Mục tiêu này sẽ dẫn đến sự thay đổi lớntrên thị trường lao động, mang đến nhiều cơ hội việc làm và những yêu cầu cao hơnđối với người lao động nhưng đồng thời cũng tạo ra các thách thức
Trang 1ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ
LỢI THẾ VÀ BẤT LỢI CỦA NGUỒN NHÂN LỰC
VIỆT NAM SO VỚI CÁC NƯỚC AEC
GVHD: Th.S Trần Minh Trí
Thành phố Hồ Chí MinhTháng 05 năm 2016
PHỤ LỤC
Trang 2I MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2.Mục tiêu 1
3.Phương pháp nghiên cứu 1
II NỘI DUNG 2
1.Lợi thế và bất lợi của nguồn nhân lưc Việt Nam so với các nước AEC 2
1.1.Lợi thế 2
1.2.Bất lợi 6
2.Giải pháp nâng cao chất lượng lao động 13
III.KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3I MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập vào cuối năm 2015 là mộtbước ngoặc đánh dấu sự hòa nhập toàn diện của các nền kinh tế Đông Nam Á Cộngđồng Kinh tế ASEAN (AEC) bao gồm 10 quốc gia với dân số hơn 620 triệu người.Trong đó, lực lượng lao động chiếm tỷ lệ gần 50%, khoảng 300 triệu người Ba quốcgia có số lao động chiếm tỷ trọng hơn 70% là Indonesia (40%), Philippines (16%) vàViệt Nam (15%) Một trong những mục tiêu cấu thành của AEC là “Một thị trườngđơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua: Tự do lưu chuyên hànghóa; Tự do lưu chuyên dịch vụ; Tự do lưu chuyển đầu tư; Tự do lưu chuyển vốn và
Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề” Mục tiêu này sẽ dẫn đến sự thay đổi lớntrên thị trường lao động, mang đến nhiều cơ hội việc làm và những yêu cầu cao hơnđối với người lao động nhưng đồng thời cũng tạo ra các thách thức đòi hỏi nguồnnhân lực phải có kỹ năng cùng với kiến thức chuyên môn
Việt Nam là một thành viên của Cộng đồng kinh tế ASEAN nên việc lao động dichuyển giữa các nước thành viên trong đó có Việt Nam là tất yếu và cũng là cơ hộitrong quá trình hội nhập và cạnh tranh trên phân khúc thị trường lao động có kỹnăng Cạnh tranh trên thị trường lao động sẽ trở nên gay gắt và sự tham gia của laođộng nước ngoài trên thị trường lao động Việt Nam là vấn đề được xã hội quan tâmnhất hiện nay
3 Phương pháp nghiên cứu:
Thu thập số liệu sơ cấp, phân tích, tổng hợp
Trang 4II NỘI DUNG
Hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN giúp thị trường lao động trong ASEANsôi động hơn, thúc đẩy tạo việc làm cho từng quốc gia thành viên Cũng theo dự báocủa Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khi tham gia AEC, số việc làm của Việt Nam
sẽ tăng lên 14,5% vào năm 2025
Tuy nhiên, do trình độ phát triển không đồng đều, nên hiện nay, lao động có taynghề và kỹ năng cao trong khối ASEAN chủ yếu di chuyển vào thị trường Singapore,Malaysia và Thái Lan Còn lại, hầu hết các lao động di chuyển trong phạm viASEAN là lao động trình độ kỹ năng thấp hoặc không có kỹ năng
Kết quả khảo sát các chủ sử dụng lao động tại 10 quốc gia ASEAN do ILO thựchiện cho thấy, doanh nghiệp trong khối ASEAN hiện đang rất lo ngại về tình hìnhthiếu hụt lực lượng lao động có tay nghề và kỹ năng trước sự ra đời của Cộng đồngKinh tế ASEAN vào năm 2015; gần 50% chủ sử dụng lao động trong khối ASEANtrong cuộc khảo sát cho biết, người lao động tốt nghiệp phổ thông không có được kỹnăng họ cần; cử nhân tốt nghiệp đại học có được những kỹ năng có ích nhưng cũngchưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp (cả về số lượng và chất lượng)
1 Lợi thế và bất lợi của nguồn nhân lực Việt Nam so với các nước AEC:
1.1 Lợi thế:
1.1.1 Nguồn lao động dồi dào, cơ cấu dân số vàng
Lợi thế lớn nhất của Việt Nam là có lực lượng lao động dồi dào và cơ cấu laođộng trẻ
Bảng 1 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc hàng năm phân theo nhóm tuổi
Trang 5Nguồn: TCTK
Ta có biểu đồ lao động từ 15 tuổi trở lên hàng năm phân theo nhóm tuổi:
15-19 20-24 25-29 30-34 35-39 40-44 45-49 50+ 0
1.1.2. Tỷ lệ lực lượng tham gia lao động của dân số lớn
Bảng 2 Tỷ lệ lực lượng tham gia lao động
Trang 6Ta có biểu đồ tỷ lệ lực lượng tham gia lao động:
1.1.3 Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT), chất lượng của nguồn nhân lực đang dần được nâng cao.
