Do vậy, Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận đã lựa chọn một vùng ven biển ở phía bắc có hệ sinh tháirừng khô hạn, với trung tâm là Núi Chúa để thiết lập một khu bảo tồn thay thế Lê Trọng Trảipers
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
Trang 2MỤC LỤC
1 Giới thiệu Vườn quốc gia Núi Chúa
1.1 Quá trình hình thành Vườn quốc gia Núi Chúa
Núi Chúa là khu bảo tồn thiên nhiên theo Quyết định 194/CT ngày 09/08/1986 củaChủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, với tên gọi Rừng Khô Phan Rang có diện tích 1.000 ha Khubảo tồn thiên nhiên thuộc huyện An Phước (nay là Ninh Phước) Tuy nhiên, rừng của khuRừng Khô Phan Rang đã bị phá hủy nghiêm trọng trong những năm giữa thập kỷ 90 Do vậy,
Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận đã lựa chọn một vùng ven biển ở phía bắc có hệ sinh tháirừng khô hạn, với trung tâm là Núi Chúa để thiết lập một khu bảo tồn thay thế (Lê Trọng Trảipers comm.)
Trong năm 1997, Phân viện Điều tra Quy hoạch Rừng đã xây dựng dự án đầu tư vàđổi tên thành Khu Bảo tồn thiên nhiên Rừng khô hạn Núi Chúa (Anon 1997) Dự án đầu tưnày đã được Bộ NN&PTNT phê chuẩn ngày 12/01/1998 theo Quyết định số 243/BNN-PTLN
và Uỷ ban Nhân dân tỉnh Ninh Thuận phê chuẩn ngày 01/04/1998 theo Quyết định số659/QĐ-UBND Cũng trong tháng 4/1998, UBND tỉnh đã thành lập Ban Quản lý Khu Bảotồn Thiên nhiên với 30 cán bộ, trong đó có 18 cán bộ kiểm lâm hoạt động tại một văn phòng
và trạm kiểm lâm (Chi cục Kiểm lâm Ninh Thuận, 2000)
Tổng diện tích của khu bảo tồn thiên nhiên theo dự án đầu tư là 29.673 ha Tuy nhiên,khi phê chuẩn dự án đầu tư, Bộ NN&PTNT đã quyết định chuyển 5.320 ha
ra khu vực vùng đệm, do đó diện tích của vùng bảo tồn thiên nhiên chỉ còn 24.353 ha, trong
đó phân khu bảo vệ nghiệm ngặt có diện tích 16.087 ha, phân khu phục hồi sinh thái có diệntích 8.261 ha và phân khu hành chính dịch vụ là 5 ha Thêm vào đó, một vùng đệm có diệntích 11.200 ha cũng được xác định (Anon 1997)
Ngày 9/07/2003, Khu BTTN Núi Chúa được chuyển hạng thành VQG Núi Chúa theo
Trang 3của VQG là 29.865 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiệm ngặt là 16.087 ha, phân khu phụchồi sinh thái 6.421 ha và phân khu hành chính dịch vụ là 5 ha.
