1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu về hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) đồng thời làm rõ những tác động của hiệp định trên đến sự phát triển của thương mại việt nam (khu vực mậu dịch tự do asean)

27 429 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 74,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tham gia và thực hiện hiệp định chung về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chungCEPT/AFTA đóng một phần vai trò và ý nghĩa không nhỏ trong nền kinh tế thương mạicủa các nước thành viên t

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

ASEAN là tổ chức liên kết của khu vực Đông Nam Á, được tạo dựng với mục tiêu thúcđẩy tăng trưởng kinh tế, ủng hộ hòa bình khu vực và phát triển văn hóa giữa các thànhviên Được thành lập vào ngày 8 tháng 8 năm 1967 với sự gia nhập của 10 nước thànhviên trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

AFTA đã đưa ra những điều luật chung về cắt giảm thuế quan trong khu vực Theo Hiệpđịnh về Thuế quan Ưu đãi có Hiệu lực Chung (CEPT), sáu quốc gia gia nhập ASEANtrước sẽ xóa bỏ khoảng 98% tổng số dòng thuế của mình đối với các quốc gia thành viênkhác vào năm 2006 Thời hạn dành cho bốn quốc gia gia nhập sau là năm 2013

Việc tham gia và thực hiện hiệp định chung về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chungCEPT/AFTA đóng một phần vai trò và ý nghĩa không nhỏ trong nền kinh tế thương mạicủa các nước thành viên trong khu vực AFTA nói chung và của Việt Nam nói riêng.Chính vì thế việc nghiên cứu về Hiệp định về Thuế quan Ưu đãi có Hiệu lực Chung(CEPT) là rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế khu vực cũng như nước nhà

Phạm vi nghiên cứu: Các nước trong Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN

Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu về Hiệp định về Thuế quan Ưu đãi có Hiệu lực Chung(CEPT) đồng thời làm rõ những tác động của hiệp định trên đến sự phát triển của thươngmại Việt Nam Từ đó đề xuất phương án thúc đẩy, khuyến khích mặt tiêu cực đồng thờiđưa ra giải pháp khắc phục những mặt tiêu cực hạn chế do hiệp định mang lại

Trang 2

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ CEPT/AFTA

1.1 Khái niệm và bối cảnh ra đời

Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (viết tắt là AFTA từ các chữ cái đầu của ASEAN FreeTrade Area) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trongkhối ASEAN Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0-5%, loại bỏdần các hàng rào phi thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa hóa thủ tục hảiquan giữa các nước

Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trong môi trườngchính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEAN trước những tháchthức to lớn không dễ dàng vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ và nỗ lực vủa toànhiệp hội, những thách thức đó là:

- Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệt tronglĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEAN ngày càng mất đi sựủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như quốc tế

- Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt như Khu vực Mậudịch Tự do Bắc Mỹ và Khu vực Mậu dịch Tự do châu Âu của EU, NAFTA sẽ trở thànhcác khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hoá ASEAN khi thâm nhập vàonhững thị trường này

- Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi rộng rãi chocác nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên vànguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nga và các nước Đông Âu đã trởthành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN, đòi hỏi ASEAN vừa phải mở rộng

về thành viên, vừa phải nâng cao hơn nữa tầm hợp tác khu vực

Để đối phó với những thách thức trên, năm 1992, theo sáng kiến của Thái Lan, Hội nghịThượng đỉnh ASEAN họp tại Singapore đã quyết định thành lập một Khu vực Mậu dịch

Tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA) Ban đầu chỉ có sáu nước là Brunei, Indonesia,Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (gọi chung là ASEAN-6) Các nướcCampuchia, Lào, Myanma và Việt Nam (gọi chung là CLMV)

“CEPT” có nghĩa là Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung và là mức thuế cóhiệu lực dành ưu đãi cho ASEAN, được áp dụng cho các loại hàng hoá có xuất xứ từ cácquốc gia thành viên ASEAN và đã được xác định để đưa vào Chương trình CEPT

Trang 3

1.2 Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động

a Mục tiêu

AFTA đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế sau:

Tự do hoá thương mại trong khu vực bằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan trong nội

bộ khu vực và cuối cùng là các rào cản phi quan thuế Điều này sẽ khiến cho các doanhnghiệp sản xuất của ASEAN càng phải có hiệu quả và khả năng cạnh tranh hơn trên thịtrường thế giới Đồng thời, người tiêu dùng sẽ mua được những hàng hoá từ những nhàsản suất có hiệu quả và chất lượng trong ASEAN, dẫn đến sự tăng lên trong thương mạinội khối

Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc tạo ra một khối thị trườngthống nhất, rộng lớn hơn

Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi, đặc biệt

là với sự phát triển của các thỏa thuận thương mại khu vực (RTA) trên thế giới

b Nguyên tắc hoạt động

nguyên tắc hoạt đồng của AFTA

Nguyên tắc thứ nhất là nguyên tắc tự nguyện: theo đó các quốc gia sẽ tự nguyên tham gia

và không chịu sự gò bó ép buộc của bất kì quốc gia nào

2 10 – X : nguên tắc 10 – X X ở đây có nghĩa là các nước tham gia sau có sự phát triểnkinh tế kém hơn sẽ được ưu tiên và ưu đãi hơn ở nhiều khoản mục : thời hạn giảm thuế

3 Nguyên tắc công khai, phân biệt đối xử, giữ nguyên hiện trạng: công khai tức là mọicuộc họp các chương trình hợp tác đều được công khai minh bạch và tất cả các quốc gaitrong khu vực đều có quyền được biết phân biệt đối xử là việc ưu đãi hơn đối với nhữngquốc gia kém phát triển hơn

4 Cùng hỗ trợ nhau phát triển, sự phát triển của các nước trong khu vực thì vẫn khôngđồng đều liên minh lại thành một khu vực có sự ảnh hưởng đến nhau, cần phải hỗ trợnhau cùng phát triển vì lợi ích chung

Cơ chế chính để thực hiện AFTA là Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung(Common Effective Preferential Tariff – CEPT) Về thực chất, CEPT là một thỏa thuậngiữa các nước thành viên ASEAN về việc giảm thuế trong nội bộ khối xuống còn 0 – 5%

Trang 4

thông qua những kế hoạch giảm thuế khác nhau Trong vòng 5 năm sau khi đạt mức thuế

ưu đãi cuối cùng, các nước thành viên sẽ tiến hành xóa bỏ các hạn ngạch nhập khẩu vànhững hang rào phi thuế quan khác

Nguyên tắc của hiệp định CEPT/AFTA là cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, quan hệ có

đi có lại

1.3 Nội dung và triển vọng hợp tác

a Nội dung

 Khu vực AFTA hình thành dựa trên một số nội dung cơ bản sau:

- Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung

- Thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hàng hóa giữa các nước thành viên

- Công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hang hóa

- Xóa bỏ những quy định hạn chế đối với hoạt động thương mại

- Tăng cường hoạt động kinh tế vĩ mô

Để xây dựng AFTA thành công, các nước đã ký kết Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệulực chung CEPT là nội dung đồng thời là công cụ quan trọng nhất nhằm biến ASEANthành khu vực mậu dịch tự do và thực hiện thành công mục tiêu AFTA Nội dung củaHiệp định CEPT bao gồm 10 điều EPT (Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lựcchung) là một cơ chế thuộc AFTA cho phép đến 2003, 98% dòng thuế hàng hoá của cácnước thành viên có 40% nguồn gốc khu vực sẽ được giảm thuế suất đến 0-5% khi lưuhành trong khu vực Ngoại lệ cho Việt Nam đến 2006, Lào và Mianma đến 2008 vàCampuchia đến 2010 (mỗi quốc gia có 10 năm sau khi gia nhập để thực hiện chươngtrình này) Sau mốc đó, chỉ các mặt hàng thuộc ngoại lệ chung và một số mặt hàng nôngsản nhạy cảm mới được loại trừ

Các nước thành viên có thể không thực hiện CEPT đối với các mặt hàng trong 3 trườnghợp sau:

1/ Các mặt hàng loại trừ tạm thời (cơ bản sẽ giảm thuế suất xuống 0-5 % nhưng được tạmthời bảo hộ gia hạn thời gian thực hiện);

2/ các mặt hàng nông sản nhạy cảm (hạn cuối thực hiện CEPT là 2010);

3/ Các ngoại lệ chung (chỉ các sản phẩm mà quốc gia xét thấy cần thiết để bảo vệ an ninhquốc gia, đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ, đời sống của nhân dân, của các sinh vật, bảo

Trang 5

vệ các sản phẩm nghệ thuật, lịch sử, giá trị khảo cổ học Tỷ lệ các mặt hàng này chiếmkhoảng 1% trong số các mặt hàng thuế của ASEAN).