Bảng 3 Số lượng và tỷ lệ lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật
Trang 72 Tỷ lệ (%)
Nguồn: TCTK (2014,2015), Điều tra LĐ-VL hằng quý
Về cơ cấu theo các cấp trình độ, quý 4/2015 có gần 4,84 triệu người có trình độđại học trở lên (chiếm 43,88%), hơn 1,47 triệu người có trình độ cao đẳng chuyênnghiệp (chiếm 13,34%), 180 nghìn người có trình độ cao đẳng nghề (chiếm 1,63%),gần 2,14 triệu người có trình độ trung cấp chuyên nghiệp (chiếm 19,42%), 710 nghìnngười có trình độ trung cấp nghề (chiếm 6,44%) và 1,68 triệu người có trình độ sơcấp nghề (chiếm 15,25%) So với quý 4/2014, lao động có trình độ CMKT tăng ở 4nhóm: đại học trở lên tăng 735 nghìn người (17,90%); cao đẳng chuyên nghiệp tăng
296 nghìn người (25,07%); trung cấp chuyên nghiệp tăng 132 nghìn người (6,6%) và
sơ cấp nghề tăng 108 nghìn người (6,88%) Lao động có trình độ CMKT bị giảm ở 2nhóm: cao đẳng nghề giảm 105 nghìn người (-36,99%); trung cấp nghề giảm 155nghìn người (-17,83%)
1.1.4 Cơ cấu lao động đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực
Bảng 4 Cơ cấu lực lượng lao động theo ngành
Nguồn: TCTK (2014, 2015), Điều tra LĐ-VL hằng quý
Ta có biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động theo ngành :
Trang 8Quý 4/2015, cơ cấu lao động theo nhóm ngành có sự chuyển dịch theo hướng:
tỷ trọng lao động nhóm ngành Nông - lâm - thủy sản (NLTS) tiếp tục giảm còn42,3% (quý 3/2015 là 44,54%); nhóm ngành dịch vụ tăng lên 33,4% (quý 3/2015 là33%); tuy nhiên nhóm ngành công nghiệp và xây dựng (CN-XD) lại giảm nhẹ, còn24,3% (quý 3/2015 là 22,46%)
1.1.5 Tính cần cù, chịu khó
Nguồn nhân lực nước ta còn có lợi thế là được tiếp thu truyền thống lịch sử củađất nước: Truyền thống cần cù, siêng năng, chịu khó, yêu lao động Người lao độngViệt Nam được đánh giá là thông minh, cần cù, khéo léo, có trình độ dân trí, học vấnkhá cao so với mức thu nhập quốc dân, tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vàcông nghệ của thế giới Đây là lợi thế so sánh có ý nghĩa đối với nguồn nhân lực ViệtNam trong quá trình tham gia hội nhập
1.2 Bất lợi
1.2.1 Lực lượng lao động không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nước ta còn thấp.
Trang 9Bảng 5 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào
tạo phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
ôn kỹ
thuật
Cao
đẳng
Đại học
ở lên
0 20 40 60 80
Tỷ lệ lao động phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật
Trang 10động qua đào tạo cao đẳng và đại học trở lên cũng tăng qua các năm Tuy nhiên tỷ lệlao động qua đào tạo vẫn còn ở mức thấp nên không thể đáp ứng được yêu cầu pháttriển kinh tế, xã hội của đất nước, không làm chủ được các công nghệ hiện đại, tiêntiến của thế giới, không cạnh tranh được với thị trường lao động của các quốc gia(năm 2011, Việt Nam xếp thứ 65/141 nước được xếp hạng về năng lực cạnh tranh).