1.2 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
VQG Núi Chúa nằm về phía Đông Bắc tỉnh Ninh Thuận, cách thị xã Phan Rang Tháp Chàm khoảng 20 km Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh lộ 702, phíaTây giáp quốc lộ 1A, phía Đông giáp Biển Đông
-Hình 1.1 Bản Đồ Vuờn Quốc Gia Núi Chúa
Nguồn: Phòng DLST - GDMT, VQG Núi Chúa
Trang 4b Diện tích
Theo quyết định số 134/2003/QĐ-CP ngày 09/07/2003 của thủ tướng chính phủ, tổngdiện tích tự nhiên Vườn Quốc Gia Núi Chúa là 29.865 ha, trong đó:
- Phần diện tích trên đất liền: 22.513 ha
- Phần diện tích trên biển: 7.352 ha
- Vùng đệm của VQG Núi Chúa: 7.350 ha
c Địa hình
- Khu vực Núi Chúa là một khối núi khá liền lạc, nhìn từ ảnh vệ tinh thì Núi Chúa có hìnhdạng như một con rùa có đầu quay về phía Nam, đuôi là phần nhô ra của mũi Xốp thò vàovịnh cam Ranh như đang từ biển bò lên đất liền Khối núi này có nhiều đỉnh ở các độ caokhác nhau, mà đỉnh cao nhất là đỉnh núi Cô Tuy có độ cao 1.039 m
- Địa hình thấp dần từ trung tâm ra, phần phía bắc và tây có độ dốc lớn hơn phía
nam và phía đông Phía tây và tây nam địa hình bị chia cắt do có các khối núi nhỏ tạo thànhcác thung lũng sườn núi theo hướng đông bắc - tây nam, còn phía bắc, đông và đông nam địahình ít bị chia cắt, thấp dần từ đỉnh núi ra biển
- Địa hình có độ cao dưới 300 m: phân bố phía đông và nam và các khu vực ở
phía bắc giáp biển, địa hình ít bị chia cắt, độ dốc dưới 200
- Địa hình có độ cao từ 300 – 700 m: phân bố phía tây và tây nam, địa hình bị chia cắtmạnh, hình thành các thung lũng và sườn vách dốc trên 200, cho đến 350
- Địa hình có độ cao trên 700 m: phân bố phần trung tâm, có nhiều đỉnh núi ở các độ cao khácnhau, bị ngăn cắt bởi các thung lũng, có độ dốc từ 200 đến 400
Trang 5d Địa chất thổ nhưỡng
VQG Núi Chúa nằm trong miền Trường Sơn Nam thuộc địa đới Kontum, có tuổi địachất cách đây hàng triệu năm, được cấu tạo chủ yếu trên nền địa chất vững chắc của khốimagma xâm nhập và phún xuất xen kẽ nhau với 3 loại đá mẹ đặc trưng là: Andelit, đá Liparit(Riolit) và Granite chiếm chủ yếu ở khu vực này Ở ven rìa khối núi là trầm tích đệ tứ nguồngốc biển và đầm lầy biển Trên cơ sở nền đá mẹ này, quá trình phong hoá hình thành đất cócác loại đất chính như sau: đất bạc màu trên đá Magma acid và cát, đất xám nâu vàng bánkhô hạn, đất vàng đỏ trên đá mẹ magma acid, đất xói mòn trơ sỏi đá, đất cát, đất phù sa, đấtmặn đầm lầy
e Thủy văn
Do địa hình hiểm trở, độ dốc cao 10 - 25o nên đã hình thành hệ thống suối trong vùngvới mật độ khe suối 0,7 km/km2 Trong khu VQG có các suối với diện tích lưu vực nước lớnnhư: suối Nước Ngọt, suối Kiền Kiền, suối Đông Nha
Hầu hết các suối trên đều bắt nguồn từ các khu vực núi cao chảy ra biển Đông Ngoài
ra, VQG Núi Chúa có khoảng hơn 40 km bờ biển trong đó có một số bãi cát và cồn cát nhỏ,
và có một hồ nước nhỏ trên núi Đá Vách, ở gần biển khu vực Vĩnh Hy có nước ngọt tồn đọngquanh năm, là nơi có khá nhiều thực vật thân thảo, cây bụi và động vật: thú, lưỡng thê, bò sátsinh sống
Thủy triều trong khu vực mang tính bán nhật triều không đều, trong ngày có hai lầntriều lên và hai lần triều rút Độ lớn của thuỷ triều trong kì nước cường khoảng 2 - 3,5 m