Tuy nhiên, quy định này đã được một số nước vận dụng để phục vụ mục đích khác nhưbảo hộ sản xuất, đảm bảo thu ngân sách…Do đó, ASEAN sẽ tăng cường rà soát, kiểm tra

để đưa các mặt hàng không phù hợp vào thực hiện giảm thuế quan và loại bỏ hàng ràophi quan thuế

Theo kế hoạch dài hạn, các nước thành viên ASEAN sẽ nhất trí áp dụng tỷ lệ thuế quan0% đối với hầu hết tất cả các mặt hàng nhập khẩu đến 2010, riêng 4 quốc gia thành viênmới hạn cuối là 2015

 Các điều khoản chung :

1 Tất cả các Quốc gia thành viên sẽ tham gia Chương trình CEPT

2 Việc xác định các sản phẩm để đưa vào Chương trình CEPT sẽ dựa trên cơ sở nhómsản phẩm, tức là ở mức HS 6 chữ số

3 Một sản phẩm được coi là có xuất xứ từ các Quốc gia thành viên ASEAN nếu trongthành phần của sản phẩm đó có chứa ít nhất 40% hàm lượng có xuất xứ từ bất cứ mộtQuốc gia thành viên ASEAN nào

4 Tất cả các sản phẩm chế tạo, bao gồm hàng tư liệu sản xuất và nông sản chế biến sẽnằm trong Chương trình CEPT Những sản phẩm này sẽ nghiễm nhiên được đưa vàoChương trình cắt giảm thuế quan theo qui định tại Điều 4 của Hiệp định Đối với nhữngsản phẩm thuộc diện PTA, sẽ áp dụng chương trình cắt giảm thuế quan quy định tại Điều4A của Hiệp định này, có xem xét tới mức thuế quan sau khi đã áp dụng mức ưu đãi(MOP) kể từ ngày 31/12/1992

5 Tất cả các sản phẩm thuộc diện PTA không nằm trong danh mục cắt giảm thuế theoChương trình CEPT thì sẽ tiếp tục được hưởng MOP hiện có tính từ ngày 31/12/1992

6 Các quốc gia thành viên đã thực hiện cắt giảm thuế từ 20% và thấp hơn xuống 0-5%đối với các sản phẩm đã được thoả thuận, mặc dù đã được hưởng quy chế tối huệ quốc(MFN), vẫn sẽ được hưởng các ưu đãi Các Quốc gia thành viên có mức thuế quan ở mứcthuế MFN là 0-5%, sẽ được coi là đã hoàn thành các nghĩa vụ theo Hiệp định này vàcũng được hưởng các ưu đãi

 Cơ chế trao đổi nhượng bộ của kế hoạch CEPT

Trang 6

Những nhượng bộ khi thực hiện CEPT của các quốc gia được trao đổi trên nguyên tắc có

Sản phẩm đó phải có chương trình cắt giảm thuế được Hội đồng AFTA thông qua

Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN tức là phải thoả mãn yêu cầu hàmlượng xuất xứ từ các nước thành viên ASEAN ít nhất là 40%

Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các sản phẩm là đầu vào nhập khẩu từ các mức từ khôngphải là thành viên ASEAN là giá CIF tại thời điểm nhập khẩu Giá trị nguyên vật liệu, bộphận,sản phẩm là đầu vào không xác định được xuất xứ xuất khẩu là giá xác định banđầu trước khi đưa vào chế biến trên lãnh thổ của nước xuất khẩu, là thành viên củaASEAN

Nếu một sản phẩm có đủ điều kiện trên sẽ được hưởng mọi ưu đãi mà quố gia nhập khẩuđưa ra (sản phẩm được hưởng ưu đãi hoàn toàn) Nếu sản phẩm thoả mãn các yêu cầutrên trừ việc có mức thuế quan nhập khẩu bằng hoặc thấp hơn 20% (tức là sản phẩm đó

có thuế suất trên 20%) thì sản phẩm đó chỉ được hưởng thuế suất CEPT cao hơn 20%trước đó hoặc thuế suất MFM tuỳ thuộc thuế suất nào thấp hơn

