Bàiviết phân tích tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thờigian qua; làm rõ cơ hội và thách thức của xuất khẩu gạo khi tham gia TPP;đồng thời đề xuất một số biện pha
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2I MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước mạnh về lúa gạo, nên đây được xem là một trongnhững vấn đề nóng khi tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương(TPP) Theo ông Nguyễn Đình Bích, nguyên Phó trưởng ban Nghiên cứuChiến lược phát triển thương mại, Viện Nghiên cứu Thương mại, Bộ CôngThương, đây là thách thức lớn với ngành lúa gạo Việt Nam Cộng đồng TPPrất mạnh về lương thực, cụ thể là lúa mì và các loại ngũ cốc khác, nhưng lạihạn chế về lúa gạo Do vậy, đây chính là thị trường ngách để Việt Nam có thểtận dụng
Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (Trans-PacificStrategic Economic Partnership Agreement - TPP) - hiệp định thương mại tự
do giữa 12 nước thuộc hai bờ Thái Bình Dương, bao gồm New Zealand,Brunei, Chile, Singapore, Australia, Peru, Mỹ, Malaysia, Việt Nam, Canada,Mexico và Nhật Bản, đến nay đã trải qua nhiều vòng đàm phán Trong thờigian tới, khi TPP hoàn tất các nội dung đàm phán cuối cùng, chắc chắn sẽmang lại những cơ hội và thách thức cho một số ngành kinh tế của một sốquốc gia thành viên, trong đó có hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
TPP được đánh giá là Hiệp định của thế kỷ XXI Hiệp định này sẽ có ảnhhưởng nhất định đến xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có xuất khẩu gạo Bàiviết phân tích tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thờigian qua; làm rõ cơ hội và thách thức của xuất khẩu gạo khi tham gia TPP;đồng thời đề xuất một số biện pháp chính nhằm tận dụng cơ hội, vượt quathách thức, góp phần tăng khối lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của ViệtNam trong thời gian tới
Trang 3II NỘI DUNG
1 Tổng quan tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo
Trong các mặt hàng nông sản ở Việt Nam, gạo đóng vai trò quan trọngnhất không chỉ về an ninh lương thực, lao động và tiền công ở nông thôn màcòn thể hiện ở các nguồn thu từ xuất khẩu Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn (Bộ NN&PTNT), lúa gạo được trồng trên 1/2 diện tích đất nôngnghiệp và sử dụng gần 80% lao động nông thôn Sản lượng lúa hàng nămchiếm trên 90% sản lượng các cây lương thực có hạt Tính riêng năm 2013,sản lượng lúa đạt trên 44 triệu tấn, tăng 338,2 nghìn tấn so với năm trước( năm 2012 tăng 1,3 triệu tấn so với năm 2011), trong đó diện tích gieo trồngđạt 7,9 triệu ha, tăng hơn 146 nghìn ha, năng suất đạt 55,8 tạ/ha, giảm 0,6tạ/ha
Hình 1 Diện tích và sản lượng gạo được sản xuất
(Đơn vị: Diện tích: ha; Sản lượng: ngàn tấn)
Nguồn: Bộ NN&PTNT Việt Nam
Bên cạnh đó, mặt hàng gạo xuất khẩu của Việt Nam còn quá nghèo nàn,không có nhiều loại để lựa chọn, không đáp ứng nhu cầu thị hiếu nhiều hình,nhiều vẻ khác nhau của khách hàng Do vậy, nó cũng không thể tăng mạnhkhối lượng xuất khẩu vào những thị trường không chỉ đòi hỏi về an toàn thựcphẩm, mà còn đòi hỏi rất cao về nhiều yếu tố khác Và một điều khá đáng tiếc
Trang 4là tiềm năng sản xuất những loại gạo đặc sản lâu nay của Việt Nam vốn rất cóhạn, nhưng khi đã có một số doanh nghiệp nhỏ lần lượt chuyển hướng vào sảnxuất các loại gạo hữu cơ, hay gạo “chức năng”, gạo “thảo dược” thì lại khôngđược khuyến khích, tạo điều kiện để phát triển Trong đó, nếu như gạo “chứcnăng”, gạo “thảo dược” khó sản xuất với quy mô lớn để giảm áp lực rất lớntrong tiêu thụ gạo phẩm cấp thấp hiện nay vì rất nhiều lý do khác nhau, thì gạohữu cơ lại có triển vọng phát triển Bởi lẽ, vấn đề chủ yếu trong việc phát triểnsản xuất gạo hữu cơ là thay đổi phương pháp canh tác, hay nói chính xác hơn,cốt lõi là khôi phục phương pháp canh tác cổ truyền mà thế hệ những nôngdân lớn tuổi chắc chắn vẫn còn rất thông thuộc.