Trang 6f Khí hậu và thời tiết
Nhiệt độ và lượng mưa: Chế độ nhiệt của khu vực mang những nét đặc trưng của
chế độ nhiệt miền Nam, không có mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình năm xấp xỉ 260C, nhiệt
độ tháng lạnh nhất không xuống thấp hơn 230C (do địa hình thấp, đồng bằng), nền nhiệt độcác tháng trong năm khá ổn định theo kiểu chuyển tiếp khí hậu xích đạo - nhiệt đới Các yếu
tố cực trị về nhiệt có thể thấy qua các trị số cực tiểu như nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có thể đạt
14 - 150C ở đồng bằng và giảm thêm theo độ cao
Độ ẩm không khí liên quan đến chế độ nhiệt và mưa như trên nên độ ẩm trung bình chỉkhoảng 80%, trong các tháng mùa mưa thì cũng chỉ đạt khoảng 85%, trong các tháng mùakhô, độ ẩm tối thấp tuyệt đối có thể xuống dưới 20 - 25%
Khí hậu: Khu vực VQG Núi Chúa nằm lọt hoàn toàn trong khu vực khí hậu ven biển
miền Trung thuộc vùng khí hậu nam Trung Bộ với đặc điểm là khô hạn cao trong toàn bộ chế
độ mưa - ẩm, mà đặc điểm này liên quan đến vị trí bị che khuất của vùng này bởi các vòngcung núi bao bọc phía bắc, tây và nam với hai luồng gió mùa chính Trong vùng khí hậu khôhạn này thì khu vực Phan Rang được coi là trung tâm khô hạn nhất nước, với lượng mưatrung bình năm dưới 700 mm, có những năm dưới 500 mm
Mùa mưa ở khu vực này đến muộn so với các vùng khác và kết thúc cũng sớm hơn,bắt đầu khoảng tháng 9 - 10 và kết thúc khoảng tháng 12 Theo Luận chứng Khoa học củaVQG Núi Chúa, tính toán các chỉ số nhiệt và mưa hàng tháng thì khu vực này có 9 tháng khô,
4 tháng hạn và 2 tháng kiệt và được xếp vào loại khô hạn nhất ở Việt Nam
Trang 71.3 Tài nguyên thiên nhiên
a Tài nguyên rừng
VQG Núi Chúa có tài nguyên rừng rất phong phú và đa dạng với diện tích rừng khôhạn rộng lớn đặc trưng và độc đáo của Việt Nam, diện tích rừng thường xanh cây lá rộng xen
kẽ cây lá kim đặc trưng của vùng khí hậu á nhiệt đới ẩm còn mang tính chất nguyên sinh
Hệ thực vật rừng: Theo kết quả điều tra năm 2001 - 2002, hệ thực vật rừng ở VQG
Núi Chúa khá phong phú đa dạng và mang tính khô hạn rõ rệt với các kiểu rừng chính sau:
1) Kiểu thực vật trên cát biển
2) Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới
3) Kiểu chuông gai hạn nhiệt đới
4) Kiểu trảng cây to cây bụi cỏ cao khô nhiệt đới
5) Kiểu rú kín lá cứng hơi khô nhiệt đới
6) Kiểu rừng kín thường xanh hơi ẩm nhiệt đới núi thấp
Qua điều tra đã ghi nhận được 1.265 loài thực vật bậc cao có mặt trên cạn nằm trong
85 bộ, 147 họ và 596 chi thuộc 7 ngành thực vật khác nhau (Việt Nam có 8 ngành thực vậtbậc cao có mặt hiện hữu thì ở VQG núi chúa có tới 7 ngành, chiếm tới 87%, chỉ thiếu ngành
cỏ Tháp Bút) bao gồm:
Những loài thực vật đã được ghi nhận có những giá trị khác nhau:
- Cây có giá trị kinh tế về gỗ: Có khoảng 19 họ, 24 chi, 42 loài, với một số loàiđiển hình: Gõ đỏ, Cẩm lai, Cẩm thị,Thông lông gà, Kim giao Trung bộ
- Cây có giá trị dược liệu: Có khoảng 94 họ, 309 loài, phổ biển là: Xá xị, Mãtiền, Quế chi, Trầm hương, Đỗ trọng trắng, Sa nhân
- Cây làm cảnh: 28 họ, 53 chi, 104 loài Họ điển hình là họ Lan (Orchidaceae),