Để xác định các sản phẩm có điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan theo chương trình CEPThay không, mỗi nước thành viên hàng năm xuất bản tài liệu trao đổi ưu đãi CEPT củanước mình, trong đó thuế của các sản phẩm có mức thuế quan theo CEPT và các sảnphẩm đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan của các nước thành viên khác

b Triển vọng hợp tác của AFTA

- Về trình độ hợp tác thương mại giữa các nước ASEAN: Hình thành khu vực mậu dịch

tự do cho toàn khu vực, sau đó có thế trở thành một đồng minh thuế quan, một thị trườngchung và cao hơn nữa là một hiệ định kinh tế khu vực Đến năm 2015, AFTA sẽ trở thànhmột liên hiệp thuế quan

- Hợp tác ngày càng có hiệu quả sang các lĩnh vực mới như TMDV, TM quyền sở hữu trítuệ, lập khu đầu tư ASEAN

Trang 7

- Thương mại nội khối sẽ không ngừng gia tăng, khai thác tốt được khả năng bổ sung chonhau và liên kết năng cao được khả năng cạnh tranh

- Mở rộng hợp tác thương mại ra bên ngoài khu vực không ngừng gia tăng và chi phốimạnh mẽ đến buôn bán nội khối và thể chế hợp tác

1.2 Cam kết của Việt Nam trong CEPT/AFTA

Việt Nam gia nhập ASEAN (7/1995) và ký Hiệp định CEPT vào thời điểm mà các nướcthành viên khác đã có 3 năm để thực hiện Theo quy chế của ASEAN đối với một thànhviên mới, thời hạn để Việt Nam hoàn thành quá trình tham gia thiết lập AFTA (bắt đầuthực hiện cắt giảm thuế, thời hạn chuyển dần từ danh mục loại trừ tạm thời sang danhmục cắt giảm thuế quan cũng như ra hạn chế để hoàn thành cắt giảm thuế quan) sẽ muộnhơn các nước thành viên khác 3 năm Có nghĩa là, Việt Nam bắt đầu giảm thuế từ01/01/1996 và kết thúc vào năm 2006 Các mặt hàng trong danh mục loại trừ tạm thời sẽchuyển dần sang danh mục cắt giảm thuế quan theo 5 bước, mỗi bước áp dụng cho 20%

số mặt hàng của danh mục loại trừ tạm thời và bước đầu tiên được bắt đầu thực hiện từnăm 1998 và bước kết thúc 2003 So với các nước thành viên khác, Hiệp định CEPTđược các nước thành viên thoả thuận và ký kết năm 1992 song việc thực hiện chỉ bắt đầu01/01/1994 Như vậy các nước đã có khoảng thời gian 2 năm để thực hiện tất cả các vấn

đề liên quan và đối với Việt Nam thời gian để chuẩn bị cho việc tham gia Hiệp địnhCEPT là không quá nửa năm Cũng có quan điểm cho rằng Việt Nam có đủ thời gian đểchuẩn bị vì Việt Nam là quan sát viên của ASEAN từ tháng 7 năm 1992 Nhưng thực tế ý

đồ chỉ đạo các Bộ, ngành chuẩn bị để tham gia ASEAN, và nhất là tham gia thực hiệnAFTA chỉ được đưa ra từ giữa năm 1995 Thời gian chuẩn bị như vậy là rất bị động, nhất

là nêu liên hệ với thời gian đệ trình các danh mục hàng hóa theo chương trình CEPT làtrong tháng 12/1995

Để có thể phân tích rõ tình hình thực hiện AFTA của Việt Nam, trước hết cần làm rõ vềmặt tổ chức tham gia thực hiện AFTA Như chúng ta đã biết AFTA được thực hiện thôngqua các yếu tố:

• Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung CEPT

• Thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hàng hóa giữa các nước thành viên

• Công nhận việc xóa những quy định hạn chế đối với ngoại thương

• Hoạt động tư vấn kinh tế vĩ mô

Và thực tiễn thực hiện AFTA của Việt Nam trong thời gian vừa qua cũng sẽ được phântích cụ thể theo 3 lĩnh vực cho các ngành phụ trách:

• Lĩnh vực cắt giảm thuế quan

Trang 8

• Lĩnh vực loại bỏ các hạn chế định lượng (Qrs) và các rào cản phi thuế quan khác(NTBs)