Bảng 6 Bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia các nước ASEAN
Năm 2015-2016, Việt Nam đứng thứ 56 trong bảng xếp hạng sức cạnh tranhgiữa các nước ASEAN Sức cạnh tranh kém sẽ dẫn tới sự hoạt động trì trệ, thậm chí
là phá sản của các doanh nghiệp dẫn tới một bộ phận lao động bị mất việc làm
1.2.2 Chất lượng và cơ cấu lao động, vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nh ập
Hình 1 Tỷ lệ lao động qua đào tạo của lực lượng lao động giai đoạn 2005-2013
Trang 11Nguồn: Niên giám thống kê 2014
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo cótăng lên, nhưng vẫn còn thấp Năm 2013, lực lượng lao động đã qua đào tạo chiếm17,9% ( năm 2005 tỷ lệ này là 12,5%) Tỷ lệ lao động qua đào tạo ở nông thôn chỉđạt 11,2%, trong khi đó tỷ lệ này ở thành thị là 33,7%
1.2.3 Trình độ của lực lượng lao động không đáp ứng được sự phát triển trình độ khoa học – công nghệ ngày càng cao.
Trong nền kinh tế hội nhập, việc ứng dụng khoa học công nghệ ngày càng đượcthúc đẩy, làm xuất hiện nhiều ngành công nghệ cao, việc ứng dụng này đỏi hỏi cóvốn lớn, nhưng lại ít lao động, chủ yếu yêu cầu là lao động có chuyên môn kỹ thuật.Trong khi đó, tỷ lệ lao động Việt Nam có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ có 18,2%(năm 2014) tình trạng này sẽ dẫn đến sự dư thừa lao động, nhất là lao động phổthông
Hình 2 Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động theo trình độ CMKT, quý
3/2015 và quý 4/2015
ĐVT: Nghìn người
Trang 12Nguồn: TCTK (2015), Điều tra LĐ-VL quý 3/2015 và quý 4/2015
Trong số những người bị thất nghiệp, có 417,3 nghìn người có CMKT (chiếm39,7%), bao gồm: 155,5 nghìn người từ đại học trở lên; 115,0 nghìn người đạy trình
độ đẳng chuyên nghiệp; 6,1 nghìn người đạt trình độ cao đẳng nghề; 63,8 nghìnngười đạt trình độ trung cấp chuyên nghiệp; 15,0 nghìn người đạt trình độ trung cấpnghề; 26,9 nghìn người đạt trình độ sơ cấp nghề và 35,2 nghìn người có chứng chỉnghề dưới 3 tháng
So với quý 3/2015, số người bị thất nghiệp có CMKT giảm 78 nghìn người.Trong đó, giảm ở năm nhóm: trình độ đại học trở lên (-70 nghìn người); sơ cấp nghề(-18,32 nghìn người); cao đẳng nghề (-9,03 nghìn người); trung cấp nghề (-8,08nghìn người) và cao đẳng chuyên (-2,33 nghìn người) Ngược lại, số người cóCMKT bị thất nghiệp tăng ở hai nhóm: chứng chỉ nghề dưới 3 tháng (26,23 nghìnngười); trung cấp chuyên nghiệp (3,54 nghìn người)
1.2.4 Chất lượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập
Khoảng 45% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp hầu như chưa qua đào tạo.Chất lượng nguồn nhân lực nước ta còn thấp, là một trong những “điểm nghẽn” cảntrở sự phát triển Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, lao động qua đào tạonghề (gồm cả dạy nghề chính quy và thường xuyên, phi chính quy, dạy nghề dưới 3tháng và dạy nghề tại doanh nghiệp) chiếm khoảng 34% tổng số lao động trong cảnước Trên thực tế, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn thấp và có khoảngcách khá lớn so với các nước trong khu vực
Ngân hàng Thế giới đánh giá Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề,công nhân kỹ thuật bậc cao Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực củaViệt Nam chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của Ngânhàng Thế giới (trong khi Hàn Quốc đạt 6,91 điểm; Ấn Độ đạt 5,76 điểm; Malaysiađạt 5,59 điểm Do vậy nên năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ởchâu Á - Thái Bình Dương (thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần)
1.2.5 Ảnh hưởng của nền văn hóa nông nghiệp tới năng suất lao động.