1.2 Tình hình xuất khẩu gạo
Cùng với các mặt hàng khác trong nhóm hàng nông sản xuất khẩu như hạtđiều , chè, cà phê, sắn , gạo được xuất khẩu ra nhiều thị trường với số lượngtăng dần theo các năm Xét về tỷ trọng, kim ngạch xuất khẩu gạo đứng thứ 2sau thủy sản
Hình 2 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản chínhnăm 2013
Trang 5Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam.
Theo Tổng cục Thống kê, tính từ năm 1995, Việt Nam xuất khẩu gần 2triệu tấn gạo, đứng thứ ba sau dầu thô và than; 5 năm sau (2000), xuất khẩugạo tăng lên 3,5 triệu tấn, chiếm ngôi vị đầu tiên trong các mặt hàng xuất khẩu
và 10 năm sau (2010), xuất khẩu gạo đạt 6,9 triệu tấn, đứng thứ ba sau than đá
và dệt may Nếu tính từ năm 2007 đến 2012, xuất khẩu vẫn tăng ổn định, đưagạo trở thành một trong những mặt hàng mang lại nguồn thu lớn nhất cho ViệtNam Năm 2013 và 2015, sau than đá, dầu thô và dệt may, khối lượng gạoxuất khẩu có bị suy giảm do nhiều nguyên nhân, nhưng mặt hang gạo vẫn giữđược vị trí là một tỏng những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
Hình 3 Khối lượng xuất khẩu gạo (2007-2014) (Đơn vị: Triệu tấn)
Nguồn: Tổng cục Thống kê -2015
Các thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam trong những năm gầnđây gồm Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Cộng hòa Liên bang Nga vàAngieri Gần đây, Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu gạo lớn nhất củaViệt Nam Năm 2013, Trung Quốc nhập khẩu gần 1,5 triệu tấn gạo, chiếm tỷtrọng 54,78% trong tổng khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam Tiếp đến làMalaysia, Philippines, Cộng hòa Liên bang Nga
Trang 6Hình 4 Tỷ trọng gạo nhập khẩu của 10 nước
trên tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam năm 2013 (%)
Nguồn: ITC dựa trên cơ sở phân tích của UN COMTRADE
Nhìn chung, năm 2013, xuất khẩu gạo của Việt Nam sang đa số các thịtrường bị sụt giảm so với năm 2012; trong đó một số thị trường sụt giảm mạnhnhư: Indonesia (giảm 83,13% về lượng và giảm 80,08% về kim ngạch),Senegal (giảm 74,65% về lượng và giảm 73,6% về kim ngạch), Philippines(giảm 54,64% về lượng và giảm 52,57% về kim ngạch), Đài Loan (giảm53,29% về lượng và giảm 49,46% về kim ngạch) Tuy nhiên, xuất khẩu gạosang một số thị trường vẫn đạt mức tăng trưởng cao trên 100% về lượng vàkim ngạch như: xuất sang Nga (tăng 495,8% về lượng và tăng 458,73% vềkim ngạch), Ukraine (tăng 224,56% về lượng và tăng 177,04% về kim ngạch),các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (tăng 121,22% về lượng và tăng113,14% về kim ngạch), Hà Lan (tăng 241,85% về lượng và tăng 145,62% vềkim ngạch) và Ba Lan (tăng 156,87% về lượng và tăng 97,04% về kimngạch)
Xét riêng trong nội khối các nước TPP, tính từ năm 2010 đến nay (2013),Malaysia luôn là nước dẫn đầu về nhập khẩu gạo của Việt Nam, kế đến là Mỹ,Canada và Chile Các nước còn lại có khối lượng nhập khẩu rất nhỏ, từ hơn
Trang 71.000 tấn trở xuống Tuy nhiên, tỷ trọng khối lượng gạo các nước TPP trongtổng khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng giảm thất thường Đặc biệtnăm 2013, khối lượng gạo nhập khẩu của 2 quốc gia dẫn đầu trong các nướcTPP nhập khẩu gạo của Việt Nam là Malaysia và Mỹ đã giảm mạnh Mộttrong những nguyên nhân chính là do áp lực cạnh tranh cao từ gạo của TháiLan, Ấn Độ và nhu cầu lương thực của các nước này giảm.