• Lĩnh vực hợp tác hải quan

Tham gia thực hiện khu vực thương mại tự do ASEAN, Việt Nam gặp không ít khó khăntrong việc xây dựng chương trình cắt giảm thuế quan theo Hiệp định CEPT do xuất phátđiểm nền kinh tế Việt Nam thấp hơn so với các nước thành viên khác

Bảng 1: Cơ cấu thuế suất của biểu thuế nhập khẩu Việt Nam (1999)

Tỷtrọng(%)

Sốnhómmặthàng

Tỷtrọng(%)

Sốnhómmặthàng

Tỷtrọng(%)

Sốnhómmặthàng

Tỷtrọng(%)

1700 53.1 199 9.31 636 19.81 546 17 25 10.78

Nguồn: biểu thuế xuất nhập khẩu, Bộ Tài chính.

Trong tổng hơn 3000 nhóm mặt hàng của Biểu thuế nhập khẩu hiện hành của Việt Nam,hơn một nửa tổng số nhóm mặt đã phù hợp với mức thuế tiêu chuẩn đặt ra cho chươngtrình CEPT, điều đó có nghĩa là về thực chất Việt Nam chỉ phải thực hiện giảm thuế chogần 50% của tổng số nhóm mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu hiện hành So với cácnước thành viên ASEAN khác khi bắt đầu thực hiện chương trình cắt giảm thuế theoHiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung thì tỷ lệ thuế suất từ 0%-5% của Việt Nam nhiều hơn rất nhiều ( như Indonesia khi bắt đầu tham gia chương trìnhCEPT chỉ có 9% tổng số nhóm mặt hàng có thuế suất dưới 5%, Thái Lan có 27%,Philipin có 32%) Đây là một thuận lợi khi Việt Nam tham gia thực hiện chương trình cắtgiảm thuế quan theo quy định của Hiệp định CEPT

Tuy nhiên, trong cơ cấu biểu thức nhập khẩu của Việt Nam, mức thuế suất thấp chủ yếu

áp dụng cho các mặt hàng là nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất, xuất khẩu Tỷtrọng lớn của số các thuế suất trong khoảng 0 - 5% phù hợp với điều kiện của Việt Namtrong giai đoạn khi nhiều nguyên vật liệu là đầu vào mà sản xuất trong nước chưa đủ khảnăng đáp ứng Các thuế suất trên 60% được áp dụng chủ yếu đối với các mặt hàng xa xỉphẩm, đồ dùng thiết bị với mục đích điều chỉnh tiêu dùng

Trang 9

Cho đến thời điểm 01/01/1996 Việt Nam chỉ áp dụng đối với các hàng hóa nhập khẩu vớimột loại thuế chung nhất là thuế nhập khẩu với mức thuế suất tương đối cao so với cácnước khác, nhất là hàng hóa xa xỉ phẩm

Về mặt số học đơn thuần, hiện nay các nước ASEAN chiếm khoảng 30% tổng kim ngạchcủa Việt Nam trong khi số thu từ thuế nhập khẩu của Việt Nam chiếm đến 1/4 trong tổng

số thu ngân sách Do đó nếu dự kiến thương mại giữa ASEAN và Việt Nam vẫn giữ ởmức hiện nay trong khi giảm toàn bộ thuế suất của thuế nhập khẩu xuống mức thuếchung là 5% trong các điều kiện hiện hành về các chính sách thì số thuế sẽ giảm đi đáng

kể cho việc giảm nguồn thu từ thuế nhập khẩu đánh vào hàng hóa ASEAN từ các nướcASEAN Trên tinh thần CEPT/AFTA là xây dựng các danh mục hàng hóa để thực hiệnchương trình cắt giảm thuế và để thực hiện phương án chung, thực hiện AFTA của ViệtNam, trong thời gian qua chúng ta đã tiến hành nghiên cứu, phân loại các ngành sản xuấttrong nước theo 3 nhóm dựa trên khả năng cạnh tranh, ưu thế, tiềm năng những khó khănvướng mắc hiện tại để xây dựng tiến trình giảm thuế quan cụ thể cho từng ngành hàngmột cách hiệu quả nhất

Nhóm ngành hàng có thế mạnh xuất khẩu

Nhóm các ngành hàng có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu trong tương lai