có nhiều loài có giá trị như: Quế lan hương (Aeridesfalcatum), Lan thủy tiên (DendrobiumParmeti), Lan vảy rồng (D.aggregatum), Lan báo thủy (Dendrobium secundum (Bl.) Lindl ).Đặc biệt có nhiều loài địa lan ở đỉnh núi thuộc khí hậu bán ẩm
- Cây đặc hữu: Thực vật VQG Núi Chúa không có đặc hữu nhưng có một số chi
và 99 loài đặc hữu có tên đia danh phân bố ở Phan Rang thuộc 42 họ khác nhau, trong đó có
9 chi
Trang 8- Thực vật quý hiếm cần bảo vệ nghiêm ngặt: Có khoảng 35 loài nằm trong 10
họ thực vật khác nhau Đáng chú ý là: Trầm hương, Mun, Gõ cà, Gõ mật, Trắc Việt
Trang 9Hệ động vật rừng: Kết quả điều tra năm 2001 - 2002 về hệ động vật như sau:
Bảng 1.3.Hệ Động Vật tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa
- Sinh cảnh rừng thường xanh trên núi thấp: Đây là dạng sinh cảnh tập trung trên các
triền núi như Chúa Anh, Chúa Em, Đá Vách Nơi đây tập trung nhiều loài thú nhất (khoảng
51 loài, chiếm 82,25% tổng loài thú trong Vườn) Đặc trưng là Cu li nhỏ, Chà vá chân đen,Báo Gấm, Sơn Dương, v.v Bên cạnh đó có, có khoảng 97 loài chim, chủ yếu là các loài thuộc
họ Chèo Bẻo, Quạ, Khướu, Cu Cu và một số loài quý hiếm đang bị đe dọa như Khách đuôi
cờ, Niệc nâu, v.v Ngoài ra, sinh cảnh này còn có khoảng 36 loài bò sát, ếch nhái đặc trưng là:Rồng đất, Kì đà vân, Rắn lục xanh, Trăn đất, các loài họ Rùa đầm
- Sinh thái rừng khô hạn và trảng cỏ: Các khu vực khô hạn và trảng cỏ thường tiếp giáp
với rừng thường xanh Do vậy coi thể coi đây là khu vực vành đai nối liền rừng thường xanhvới sinh cảnh bãi cát ven biển Có 38 loài thú, chủ yếu là Cheo cheo Nam Dương (Trangulusjavanicus), Mèo rừng (Felis bengalensis), Sóc chuột lửa (Tamiops Rodophei), Thỉ rừng(Lepus nigricollis),v.v Đây là nơi sinh sống và kiếm ăn của nhiều loài chim nhất: 115 loài(chiếm 63.54% số loài) Đặc biệt là Công, Trĩ sao, Gà tiền mặt đỏ, chỉ phân bố ở sinh cảnhnày Ngoài ra còn 9 loài bò sát, ếch, nhái, chủ yếu là các loài Thằn lằn bóng đốm (Mabuyamacularia), Nhông xanh (Calostes vesicolor), Nhông xám (Calos Mystaceus), Rắn leo cây(Dendrelaphis pictus)
- Sinh cảnh ven biển và khu dân cư: Sinh cảnh này đặc trưng bởi các bãi cát ven biển và
khu vực canh tác nông nghiệp xung quanh các thôn bản Sinh cảnh này tập trung nhiều loàithú nhỏ và một số loài thú kiếm ăn gần với khu dân cư gốm 30 loài như Chuột, Sóc, Thỏ, v.v.Khoảng 98 loài chim gồm các loài Dẽ, Mòng Biển, Nhàn, các loại Cò và 24 loài bò sát, ếchnhái Đặc trưng nhất cho dạng sinh cảnh này là nhóm Rùa biển: Rùa da (Dermochelyscoriacea), Vích (Chelonia mydas), Đồi mồi (Eretmochelys imbricata) và Quảng đồng
Trang 10(lepidochelys olivacea) Ngoài ra còn có các loài Nhông cát (Leiolepis spp.), Rắn cát(psamdomophis condanarus), Rắn nước (Xenochrophis oiscator),v.v.
b Tài nguyên biển
Nằm trong giới hạn từ Mũi Đá vách phía bắc cửa đẩm Vĩnh Hy kéo dài đến HònChông, chiều dài đường bờ khoảng 24,5 km và nơi có chiều rộng nhất là 4,5 km - là nơi phân
bố của nhiều loài sinh vật biển với thành phần như sau:
Về san hô: Tổng cộng có khoảng 307 loài san hô cứng tạo rạn thuộc 59 giống, 15 họ.