Bảng 1 Khối lượng gạo nhập khẩu từ Việt Nam của các nước TPP (tấn)
Nguồn: ITC dựa trên cơ sở phân tích của UN COMTRADE
Như vậy, để duy trì và nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo trong tình hìnhhiện nay, các doanh nghiệp trong nước không nên chạy theo số lượng mà phảichú ý đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm để nâng giá trị, đồng thời chú ýkhai thác các thị trường mới, nhất là các thị trường tiêu thụ gạo cấp cao Đángchú ý, Việt Nam là nước sản xuất gạo có sức cạnh tranh nhưng chất lượng gạolại thấp so với quốc tế dù đã có dấu hiệu cải tiến
Trang 81.3 Tình hình trong khối TPP
Các số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới (WB) cho thấy, trong 10 nămtrở lại đây, bình quân diện tích gieo trồng lương thực nói chung mỗi năm củacộng đồng TPP lên tới 115,3 triệu ha và đạt sản lượng 562 triệu tấn Thếnhưng, trong đó, diện tích lúa chỉ đạt 11,5 triệu ha, chỉ chiếm 10%, còn lại90% là dành cho lúa mì và các loại ngũ cốc khác Chính vì vậy, trong khi sảnlượng lúa mì đạt 113,7 triệu tấn mỗi năm, chiếm 20,2% trong "rổ lương thực",sản lượng các loại ngũ cốc khác lên tới 403 triệu tấn và 71,7%, thì sản lượnggạo chỉ đạt 45,3 triệu tấn và chỉ chiếm 8,1%
Trong số gạo này thì riêng Việt Nam đã chiếm 26,7 triệu tấn (58,9%).Không những vậy, một điều cần đặc biệt lưu ý là, nếu so sánh năm 2014 vớitrước đó 10 năm, tổng sản lượng gạo của toàn cộng đồng TPP chỉ tăng 5,9triệu tấn, trong khi mức tăng của riêng Việt Nam cũng đúng bằng con số đó.Điều này nghĩa là, trong 10 năm qua, chỉ có sản lượng gạo của riêng Việt Namtăng, tổng sản lượng gạo của 11 quốc gia thành viên TPP còn lại vẫn “giậmchân tại chỗ”
Trong điều kiện rất thừa lương thực nói chung, nhưng ít gạo như vậy, khốilượng gạo nhập khẩu của 11 quốc gia thành viên TPP trong 10 năm qua đãtăng khá mạnh Các số liệu thống kê của FAO và Trung tâm Thương mạiQuốc tế (ITC) cho thấy, nếu như cách đây 10 năm con số này là 3,1 triệu tấn,thì năm 2014 đã đạt 4,7 triệu tấn, chiếm 11,7% trong tổng khối lượng gạonhập khẩu của thế giới và gần bằng ba phần tư tổng khối lượng xuất khẩu củaViệt Nam
Cụ thể, các số liệu thống kê của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) chothấy, trong năm 2014, Malaysia đứng đầu với khối lượng nhập khẩu 942.000tấn; đứng thứ hai là Mexico với 866.000 tấn và kế tiếp là Mỹ với 741.000 tấn,Nhật Bản 669.000 tấn Khi tham gia hiệp định TPP thì việc nhập khẩu gạotrong nội khối TPP chắc chắn sẽ được ưu đãi hơn so với bên ngoài, đây rõràng là cơ hội vàng cho gạo Việt Nam Tuy nhiên, với thực trạng như hiệnnay, có nhiều khả năng Việt Nam chỉ tận dụng được một phần rất nhỏ cơ hộihiếm có này
Trước hết, như các số liệu thống kê cho thấy, trong tổng khối lượng gạoxuất khẩu hơn 6,3 triệu tấn năm 2014 của Việt Nam, thị trường lớn nhất trongTPP là Malaysia cũng chỉ đạt 473.000 tấn, đứng thứ hai là Singapore 186.000
Trang 9tấn, và đứng thứ ba là Mỹ chỉ với 67.000 tấn Còn ba quốc gia có tổng khốilượng nhập khẩu không đáng kể là Brunei, Chile và Australia chỉ với 34.000tấn.