Nhóm các ngành có tiềm năng cạnh tranh kém

1.2.1 Lịch trình giảm thuế cho các ngành hàng có thế mạnh xuất nhập khẩu

Đây là những nhóm hàng bao gồm những hàng mà trong thời gian trước mắt những lợithế so sánh của Việt Nam dựa trên nguồn tài nguyên đa dạng phong phú, nguồn dao độngdồi dào, có thể tiếp thu tay nghề nhanh có thể tác dụng nhiều nhất Cụ thể là ngành hàngnông sản (với các mặt hàng gạo, cà phê, chè hạt điều ), cao su sơ chế, thuỷ sản, dệt may.Sau đây là một số mặt hàng cụ thể quan trọng trong nhóm các mặt hàng có thế mạnh xuấtkhẩu

Trang 10

Mặt hàng gạo tuy là thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam, đang cần được mở rộng thịtrường xuất khẩu nhưng được đưa vào thực hiện CEPT theo lịch trình chậm nhất vìnhững lý do sau :

Lý do kinh tế: Mặt hàng này sẽ vẫn còn cần Nhà nước quản lý chặt chẽ cung cầu và giá

cả trên thị trường trong nước vì là mặt hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến đại bộ phận dânchúng, nhất là nông dân Việc bảo hộ cho nông dân cần được trực tiếp duy trì trong thờigian nhiều năm nữa, tránh những bất ổn không lường trước được đối với mặt hàng nàytrong cả khâu sản xuất lẫn tiêu thụ Tránh những khả năng có thể gạo Thái Lan, nhất làloại gạo chất lượng tràn vào xâm nhập thị trường nước ta vì Thái Lan là nước mạnh nhất

về xuất khẩu gạo trong ASEAN và đã đưa mặt hàng này vào thực hiện CEPT

Lý do kỹ thuật: Ba nước Philipin, Inđônêxia, Malaixia là những thị trường mà nước ta cóthể đẩy mạnh xuất khẩu gạo thì đều đã để gạo trong danh mục nhạy cảm cao và chỉ đưagạo vào cắt giảm theo CEPT từ 2010 và kết thúc 2020 Do đó, nếu ta đưa gạo vào thựchiện CEPT sớm hơn từ nay đến năm 2010 cũng không được ưu đãi của các nước này, mặtkhác khi đó sản xuất trong nước sẽ trực tiếp bị sức ép cạnh tranh của gạo Thái Lan là đốithủ đang mạnh hơn

Có thể tăng lượng gạo xuất khẩu sang ASEAN qua việc đàm phán thương mại songphương hoặc theo kênh hợp tác kinh tế chung trong ASEAN chứ chưa khai thác được khảnăng tăng xuất khẩu sang ASEAN theo cơ chế CEPT trước năm 2010

Cà phê có lịch trình cắt giảm nêu trên được xây dựng căn cứ vào các lý do sau:

Lý do kinh tế: - Cà phê sơ chế là thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam và đang được xuấtkhẩu sang các nước ASEAN khác Cà phê thành phẩm có bước cắt giảm chậm hơn là vìkhâu chế biến của ta còn kém, cần có thêm thời gian để các doanh nghiệp tập trung đầu

tư thích đáng cho khâu này, đảm bảo tăng dần sức cạnh tranh với hàng của ASEAN

Trang 11

Lý do kỹ thuật: Theo quy định đối với danh mục cắt giảm các mặt hàng hiện có thuế suất

từ 20% trở xuống phải đạt từ 0%-5% vào 2003: các mặt hàng hiện có thuế suất trên 20%phải hạ xuống tới 20% hoặc thấp hơn vào năm 2001

 Chè: Lịch trình cắt giảm giống cà phê

b Ngành thủy sản:

Xuất khẩu của khu vực địa phương ngày càng tăng chiếm tới 73% kim ngạch xuất khẩuthủy sản (1996) Giá trị xuất khẩu hàng năm 21% Năm 1996, xuất khẩu đạt 550 triệuUSD, trong đó ASEAN chiếm 12% kim ngạch xuất khẩu hải sản Việt Nam đứng 19 trênthế giới về tổng sản lượng thứ 30 về kim ngạch xuất khẩu, thứ 5 về sản lượng tôm nuôi

Từ năm 1991-1995 trung bình hàng năm tổng sản lượng tăng 6,4%, giá trị xuất khẩu tăng21%

Lịch trình đưa thủy sản tham gia CEPT: Hầu hết các mặt hàng thủy sản đều được đưa vàodanh mục cắt giảm (trừ mặt hàng để làm giống)

Lý do kinh tế: Tuy ASEAN không phải là thị trường chính nhưng thủy sản vẫn là thếmạnh xuất khẩu trong khu vực của ta Tận dụng ưu đãi của các nước ASEAN theo CEPTcho hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, nâng cao hiệu quả xuất khẩu

Lý do kỹ thuật: Các nước đều đã đưa hàng thủy sản vào cắt giảm nên theo lịch trình nàythì theo lịch trình này thì hàng xuất khẩu của ta sẽ được hưởng mức ưu đãi nhiều trongkhi ta chỉ cắt giảm thuế nhập khẩu ở mức vừa phải

c Ngành dệt may:

Trong 5 năm qua toàn ngành dệt may đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 11% năm: xuấtkhẩu tăng 59%, chiếm 13,2% tổng kim ngạch xuất khẩu Khả năng cạnh tranh của ngànhdệt may nước ta so với các nước khác trong khu vực được đánh giá tương đối tốt ViệtNam có lợi thế về nguồn nhân công dồi dào, có khả năng tiếp thu nhanh công nghệ tiêntiến, giá công lao động thấp nhất

Trang 12

Ngành may mặc đã được đổi mới khá nhiều về thiết bị, công nghệ, nên chất lượng sảnphẩm và giá thành có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực

Tơ tằm và lụa có khả năng cạnh tranh tốt so với các nước trong khu vực, có thể tăngcường hơn nữa xuất khẩu sang ASEAN

Lịch trình đưa vào tham gia CEFT:

- Vải giày dép: có lịch trình cắt giảm gần như muộn nhất để tránh cạnh tranh trong lĩnhvực này của hàng từ ASEAN, kéo dài hạn bảo hộ cho sản xuất trong nước và hạn chế ảnh

hưởng gián thu Hơn nữa, hiện nay mặt hàng giày dép của Việt Nam sản xuất hầu như chỉ

xuất khẩu sang thị trường qua khu vực ASEAN

- May mặc: lĩnh vực này có thể cạnh tranh được trên thị trường trong khu vực được đưavào cắt giảm sớm để tranh thủ ưu đãi CEPT; tăng tỷ trọng xuất khẩu trực tiếp, năng caohiệu quả xuất khẩu

d Mặt hàng cao su ( cao su tự nhiên )

Từ năm 1991-2000 xuất khẩu cao su của Việt Nam tăng trưởng bình quân 18,6%/năm

Trang 13

So với các nước ASEAN khác như Inđônêxia, Malaixia và Thái Lan là những nước xuấtkhẩu cao su lớn trên thế giới, sản lượng cao su của nước ta còn rất nhỏ, chỉ xấp xỉ 1/10đến 1/17 sản lượng hàng năm của ta còn hạn chế về số lượng, cơ cấu chủng loại sản phẩm

và khách hàng truyền thống Năm 1998, ASEAN chiếm 17% kim ngạch xuất khẩu cao sutrong đó riêng Singapo chiếm 13% Các mặt hàng cao su sơ chế đến nay đã đưa vào thựchiện CEPT, với thuế suất hiện hành rất thấp (1%) nên thực tế sẽ không phải cắt giảmthuế

2.1.2 Lịch trình giảm thuế cho các ngành hàng có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu trong tương lai

Lịch trình giảm thuế nhìn chung sẽ được dự kiến với tiến trình chậm nhất chophần lớn các ngành hàng trong nhóm này để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trongnước có thể phát triển lên một mức độ nhất định trước khi phải đối đầu với môi trườngcạnh tranh với hàng nhập khẩu từ các nước ASEAN Khi các mặt hàng này được đưa vàogiảm thuế, các chính sách thương mại khác thông qua tỷ giá và biện pháp bảo hộ phi thuếquan sẽ giữ một vai trò rất quan trọng góp phần giảm thu cho ngân sách đồng thời tạođiều kiện trực tiếp bảo hộ cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước Sau đây là lịch trình

cụ thể của một số mặt hàng thuộc các ngành hàng có thể cạnh tranh với hàng nhập khẩutrong tương lai

Ngày đăng: 28/08/2017, 20:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w