Trang 13Bảng 7 Một số chỉ tiêu kinh tế và thị trường lao động của Việt Nam
làm tốt hơn và thịnh vượng chung (Bangkok, ILO, 2014), Phụ lục F.
Với đặc điểm là một nước nông nghiệp, tới 48,8% tỷ lệ lao động trong lĩnhvực nông nghiệp (năm 2013) thì khi tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế, người laođộng nước ta phần lớn vẫn thiếu tác phong công nghiệp như giờ cao su, làm việc theocảm hứng cộng với tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp sẽ dẫn tớinăng suất lao động bình quân không cao
Bả
ng 8 Năng suất lao động thời kỳ 2007-2013 (USD, PPP2005)
tăng bìnhquân (%)ASEAN 9,173 9,396 9,366 9,868 10,09
97,758
98,831
99,362
100,051
100,015
-0.53
Cambodia 3,333 3,427 3,334 3,460 3,619 3,797 3,989 2.99Indonesia 7,952 8,253 8,439 8,763 9,130 9,486 9,848 3.63Lao PDR 4,029 4,216 4,399 4,636 4,865 5,115 5,396 4.99
Trang 14Malaysia 31,907 32,868 31,89
9
33,344
34,056
35,018 35,751 1.92
Myanmar 2,229 2,282 2,364 2,454 2,560 2,683 2,828 4.07Philippine
98,775
96,573 98,072 1.47
Thailand 12,994 13,205 12,92
2
13,813
13,666
13,093
14,003 14,985 8.48
India 6,746 7,021 7,596 8,359 8,832 9,073 9,307 5.99Japan 63,245 62,746 60,05
5
62,681
63,018
57,129
1.2.6 Hạn chế về trình độ ngoại ngữ và tin học
Trong nền kinh tế hội nhập, Việt nam tiến hành giao lưu với nhiều quốc gia trênthế giới nên đòi hỏi sự thành thạo về ngoại ngữ và tin học của lực lượng lao độngcao Nhưng tỷ lệ thành thạo ngoại ngữ và tin học của Việt Nam còn thấp Đây là mộtrào cản khi chúng ta hợp tác với các quốc gia khác cũng như khi sử dụng các côngnghệ thông tin
Theo khảo sát của Vụ Giáo dục Đại học năm 2015 về việc sinh viên sau khi ratrường đáp ứng yêu cầu kỹ năng tiếng Anh, chỉ có khoảng 49,3% sinh viên đáp ứngđược yêu cầu của người sử dụng, 18,9% sinh viên không đáp ứng được và 31,8%
Trang 15sinh viên cần đào tạo thêm Như vậy, có thể nói vẫn còn rất nhiều sinh viên sau khi
ra trường khó đáp ứng được nhu cầu giao lưu bằng ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh Khi đánh giá về nguyên nhân dẫn đến chất lượng lao động chưa cao, ĐBQH NguyễnPhi Thường (Hà Nội) đã từng chỉ ra rằng, hệ thống giáo dục, đào tạo của chúng tathiên về lý thuyết, thiếu đào tạo kỹ năng Sự chưa nhịp nhàng về cung của đào tạo vàcầu của thị trường và những bất cập của hệ thống đào tạo hàng năm khiến nhiều sinhviên ra trường không có việc làm và đã xảy ra tình trạng “thủ khoa đi làm thợ mộc,
kỹ sư làm xe ôm, cử nhân làm giúp việc”… Thực trạng mà ông Thường chỉ ra đãphản ánh được tình trạng bất cập giữa đầu vào và đầu ra của thị trường lao động.Việc thiếu định hướng từ chính sách đào tạo cùng với tư duy bằng cấp đã tạo nêntình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, thất nghiệp cả những nguồn lao động đã được đàotạo, tạo nên một sự lãng phí rất lớn Chưa kể, ngay cả đội ngũ được coi là đã đượcqua đào tạo ấy cũng chưa bảo đảm được chất lượng theo yêu cầu thị trường Có rấtnhiều doanh nghiệp cho rằng, sau khi tuyển dụng đầu vào, doanh nghiệp phải mấtthời gian cho chi phí đào tạo lại cho những đối tượng này mất từ 3 đến 6 tháng, màchi phí đào tạo này của doanh nghiệp không phải là nhỏ
Nguyên nhân chủ yếu của hiện trạng chất lượng nguồn nhân lực thấp:
Do công tác đào tạo hiện nay chưa phù hợp, chất lượng đào tạo còn hạn chế,chưa thực sự đáp ứng yêu cầu sử dụng nhân lực và nhu cầu của người học, chưa theokịp sự chuyển biến của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hộinhập quốc tế, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, giữa dạychữ với dạy người, dạy nghề,…
Mặt khác, hệ thống thông tin của thị trường lao động Việt Nam hiện nay cònnhiều yếu kém và hạn chế, như bị chia cắt giữa các vùng, miền; khả năng bao quát,thu thập và cung ứng thông tin chưa đáp ứng được nhu cầu các đối tác trên thị trườnglao động, đặc biệt là người chủ sử dụng lao động và người lao động Hệ thống chỉtiêu về thị trường lao động tuy đã ban hành nhưng chưa hoàn thiện, chưa đầy đủ,thiếu thống nhất và khó so sánh quốc tế Do vậy, chưa đánh giá được hiện trạng củacung - cầu lao động, các “nút thắt” về nhu cầu nguồn nhân lực trong nước Ngoài ra,còn thiếu mô hình dự báo thị trường lao động tin cậy và nhất quán, thiếu đội ngũ cán
bộ, chuyên gia làm công tác thống kê, phân tích, dự báo
Trang 162 Giải pháp nâng cao chất lượng lao động:
Để góp phần nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nhân lực Việt Nam, nhất
là khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập vào năm 2015, cần phải đổi mớicăn bản và toàn diện hệ thống giáo dục - đào tạo, trong đó có đào tạo nghề ở nước tavới một số giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của dạy nghề trong chiến lượcphát triển nhân lực của đất nước thời kỳ 2011 - 2020 Ưu tiên đầu tư đào tạo nghềtrong từng chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, vùng,ngành Hình thành thang giá trị nghề nghiệp trong xã hội
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế, chính sách về dạy nghề, học nghề; sửa Luật Dạynghề và các quy định liên quan Có cơ chế để cơ sở dạy nghề là một chủ thể độc lập,
tự chủ Có chính sách đãi ngộ, thu hút giáo viên dạy nghề; chính sách đối với ngườiđứng đầu cơ sở dạy nghề, người lao động qua đào tạo nghề; chính sách đào tạo liênthông, hỗ trợ người học nghề Xây dựng cơ chế để các doanh nghiệp và cơ sở sửdụng lao động tham gia xây dựng, đánh giá, điều chỉnh chương trình đào tạo, hướngdẫn thực hành và đánh giá năng lực người học, hướng tới doanh nghiệp phải là mộttrong những chủ thể đào tạo nghề Đổi mới chính sách tài chính về dạy nghề; đẩymạnh xã hội hóa, đa dạng nguồn lực cho phát triển dạy nghề; khuyến khích hợp tác
và thành lập các cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngoài cũng như các cơ sở dạynghề chuyên biệt đối với người khuyết tật, người dân tộc thiểu số
Thứ ba, đổi mới cơ cấu dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân Chuyển
hệ thống dạy nghề khép kín thành hệ thống đào tạo mở, linh hoạt, liên thông giữa cácthành tố của hệ thống và liên thông với các bậc học khác Đổi mới cơ cấu hệ thốngdạy nghề trên cơ sở khung trình độ quốc gia, tiêu chuẩn kỹ năng nghề phù hợp vớiđất nước, xu thế các nước trong khu vực và trên thế giới Hình thành hệ thống giáodục nghề nghiệp gồm ba cấp trình độ là sơ cấp, trung cấp và cao đẳng, trên cơ sở sápnhập trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp; cao đẳng nghề và cao đẳng
Thứ tư, tăng cường các điều kiện bảo đảm chất lượng dạy nghề, bao gồm pháttriển đội ngũ giáo viên dạy nghề chuẩn hóa về trình độ đào tạo, kỹ năng nghề, nghiệp
vụ sư phạm theo các cấp độ (quốc gia, khu vực và quốc tế) Phát triển chương trìnhđào tạo phù hợp với công nghệ sản xuất hiện đại theo hướng mở, linh hoạt, thích hợp