Trong đó có 46 loài được ghi nhận phân loại mới Hầu hết các dãy rạn san hô đều trong tìnhtrạng khá tốt với độ bao phủ san hô cứng trung bình là 30%, phân bố từ dưới 10% đến ở 50%,
độ che phủ cao nhất ở những điểm nước cạn như Hòn Đeo, Bãi Lớn với tỷ lệ tình trạng sống chết hết sức khả quan là 3:1 Số san hô chết là rất thấp (trung bình 9%)
-Điểm đặc biệt là sự phát triển rộng các dãy rạn chịu ảnh hưởng của thủy triều kéo dàingoài khơi từ các khu vực lân cận Mỹ Hòa - Thái An- Hang Rái, sâu từ 8 đến 15 m Xa dần
về phía Bắc, mức độ các dãy rạn phát triển theo độ dốc hình thành dãy rạn riềm hẹp ven bờ(khu vực Hòn Tai và Bình Tiên) và các dãy rạn nhỏ nối với nhau (Bãi Nhỏ) Các khu vựcphong phú nhất như Bãi Nhỏ, Bãi Hõm, Hang Rái có hơn 1/3 trên tổng số san hô cứng (>110trong số 307 loài)
Chiều dài rạn san hô ở Hang Rái, Mỹ Hòa có thể kéo dài 1 km từ bờ
Phần lớn các rạn san hô trong khu vực này thuộc vào dạng rạn riềm với 2 loại: rạnriềm điển hình (chiếm tỷ lệ lớn) và không điển hình, điều đó chứng tỏ rạn san hô trong khuvực này có điều kiện phát triển thuận lợi trong một thời gian dài
Về rùa biển: Vùng biển xã Vĩnh Hải, tỉnh Ninh Thuận được xem là vùng có nhiều
rùa biển thứ 2 ở Việt Nam (sau vườn quốc gia Côn Đảo), với 4 loài:
+ Rùa xanh (Chelonia mydas)
+ Rùa đầu to (Careta careta)
+ Đồi mồi (Eretmochelys imbricata)
+ Vích (Lepidochelys olivacea)
Trang 11Ngành nghề chính là sản xuất nông nghiệp nhưng do đất đai khô cằn, chưa chủ độngđược nguồn nước tưới tiêu nên hàng năm lương thực sản xuất ra không đủ tự cấp, tự túc Tìnhtrạng dựa vào rừng để săn bắn chim thú, đốt than, phát rừng làm rẫy, trồng hoa màu, cây ănquả đổi lấy lương thực vẫn còn phổ biến Vì vậy diện đói nghèo ở đây còn rộng, chủ yếu vàocác hộ thuần nông và đồng bào dân tộc Raglay Đặc biệt ở 2 xã Lợi Hải, Công Hải tỷ lệ hộđói và nghèo chiếm trên 30% Nguyên nhân do diện tích đất canh tác nông nghiệp ruộng 02
vụ ít và lại chưa có trình độ thâm canh, mặt khác do phong tục tập quán hủ lậu còn nặng nề.Đến nay tuy đã khắc phục được phần nào nhưng vẫn chưa triệt để
Nghề chăn nuôi: Chủ yếu là bò, dê, cừu theo tập quán thả rong Do đó có những tác
động xấu không chỉ với hoa màu, cây lương thực mà còn đối với cả rừng trồng
Ngành nghề khác: Đánh bắt hải sản và làm muối Các hộ dân sống bằng nghề này có
mức sống cao hơn so với nghề nông thuần túy Tuy nhiên, số lao động đầu tư cho lĩnh vựcnày chiếm tỉ trọng thấp (7%) Một bộ phận hộ dân tiểu thương buôn bán nhỏ và làm dịch vụvẫn là hộ luôn có thu nhập cao và khá ổn định
Văn hóa, giáo dục: Các xã đều có trường mẫu giáo và tiểu học, riêng phổ thông cơ
sở và trung học tập trung ở hai xã Nhơn Hải và Khánh Hải nằm ngoài vùng quy hoạch
Số người mù chữ hiện nay vẫn còn chiếm tỉ lệ khá cao, đây là một thực trạng rất cầnđược quan tâm đầu tư để nâng cao dân trí
Do điều kiện kinh tế và sinh hoạt hết sức khó khăn ở vùng sâu và xa, tại nhiều thônngười dân tộc Raglay còn thiếu giáo viên, đặc biệt là đối với hệ tiểu học, CSVC của nhàtrường bị xuống cấp và còn nhiều thiếu thốn Mặc dù đã có sự cố gắng của chính quyền địaphương song vẫn gặp không ít khó khăn
Trang 12Về y tế: Các xã đều có trạm xá (mỗi xã có từ 1 - 2 cơ sở), mỗi trạm xá có khoảng 5
giường bệnh và 3 - 5 thầy thuốc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Nhìn chung, khó khăn đốivới ngành y tế nông thôn vẫn là tình trạng thiếu thuốc men
Về giao thông: Đang được đầu tư phát triển nhưng chưa hoàn chỉnh nên phần nào