Như vậy, tổng khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường TPPnăm 2014 chỉ đạt 760.000 tấn, trong khi 11 quốc gia này đã nhập khẩu 4,69triệu tấn, tức là thị trường tiềm năng trong nội khối của gạo Việt Nam vẫn còntới 3,9 triệu tấn, lớn gấp 5,13 lần khối lượng thực tế đã đạt được
Thế nhưng, cơ hội để gia tăng xuất khẩu gạo vào các thị trường TPP hiệnnay cũng không nhiều, bởi một số thị trường lâu nay vẫn nhập khẩu gạo củaViệt Nam chủ yếu chỉ để "no bụng" Do đó, một phần trong số 422.000 tấngạo của Malaysia nhập khẩu từ Thái Lan (năm 2014) rất có thể sẽ buộc phải
"nhượng" lại cho Việt Nam khi mà thuế suất nhập khẩu được cắt giảm do đốithủ cạnh tranh này không phải là thành viên TPP Tiếp theo, đó có thể là mộtphần trong số 163.000 tấn cũng của Thái Lan xuất khẩu sang Singapore vì lý
do tương tự
Trong khi đó, với nhiều lý do khác, gạo Việt Nam khó có thể gia tăngmạnh xuất khẩu vào các thị trường còn lại trong TPP Thứ nhất là do gạo củaViệt Nam vẫn không có thương hiệu, không thuần loại, không kiểm soát được
dư lượng hoá chất và không truy xuất được nguồn gốc Trong lịch sử xuấtkhẩu gạo với quy mô lớn gần ba thập kỷ qua của Việt Nam, thị trường NhậtBản là thí dụ tiêu biểu nhất Ngay năm 1990 Nhật Bản đã nhập khẩu 15.000tấn và năm 2005 đã đạt kỷ lục gần 200.000 tấn, nhưng sau đó giảm mạnh vànăm 2010 bắt đầu chấm dứt nhập khẩu gạo của Việt Nam
Trong khi quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Nhật Bảnsuốt ba thập kỷ qua phát triển tốt đẹp, thì việc các nhà nhập khẩu gạo NhậtBản “bỏ rơi” gạo “Made in Vietnam” suốt 5 năm qua, chủ yếu do đến nay vẫnchưa có những dấu hiệu tích cực nào đủ cho thấy việc bảo đảm chất lượng gạoxuất khẩu có tầm quan trọng tới mức nào
Trang 102 Dự báo tình hình cạnh tranh và nhu cầu gạo thế giới
Xuất khẩu gạo của nước ta trong năm 2014 tiếp tục đối mặt với nhiều cạnhtranh từ các nước xuất khẩu gạo truyền thống và đối thủ mới nổi Xuất khẩu,tiêu thụ lúa gạo hàng hóa khó khăn hơn, kế hoạch xuất khẩu có thể chỉ tươngđương năm 2013, khoảng 6,5-7 triệu tấn Năm 2014 tiếp nối những khó khăncủa năm 2013 nhưng áp lực nhiều hơn đối với các nguồn xuất khẩu do cungcấp dư thừa, cạnh tranh quyết liệt
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), tổng lượng gạo được giao dịch trêntoàn cầu trong năm 2014 đạt mức kỷ lục 39,8 triệu tấn, tăng 0,65 triệu tấn sovới dự báo trước đây và tăng 1,46 triệu tấn so với năm 2013 Trao đổi mậudịch đối với mặt hàng gạo trên toàn cầu trong năm 2014 tăng lên chủ yếu donhu cầu nhập khẩu gạo của Trung Quốc và khu vực Tây Phi tăng mạnh.USDA đánh giá Ấn Độ sẽ tiếp tục giữ vị trí quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhấtthế giới Hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam và Thái Lan trong năm 2014tăng lên Theo đó lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan trong năm 2014 đạt 8,5triệu tấn, tăng 500.000 tấn so với dự báo tháng 11/2013 do nhu cầu sử dụnggạo trên toàn cầu tăng lên và nguồn cung gạo dồi dào tại Thái Lan Thái Lancó khả năng trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới trong năm2014
Trong báo cáo “Triển vọng thị trường nông nghiệp và thu nhập tại EU giaiđoạn 2013-2023”, EU dự đoán diện tích trồng lúa tại châu Âu sẽ gần nhưkhông thay đổi trong thập kỷ tới và nhập khẩu sẽ tăng để đáp ứng nhu cầu giatăng EU nhận định việc tăng diện tích trồng lúa là gần như không thể, vì vậysản lượng chỉ có thể tăng do năng suất tăng Báo cáo cũng chỉ ra rằng trongkhi mức tăng năng suất gần đây là khiêm tốn, năng suất vẫn có thể tăng hơnnữa nhờ vào giá tăng và nhu cầu nội địa tăng EU dự báo sản lượng gạo trongnăm 2014 sẽ tăng nhẹ lên 1,8 triệu tấn từ mức 1,7 triệu tấn của năm 2013 dodiện tích tăng Tuy nhiên, dự báo diện tích sẽ không đổi trong thập niên tới
Do sức tiêu thụ dự kiến tăng từ 2,6 triệu tấn năm 2013 lên 2,9 triệu tấn vàonăm 2023, EU dự báo nhập khẩu gạo của châu Âu sẽ tăng từ mức hiện tại 1triệu tấn lên 1,2 triệu tấn vào năm 2023
Mặt khác, kết quả nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học thuộc Đạihọc Minnesota (Mỹ) cho thấy đà tăng trưởng về sản lượng gạo trên thế giớihiện nay không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ gạo toàn cầu vào năm 2050.Theo nghiên cứu này, để đảm bảo an ninh lương thực trên thế giới trong tương
Trang 11lai, cần phải tăng gấp đôi sản lượng gạo và các loại ngũ cốc khác lên khoảng 1
tỷ tấn vào năm 2050 Theo ước tính của Tổ chức Nông nghiệp và Lương thựcLiên Hợp Quốc (FAO), sản lượng gạo toàn cầu tại thời điểm hiện tại là 497triệu tấn Với tốc độ tăng trưởng về sản lượng 1%/năm như hiện nay, sảnlượng gạo toàn cầu vào năm 2050 sẽ chỉ tăng 42% lên 705 triệu tấn Sảnlượng gạo tại các quốc gia sản xuất gạo hàng đầu thế giới đang tăng dưới 1%.Con số này tại Trung Quốc là 0,7%/năm và Indonesia là 0,4%/năm Tốc độtăng trưởng sản lượng đối với các loại ngũ cốc chủ chốt khác như ngô, lúa mỳ
và đậu tương vẫn thấp hơn so với tốc độ cần để tăng gấp đôi sản lượng củacác loại ngũ cốc này vào năm 2050 Trong khi đó, tốc độ tăng dân số tại một
số nước đang vượt cao hơn tốc độ tăng về sản lượng gạo Sự gia tăng về dân
số sẽ làm suy giảm diện tích gieo trồng, đe dọa an ninh lương thực toàn cầu
Từ những dự báo trên, ngành gạo Việt Nam cần chủ động xây dựng mộtchiến lược cụ thể cho xuất khẩu mặt hàng này, đặc biệt là hướng tới các thịtrường châu Mỹ, nơi có 5 /12 nước tham gia TPP, trong đó Mỹ và Canada làthị trường nhập khẩu gạo rất tiềm năng
3 Các nội dung đàm phán trong TPP ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo của Việt Nam
Hiện nay, TPP được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàndiện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các hiệp định thế kỷ XXI Mụctiêu của TPP cũng như các Hiệp định thương mại tự do ( FTA) là tạo lập mộtmôi trường thương mại gần như không có rào cản Cụ thể là các hàng rào thuếquan sẽ được dỡ bỏ nhanh chóng với 90% các dòng thuế có thể về mức 0% vàđược áp dụng ngay hoặc với lộ trình rất ngắn Trong khi đó, nông nghiệp làmột lĩnh vực kinh tế quan trọng của nhiều thành viên tham gia đàm phán TPPnhưng lại gặp nhiều khó khăn trong đàm phán các nội dung về bảo hộ nôngsản và mở cửa thị trường này
Trình độ sản xuất nông nghiệp của các nước như Mỹ, Australia, NewZealand ở mặt bằng cao hơn so với các nước như Việt Nam, Peru, Chile Cácnước thành viên hiện đều có xu hướng bảo hộ nông sản của mình (hạn chế tối
đa việc loại bỏ thuế quan hoặc nếu có thì với lộ trình dài) và yêu cầu các đốitác mở cửa thị trường Bên cạnh đó, hàng loạt các quy định về vệ sinh dịch tễ
và các biện pháp phòng vệ thương mại mà các đối tác tiên tiến về sản xuấtnông nghiệp đưa ra đàm phán đều gây khó khan và ít tính khả thi đối với cácđối tác có trình độ sản xuất yếu hơn