị luôn chịu áp lực giá, phí, lệ phí, thuế,… cao hơn các vùng khác Bên cạnh đó, bản thân các điều tra xã hội cho thấy Hà Nội hay TP Hồ Chí Minh đều đã lọt vào danh sách có giá sinh hoạt đắt đỏ trong khu vực và thế giới
* Bất cập trong quy định đối tượng miễn thuế
Thứ nhất, khoản 1 điều 4 Luật thuế TNCN 2007 quy định “thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, cha đẻ mẹ đẻ với con đẻ, cha vợ mẹ vợ với con rể….” thì được miễn thuế Lợi dụng điều này nhiều trường hợp đã sử dụng mối
quan hệ bắc cầu để trốn thuế, gay thất thu cho ngân sách nhà nước.
Ví dụ: 2 chị em dâu chuyển nhượng bất động sản chonhau là đối tượng phải nộp thuế Nhưng để lách luật, người chị dâu làm thủ tục chuyển nhượng cho bố chồng, sau
đó bố chồng lại chuyển nhượng cho người em dâu Cả hai lần chuyển nhượng này đều thuộc đối tượng được miễn thuế Vì thế 2 chị em dâu đã tránh được việc nộp thuế, gây thất thu cho ngân sách nhà nước.
*Bất cập trong cách tính thuế và căn cứ tính thuế
Tại khoản 3, mục 2, phần B, thông tư số 84/TT _BTC ban hành ngày 30/9/2008 quy định giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giá thực tế ghi trên hợp đồng, tại thời điểm chuyển nhượng nhưng không thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, thành phố quy định Thực tế trên thị trường bất động sản, giá đất mua bán thường cao hơn giá đất
do UBND tỉnh,TP quy định Nhưng vì lợi ích của cá nhân người mua và người bán nên họ thường thỏa thuận ghi giá trên hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn thực tế Kết quả là đôi bên mua bán đất cùng có lợi, chỉ riêng Nhà nước chịu thất thu thuế
*Tạo lỗ hổng để cá nhân và doanh ngiệp trốn thuế
Theo quy định, hàng đồng bộ thường có mức thuế suất thuế nhập khẩu cao hơn so với linh kiện nhập khẩu Lợi dụng điểm này, một số doanh nghiệp tuy nhập khẩu hàng đồng bộ, nhưng chia nhỏ ra thành hàng linh kiện, nhập khẩu làm nhiều lần để lách thuế
Ví dụ : Đơn cử như trường hợp Công ty Chế tạo máy (TP.HCM), khai báo nhập
khẩu phụ tùng máy phát điện MECC là Roto Sau đó doanh nghiệp tiếp tục mở tờ khai
Trang 10hải quan nhập khẩu phụ tùng của máy phát điện MECC là Stato Kết quả kiểm tra của
cơ quan hải quan cho thấy, nếu gộp toàn bộ linh kiện nhập khẩu tại 2 tờ khai này lại sẽ
là máy phát điện đồng bộ Nếu thực hiện trót lọt, doanh nghiệp đã trốn được 250 triệu đồng tiền thuế
Không chỉ tách tờ khai, một số doanh nghiệp còn có chiêu thức tinh vi hơn, đó là nhập hàng hóa đồng bộ, nhưng tháo rời, chia nhỏ cho nhiều công ty khác nhau (có quan hệ với nhau) cùng nhập khẩu hàng Vẫn Hải quan TP.HCM đã phát hiện một doanh nghiệp nhập khẩu mặt hàng bộ phận của micro, nhưng thiếu thiết bị lọc; còn một công ty khác nhập khẩu mặt hàng thiết bị lọc của micro Cả 2 doanh nghiệp này
có cùng đối tác mua hàng, đóng hàng nhập khẩu cùng container…
Rõ ràng, hàng hóa của 2 doanh nghiệp này là một thiết bị hoàn chỉnh Năm 2011, Công ty TNHH Luxx Việt Nam nhập khẩu (qua cảng Đình Vũ, Hải Phòng) bộ linh kiện đèn compact nhưng doanh nghiệp khai báo là linh kiện rời Kết quả xác minh của
cơ quan hải quan cho thấy, toàn bộ lô hàng trên là linh kiện đồng bộ Số thuế bị ấn định truy thu cho lô hàng này lên tới trên 824 triệu đồng Phân loại áp mã tính thuế hàng hóa đang trở thành lĩnh vực gây ra nhiều tranh cãi giữa hải quan và doanh nghiệp Cùng một mặt hàng, nhiều doanh nghiệp khai tên khác nhau, áp mã khác nhau
và kéo theo đó là mức thuế chênh nhau một trời một vực
Phân loại áp mã tính thuế hàng hóa đang trở thành lĩnh vực gây ra nhiều tranh cãi giữa hải quan và doanh nghiệp Cùng một mặt hàng, nhiều doanh nghiệp khai tên khác nhau, áp mã khác nhau và kéo theo đó là mức thuế chênh nhau một trời một vực
Ví dụ: Cùng mặt hàng có tên tiếng Anh là "Silver target", có doanh nghiệp khai báo
là "bạc khối" (nguyên liệu dùng để sản xuất đĩa CD-R) với mức thuế nhập khẩu 30%; nhưng lại có doanh nghiệp khai là "hộp khuôn bạc" với mức thuế suất thuế nhập khẩu
ưu đãi 0%
Chỉ riêng Đội thủ tục hàng hóa nhập khẩu Hải quan TP.HCM từ đầu năm đến nay
đã lập 169 biên bản chứng nhận doanh nghiệp khai sai mã hàng hóa, với số thuế điều chỉnh tăng trên 3,6 tỉ đồng Hoặc như tại Hải quan Hải Phòng, tính từ năm 2010 đến hết tháng 3/2012, các chi cục hải quan cửa khẩu đã phát hiện, xử lý 570 vụ gian lận liên quan đến phân loại, áp mã hàng hóa, truy thu trên 33 tỉ đồng
*Cá nhân bị trộm mã số thuế để kê khai, khấu trừ thuế mà không biết.
Người lương cao né nghĩa vụ nộp thuế bằng cách gửi lương cho đồng nghiệp thu nhập thấp Trong khi đó, một số cá nhân trộm mã số thuế của người khác để phân tán khoản thu của mình
Ví dụ: Chị Hoa đang công tác trong lĩnh vực xây dựng tại Hà Nội Kể từ khi
ngành này khó khăn, lương của chị chỉ còn 2 triệu đồng mỗi tháng Chị đang nuôi một