hạn chế sự giao lưu kinh tế giữa các xã trong vùng Vì vậy, nếu được đầu tư nâng cấp hoànchỉnh sẽ tạo sự giao lưu kinh tế thuận lợi giữa các xã vùng sâu, vùng xa, đồng thời tạo vànhđai kiểm soát rất tốt cho việc bảo vệ tài nguyên rừng trong
Trang 132 Những tác động của du lịch sinh thái đến tài nguyên và môi trường vùng ven bờ:
Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp không những chứa đựng trong đó những giá trị kinh tế đơn thuần mà cả những giá trị về lịch sử, văn hóa của một vùng miền Du lịch ởnhững vùng ven bờ đang là nguồn thu nhập cao cho các nước ven bờ biển Tại đây, người ta
sẽ được thưởng thức những phong cảnh đẹp ở những vùng cửa sông ven biển, những bãi biểntuyệt vời, các đảo đá với đầy hang động, bờ cát mịn, vùng đầm phá, rừng ngập mặn, các rạn san hô, v.v Vùng ven bờ là điều kiện lý tưởng để phát triển tiềm năng du lịch, nghĩ mát và điều dưỡng, kèm theo đó là các hoạt động dịch vụ phục vụ cho du lịch giải trí như là bơi thuyền thưởng ngoạn, lặn, lướt sóng, câu cá tắm biển, ngắm san hô, v.v Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích đem lại, thì du lịch giải trí đang gây ra những tác động ảnh hưởng đến môi trường ven bờ Các hoạt động của con người trong lĩnh vực này đã góp phần làm cho môi trường ven bờ bị suy thoái
2.1 Tác động tích cực của phát triển du lịch sinh thái tới môi trường:
- Bảo tồn cảnh quan thiên nhiên.
Để hấp dẫn khách du lịch, Vườn quốc gia Núi Chúa cần nâng cao hơn nữa công tácbảo tồn, tăng cường công tác đầu tư tu bổ phù hợp với cảnh quan môi trường thiên nhiênnguyên thủy Được vậy, phát triển du lịch sẽ tạo điều kiện cho việc bảo tồn cảnh quan thiênnhiên một cách bền vững
Với sự gia tăng của hoạt động buôn bán bất hợp pháp các loài hoang dã trên phạm vi toàn cầu, các loài rùa biển đang bị đe dọa nghiêm trọng Tuy nhiên, với sự nỗ lực của các cơ quan quản lý và các cơ quan nghiên cứu cùng sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, hoạt động bảo tồn rùa biển tại Việt Nam đã đạt được những kết quả khích lệ Một số bãi rùa đẻ ở Vườn quốc gia Núi Chúa, Côn Đảo, Phú Quốc được bảo vệ tốt, trở thành mô hình du lịch phát triển kinh tế địa phương Các lực lượng thực thi pháp luật và chính quyền địa phương các cấp luônđóng vai trò chủ lực trong việc tuần tra, khảo sát, cứu hộ và chăm sóc, bảo vệ rùa biển, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của rùa biển
- Việc nâng cấp cơ sở hạ tầng.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và lưu trú của du khách thì việc cải tạo, nângcấp và xây dựng mới các cơ sở hạ tầng ở Vườn quốc gia Núi Chúa (phương tiện vận chuyển,
hệ thống đê bao, hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc, đài quan sát…) làcần thiết Thông qua các hoạt động này, cơ sở hạ tầng ở Vườn quốc gia sẽ từng bước đượcphát triển
- Việc nâng cao ý thức của cộng đồng về bảo vệ và tăng cường chất lượng môi trường
Du lịch phát triển kéo theo sự gia tăng lượng khách trong nước và quốc tế Thông quatrao đổi và giao tiếp với du khách, cộng đồng địa phương sẽ hiểu biết và nâng cao ý thức bảo
vệ môi trường sinh thái cho hoạt động du lịch Đồng thời, việc quy hoạch cảnh quan, thiết kếxây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc cho phát triển du lịch sẽ huy độngcộng đồng có những sáng kiến làm sạch môi trường, kiểm soát chất lượng không khí, nước,đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác