1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long.pdf

89 462 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, kế toán là một công

cụ quan trọng phục vụ cho việc quản lý nền kinh tế cả về mặt vĩ mô và vi mô Cơ

chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất phải thường xuyên quan tâm đến

chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Do đó công tác tập hợp chi phí sản

xuất và tính giá thành sản phẩm luôn được coi là công tác trọng tâm của kế toán các

doanh nghiệp sản xuất

Trong cơ chế thị trường hiện nay, hầu như không có sự độc quyền về giá dưới

mọi hình thức Các doanh nghiệp luôn dùng giá bán sản phẩm làm vũ khí cạnh

tranh với các doanh nghiệp khác Vì vậy, muốn đứng vững trên thị trường, các

doanh nghiệp luôn phải tìm cách hạ giá thành sản phẩm của mình ở cách hợp lý mà

khách hàng có thể chấp nhận được Một trong những công cụ giúp cho công tác tổ

chức quản lý sản xuất, mang lại hiệu quả nhất là hạch toán kế toán nói chung và

công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng

Sự cạnh tranh về giá cả trên thị trường được thể hiện rõ hơn trong các doanh

nghiệp xây dựng lắp Đặc điểm tổ chức kế toán ở các doanh nghiệp này có một số

điểm khác với các doanh nghiệp sản xuất khác bởi sản phẩm xây lắp có đặc điểm

riêng biệt và có ảnh hưởng lớn đến tổ chức kế toán Sản phẩm xây lắp là những

công trình xây dựng, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp và mang tính

chất đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm lâu dài Vì vậy đặc điểm của sản phẩm

xây lắp ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trong đơn vị xây lắp chủ yếu ở nội

dung, phương pháp, trình tự hạch toán chi phí sản xuất, phân loại chi phí, cơ cấu

giá thành xây lắp

Đối tượng hạch toán chi phí ở đây có thể là các công trình hoặc các hạng mục

công trình Nó rất đa dạng và phức tạp vì công trình thường kéo dài nhiều thời gian,

qua nhiều kỳ kế toán Bởi vậy, việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành

trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản không phải là vấn đề đơn giản, đó không chỉ

Trang 2

đơn thuần là nhiệm vụ của kế toán mà còn là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của

doanh nghiệp

Trong thời gian thực tập tại: Công ty xây dựng số 8 Thăng Long em nhận

thức rõ hơn về vai trò và chức năng quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí

sản xuất và tính giá thành sản phẩm, nó liên quan hầu hết đến các yếu tố đầu vào và

đầu ra trong quá trình sản xuất kinh doanh Ý thức được điều đó, em đã chọn đề tài

“Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm” để nghiên cứu

Trong quá trình tìm hiểu về lý luận và thực tế để hoàn thành chuyên đề này,

em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, các cô chú phòng kế

toán cũng như các phòng ban khác trong doanh nghiệp đặc biệt là sự hướng dẫn

nhiệt tình của thầy giáo cùng với sự nỗ nực của bản thân nhưng do bước đầu làm

quen với công tác thực tế và do khả năng chuyên môn còn hạn chế Hơn nữa

chuyên đề lại mang tính chuyên sâu do vậy mà chuyên đề của em chắc không tránh

khỏi những thiếu sót Vậy em tất mong được tiếp thu những ý kiến chỉ bảo của các

thầy giáo cô giáo cũng như các cô chú trong xí nghiệp để em có điều kiện bổ xung,

nâng cao kiến thức phục vụ tốt hơn cho công tác sau này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô các chú trong công ty đã giúp em

hoàn thành chuyên đề này

NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI GỒM 3 CHƯƠNG:

Chương I: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản

phẩm ở các doanh nghiệp xây lắp

Chương II: Thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá

thành sản phẩm ở Công ty xây dựng số 8 Thăng Long

Chương III: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí

sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long

Trang 3

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH GIÁ

THÀNH SẢN PHẨM Ở CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1 ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH

GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.1Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp

Kinh doanh xây lắp là một ngành sản xuất vật chất độc lập, tạo ra tài sản cố định

và cơ sở vật chất tiền đề cho sự phát triển của các ngành khác trong nền kinh tế

quốc dân Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế và an ninh

quốc phòng của đất nước Vì vậy, ngành kinh doanh xây lắp giữ một vị trí then chốt

đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay

đất nước ta đang tiến hành Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước

Mang tính chất của một ngành sản xuất công nghiệp, song ngành xây lắp có

những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng thể hiện rõ ở sản phẩm cũng như quá trình

thi công tạo ra sản phẩm của ngành Những đặc điểm này có tác động rất lớn tới

quá trình sản xuất của ngành xây dựng

Thứ nhất :

Sản phẩm xây dựng là các công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức

tạp, sản xuất mang tính chất đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm dài, quá trình

thi công chia làm nhiều giai đoạn Đặc điểm này làm cho việc tổ chức quản lý và

hạch toán chi phí sản phẩm xây dựng cơ bản phải thông qua dự toán ( dự toán thiết

kế, dự toán thi công ), quá trình sản xuất sản phẩm luôn phải so sánh với dự toán,

lấy dự toán làm thước đo hạch toán chi phí và thanh quyết toán công trình

Thứ hai :

Sản phẩm xây dựng mang tính chất cố định, nơi sản xuất sản phẩm đồng thời là

nơi sản phẩm đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng Tuy nhiên các điều kiện phục

vụ cho sản xuất thi công như : máy thi công, vật tư luân chuyển, thiết bị, nhân lực

Trang 4

phải di chuyển theo địa điểm sản xuất Công tác quản lý, sử dụng, hạch toán tài sản

vật tư vì thế cũng trở nên rất phức tạp, đặc biệt đối với những máy thi công, vật tư

luân chuyển tham gia vào nhiều công trình trong một kỳ hạch toán

Thứ ba :

Thời gian sản xuất sản phẩm xây dựng thường dài, có thể là vài tháng, cũng có

thể là vài năm, nó phụ thuộc vào quy mô, tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng

công trình và điều kiện tự nhiên Do đó quá trình và điều kiện thi công không ổn

định phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm và theo từng giai đoạn thi công

công trình

Thứ tư :

Sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về nhiều mặt: kinh tế, chính trị, văn

hoá được sản xuất theo hợp đồng ký kết được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá

thoả thuận với chủ đầu tư trong hợp đồng

Những đặc trưng này có tác động lớn tới việc tổ chức công tác kế toán nói

chung, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng

1.2 Yêu cầu của công tác quản lý và kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành

sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp

Do đặc thù của ngành kinh doanh xây lắp và sản phẩm xây lắp nên quản lý về

đầu tư và xây dựng là một quá trình khó khăn, phức tạp, trong đó tiết kiệm chi phí

sản xuất, hạ giá thành sản phẩm là một trong những mối quan tâm hàng đầu, là

nhiệm vụ hết sức quan trọng của doanh nghiệp Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng

cơ bản chủ yếu áp dụng phương pháp đấu thầu, giao nhận thầu xây dựng Vì vậy,

để trúng thầu thì doanh nghiệp phải xây dựng được giá thầu hợp lý dựa trên cơ sở

các định mức, đơn giá xây dựng cơ bản do Nhà nước ban hành, trên cơ sở giá cả thị

trường và năng lực của Doanh nghiệp Mặt khác doanh nghiệp phải đảm bảo kinh

doanh có lãi Để thực hiện được các yêu cầu trên đòi hỏi các doanh nghiệp phải

tăng cường công tác quản lý kinh tế nói chung, quản lý chi phí giá thành nói riêng,

Trang 5

trong đó trọng tâm là công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành, đảm bảo

phát huy tối đa vai trò của công tác kế toán đối với quản lý sản xuất

Nhiệm vụ đặt ra cho công tác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây

lắp là: xác định hợp lý đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá

thành phù hợp với điều kiện thực tại của doanh nghiệp nhằm thoả mãn yêu cầu

quản lý đặt ra, vận dụng các phương pháp tính giá thành và phương pháp kế toán

theo một trình tự logic để tính toán chính xác, đầy đủ, kiểm tra các khâu hạch toán

như tiền lương, vật liệu, tài sản cố định xác định số liệu cần thiết cho kế toán tập

hợp chi phí sản xuất và tính giá thành

Cụ thể kế toán phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

- Phản ánh đầy đủ chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh

- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí vật tư, nhân công, chi phí sử

dụng máy thi công và các chi phí dự toán khác Phát hiện kịp thời các khoản

chênh lệch so với định mức, dự toán các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các khoản

thiệt hại, mất mát, hư hỏng, trong quá trình sản xuất để đề ra các biện pháp ngăn

chặn kịp thời

- Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm xây lắp các sản phẩm và lao vụ

hoàn thành của doanh nghiệp

- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp theo từng công

trình, hạng mục công trình, từng loại sản phẩm và lao vụ, vạch ra khả năng và các

biện pháp hạ giá thành một cách hợp lý và có hiệu quả

- Xác định đúng đắn và bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây lắp

hoàn thành Định kỳ kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo nguyên

tắc quy định

- Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng công trình, hạng

mục công trình, từng bộ phận thi công, tổ, đội sản xuất trong từng thời kỳ nhất

định, kịp thời lập các báo cáo về chi phí sản xuất và giá thành công tác xây lắp,

Trang 6

cung cấp chính xác kịp thời các thông tin hữu ích về chi phí sản xuất và giá thành

phục vụ cho yêu cầu quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp

2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN

PHẨM XÂY LẮP

2.1 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất

2.1.2 Khái niệm chi phí sản xuất

Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình biến đổi

một cách có ý thức và có mục đích các yếu tố sản xuất đầu vào thành các công

trình, lao vụ nhất định

Mỗi doanh nghiệp để tiến hành sản xuất bình thường tạo ra sản phẩm nhất định

luôn phải kết hợp hài hoà 3 yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất đó là: tư liệu lao

động, đối tượng lao động ( biểu hiện cụ thể là các hao phí về lao động vật hoá ) và

sức lao động của con người ( biểu hiện là hao phí về lao động sống )

Mặc dù các loại hao phí bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm nhiều

loại, nhiều yếu tố khác nhau nhưng trong điều kiện tồn tại quan hệ hàng hoá - tiền

tệ thì chúng được biểu hiện dưới hình thức giá trị Do đó, chi phí sản xuất trong

các doanh nghiệp nói chung và trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản nói riêng là

biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các

hao phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải bỏ ra để tiến thành hoạt động sản xuất

trong một thời kỳ nhất định

Qua nghiên cứu chi phí sản xuất kinh doanh ta có thể đánh giá được trình độ

quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí của doanh nghiệp Chi

phí có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh Vì vậy doanh nghiệp nào cũng

đều phải quan tâm đến quản lý chi phí, từ đó phấn đấu giảm chi phí, hạ giá thành

sản phẩm để tăng sức cạnh tranh đảm bảo sự tồn tại và phát triển của đơn vị mình

2.1.3 Phân loại chi phí sản xuất

Trang 7

Trong các doanh nghiệp xây dựng cơ bản, chi phí sản xuất kinh doanh gồm

nhiều loại có nội dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng trong quá trình

sản xuất cũng khác nhau Do đó yêu cầu quản lý đối với từng loại chi phí cũng

khác nhau Việc quản lý sản xuất , quản lý chi phí sản xuất không thể chỉ dựa vào

số liệu phản ánh tổng hợp chi phí sản xuất mà còn phải căn cứ vào số liệu cụ thể

của từng loại chi phí riêng biệt để phục vụ cho yêu cầu kiểm tra và phân tích toàn

bộ chi phí sản xuất hoặc từng yếu tố chi phí ban đầu của chúng theo từng công

trình, hạng mục công trình theo từng nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí Do

đó, phân loại chi phí sản xuất là một yêu cầu tất yếu để hạch toán chính xác chi phí

sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp Phân loại chi phí sản xuất một cách

khoa học và thống nhất không những có ý nghĩa quan trọng đối với công tác kế

toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm mà còn là tiền đề quan trọng để kế

hoạch hoá, kiểm tra và phân tích chi phí sản xuất của toàn bộ doanh nghiệp, thúc

đẩy không ngừng việc sử dụng tiết kiệm, hợp lý chi phí sản xuất, hạ giá thành, phát

huy hơn nữa vai trò của công tác kế toán đối với sự phát triển của doanh nghiệp

Tuỳ theo từng yêu cầu quản lý, đối tượng cung cấp thông tin mà chi phí sản

xuất được phân loại theo các cách sau :

* Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế ( hay theo yếu tố )

Theo cách phân loại này, dựa vào nội dung kinh tế của chi phí sắp xếp những chi

phí có cùng nội dung vào một loại và mỗi loại gọi là một yếu tố chi phí Chi phí sản

xuất bao gồm các yếu tố chi phí sau :

- Chi phí về nguyên nhiên vật liệu :

Bao gồm toàn bộ chi phí về các loại đối tượng lao động là nguyên vật liệu chính,

vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây lắp

- Chi phí nhân công :

Là toàn bộ các khoản lương chính, lương phụ, tiền công và những khoản phụ cấp

có tính chất như lương mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động trong kỳ

- Chi phí về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn

Trang 8

Các khoản này được trích theo lương của cán bộ công nhân viên theo quy định

hiện hành: 15% bảo hiểm xã hội, 2% bảo hiểm y tế, 2% kinh phí công đoàn

- Chi phí khấu hao TSCĐ :

Trong quá trình sử dụng, TSCĐ bị hao mòn và giá trị hao mòn dịch chuyển dần

vào giá trị sản phẩm được gọi là khấu hao TSCĐ Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ

phải trích cho tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ

- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài :

Bao gồm toàn bộ số tiền phải trả về các dịch vụ đã sử dụng vào hoạt động sản

xuất kinh doanh do các đơn vị khác cung cấp như: chi trả tiền điện, tiền nước, điện

thoại

- Yếu tố chi phí bằng tiền khác :

Đó là các chi phí bằng tiền ngoài các chi phí đã trả kể trên như: thuế môn bài ,

thuế đất, chi phí dự thầu

Đặc điểm của cách phân loại này là dựa vào hình thái nguyên thuỷ của toàn bộ chi

phí bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh, không phân biệt chi phí đó dùng ở

đâu, dùng cho sản phẩm nào, nếu doanh nghiệp tự sản xuất ra được một phần

nguyên vật liệu và lại dùng nguyên vật liệu đó vào sản xuất thì những chi phí để tạo

ra nguyên vật liệu đó phải được hạch toán vào những yếu tố liên quan Vì vậy, qua

cách phân loại trên ta thấy rõ được mức chi phí về lao động sống và lao động vật

hoá trong toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ của doanh nghiệp

và nó còn cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng yếu tố cấu thành chi phí trong giá

thành sản phẩm, lao vụ, làm căn cứ xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch

huy động và sử dụng lao động vào phục vụ cho công tác thống kê theo yếu tố

* Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế ( hay phân loại chi phí theo khoản

mục giá thành )

Mỗi yếu tố chi phí phát sinh đều có mục đích và công dụng nhất định đối với hoạt

động sản xuất kinh doanh Căn cứ vào mục đích và công dụng kinh tế của chi phí

để sắp xếp thành những khoản mục chi phí khác nhau Mỗi khoản mục chi phí chỉ

Trang 9

bao gồm những chi phí có cùng mục đích và công dụng, không phân biệt nội dung

kinh tế Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ được

chia thành các khoản mục chi phí sau đây:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Bao gồm các chi phí về nguyên nhiên vật liệu chính và phụ dùng để trực tiếp chế

tạo ra sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, nó không bao gồm những chi phí

nguyên vật liệu sử dụng vào mục đích sản xuất chung và những hoạt động ngoài

sản xuất

- Chi phí nhân công trực tiếp:

Là những khoản tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp có tính chất lương, các

khoản trích theo lương ( BHXH, BHYT, KPCĐ )

- Chi phí sử dụng máy thi công:

Là toàn bộ chi phí về tiền lương công nhân vận hành máy móc, tiền nhiên liệu,

tiền sửa chữa, khấu hao TSCĐ, tiền thuê máy thi công, tức là bao gồm toàn bộ chi

phí phát sinh khi sử dụng máy thi công tại công trình

Loại chi phí này chỉ có ở ngành xây dựng cơ bản, chi phí sử dụng máy thi công

trong xây dựng là một khoản mục chi phí cấu thành giá thành sản xuất của sản

phẩm xây lắp cần được phản ánh riêng theo yêu cầu quản lý của ngành

- Chi phí sản xuất chung :

Là những chi phí duy trì bộ máy quản lý ở phân xưởng, tổ, đội sản xuất và những

chi phí dùng chung cho hoạt động sản xuất ở phân xưởng, tổ, đội sản xuất Thuộc

những chi phí này bao gồm:

+ Chi phí nhân công của nhân viên quản lý ở phân xưởng, tổ đội sản xuất

+ Chi phí vật liệu sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung ở phân xưởng, tổ đội sản

xuất

+ Chi phí khấu hao TSCĐ dùng phục vụ cho sản xuất ở phân xưởng, tổ, đội sản

xuất

Trang 10

+ Chi phí về công cụ, dụng cụ dùng phục vụ sản xuất ở phân xưởng, tổ, đội sản

xuất

+ Chi phí về dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất ở phân xưởng, tổ, đội sản xuất

như: chi phí về tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại, tiền thuê sửa chữa TSCĐ

+ Các khoản trích trước đã có sự thoả thuận của cơ quan tài chính như : trích sửa

chữa lớn TSCĐ

+ Chi phí bằng tiền khác là các khoản chi phí khác ngoài các khoản chi phí đã nêu

trên phát sinh ở phân xưởng, tổ, đội sản xuất như : chi về văn phòng phẩm, bảo hộ

lao động, công tác phí

Phân loại chi phí theo công dụng của chi phí có tác dụng phục vụ cho yêu cầu

quản lý chi phí sản xuất theo định mức ( định mức tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu;

định mức tiền lương ), theo dự toán chi phí, theo kế hoạch giá thành Kế toán sử

dụng cách phân loại này để tập hợp chi phí cấu thành giá thành sản xuất của sản

phẩm, lao vụ, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế

hoạch giá thành sản xuất cho kỳ sau Đồng thời thông qua đó có thể phân tích đánh

giá những khoản mục chi phí bất hợp lý từ đó tìm ra biện pháp thích ứng nhằm

giảm bớt từng loại chi phí để hạ giá thành

Ngoài hai cách phân loại chủ yếu trên, phục vụ cho công tác quản lý và công tác

kế toán chi phí sản xuất còn có thể phân loại theo các tiêu thức khác như : căn cứ

vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất kinh doanh với số lượng, khối lượng sản

phẩm hoàn thành để chia chi phí sản xuất thành chi phí cố định và chi phí biến đổi;

căn cứ vào phương pháp kế toán tập hợp chi phí để chia chi phí thành chi phí trực

tiếp và chi phí phân bổ gián tiếp

Mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa riêng, phục vụ cho từng yêu cầu

quản lý và đối tượng cung cấp thông tin cụ thể nhưng chúng luôn bổ sung cho nhau

nhằm quản lý có hiệu quả toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong toàn bộ doanh

nghiệp trong từng thời kỳ nhất định

2.2 Giá thành sản phẩm

Trang 11

2.2.1 Khái niệm giá thành

Nghiên cứu chi phí và cách phân loại nói trên giúp chúng ta có được cách

nhìn tổng thể về chi phí kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, trên thực tế để

làm cơ sở cho việc định giá bán sản phẩm trên thị trường ta không thể sử dụng chi

phí để định giá mà cần thiết phải dựa vào giá thành Để xây dựng nên một công

trình hay hoàn thành một lao vụ doanh nghiệp xây lắp phải đầu tư vào quá trình

sản xuất, thi công một lượng chi phí nhất định Những chi phí sản xuất mà doanh

nghiệp đã bỏ ra trong quá trình thi công đó sẽ tham gia cấu thành nên giá thành sản

phẩm xây lắp hoàn thành của quá trình đó

Như vậy: “ Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của những chi phí

sản xuất ( bao gồm chi phí vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi

công, chi phí sản xuất chung ) tính cho từng công trình, hạng mục công trình hay

khối lượng xây lắp hoàn thành đến giai đoạn quy ước đã hoàn thành, nghiệm thu,

bàn giao và được chấp nhận thanh toán ”

Khác với các doanh nghiệp công nghiệp khác ở doanh nghiệp xây lắp, giá thành

sản phẩm mang tính cá biệt: mỗi công trình, hạng mục công trình hay khối lượng

xây lắp sau khi đã hoàn thành đều có một giá thành riêng Hơn nữa, khi một doanh

nghiệp được nhận thầu một công trình thì giá bán ( giá nhận thầu ) đã có từ trước

khi công trình đó được thi công Tức là giá bán có trước khi xác định giá thành thực

tế của công trình đó Do dó, giá thành thực tế của một công trình, khối lượng lao vụ

hoàn thành chỉ quyết định tới lãi hoặc lỗ của doanh nghiệp do thực hiện thi công

công trình đó mà thôi

Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay để đa dạng hoá hoạt động sản xuất kinh

doanh và được sự cho phép của Nhà nước, các doanh nghiệp xây lắp đã có thể linh

hoạt, chủ động xây dựng một số công trình ( chủ yếu là các công trình dân dụng

như : nhà ở, văn phòng, cửa hàng ) sau đó bán lại cho các đối tượng có nhu cầu

sử dụng với giá hợp lý thì giá thành sản phẩm xây lắp cũng là một nhân tố quan

trọng để xác định giá bán

Trang 12

Giá thành là một bộ phận giá trị biểu hiện bằng tiền, do đó nó là một phạm trù

kinh tế khách quan bởi sự chuyển dịch của giá trị tư liệu sản xuất và lao động sống

đã hao phí vào sản xuất ra là cần thiết, tất yếu

Mặt khác, giá thành là một đại lượng tính toán, là chỉ tiêu có sự biến đổi nhất

định nên ở phương diện này, giá thành ít nhiều lại mang tính chất chủ quan thể hiện

ở hai khía cạnh:

- Tính vào giá thành một số khoản mục chi phí mà thực chất là thu nhập thuần tuý

của xã hội như : BHXH, các khoản trích nộp cho cơ quan cấp trên, thuế vốn, thuế

tài nguyên

- Một số khoản mục chi phí gián tiếp được phân bổ vào giá thành của từng loại sản

phẩm hay từng sản phẩm theo các tiêu thức phù hợp

Trong doanh nghiệp, chi phí và giá thành là những chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng

luôn được các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm vì chúng là những chỉ tiêu phản

ánh chất lượng hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp

Chi phí sản xuất là cơ sở để hình thành nên giá thành Giữa chi phí sản xuất và

giá thành sản phẩm xây lắp có sự khác nhau về phạm vi, giới hạn và nội dung

- Chi phí sản xuất chỉ tính trong một thời kỳ còn giá thành lại liên quan đến chi phí

của khối lượng xây lắp kỳ trước chuyển sang nhưng lại không bao gồm chi phí thực

tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ

- Chi phí sản xuất được tập hợp theo từng thời kỳ nhất định còn giá thành sản phẩm

xây lắp là chi phí sản xuất được tính cho một công trình, hạng mục công trình hay

khối lượng xây lắp hoàn thành

Tuy nhiên giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp lại có sự giống

nhau: chúng đều phản ánh chi phí lao động trong quá trình sản xuất

Giá thành sản phẩm xây lắp và chi phí sản xuất của công tác xây lắp thống nhất

về mặt lượng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính

giá thành là một công trình, hạng mục công trình được hoàn thành trong kỳ tính giá

thành hoặc giá trị khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ và đầu kỳ bằng nhau

Trang 13

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có mối quan hệ mật thiết với

nhau Tài liệu tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở và căn cứ để tính giá thành sản

phẩm Nếu coi như tính giá thành sản phẩm là công việc chủ yếu trong công tác kế

toán tài chính thì công tác chi phí sản xuất có tác dụng quyết định đến tính chính

xác của giá thành sản phẩm xây lắp

2.2.3 Phân loại giá thành sản phẩm :

* Trong kinh doanh xây lắp, để giúp cho việc nghiên cứu và quản lý tốt giá thành

sản phẩm, ta cần phân biệt các loại giá thành: giá thành dự toán, giá thành kế

hoạch, giá thành thực tế

+ Giá thành dự toán :

Do đặc điểm hoạt động xây lắp: thời gian sản xuất, thi công dài, sản phẩm mang

tính chất đơn chiếc nên mỗi công trình, hạng mục công trình đều phải được lập dự

toán trước khi sản xuất, thi công

Giá thành dự toán là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp công

trình, hạng mục công trình Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các định

mức kinh tế, kỹ thuật, đơn giá của Nhà nước, mặt bằng giá cả thị trường Giá thành

dự toán là số chênh lệch giữa giá trị dự toán và phần lãi định mức

=>

Trong đó: - Lãi định mức là số % trên giá thành xây lắp do Nhà nước quy định với

từng loại hình xây lắp khác nhau, từng loại sản phẩm cụ thể

- Giá trị dự toán là giá nhận thầu của đơn vị xây lắp đối với chủ đầu tư

Trang 14

Giá thành kế hoạch là giá thành được xác định trên cơ sở những điều kiện cụ thể

của doanh nghiệp về các định mức, đơn giá, biện pháp thi công

Dựa trên những định mức tiên tiến của nội bộ doanh nghiệp, giá thành kế hoạch

là cơ sở để phấn đấu hạ giá thành công tác xây lắp trong giai đoạn thi công Nó là

chỉ tiêu phản ánh trình độ quản lí giá thành của đơn vị

+ Giá thành thực tế :

Giá thành thực tế là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí thực tế ( chi phí

nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi

công, chi phí sản xuất chung) mà doanh nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành một khối

lượng xây lắp nhất định Giá thành thực tế không chỉ bao gồm các chi phí trong

định mức mà còn bao gồm cả các chi phí thực tế phát sinh ngoài định mức như:

thiệt hại phá đi làm lại, thiệt hại ngừng sản xuất, những mất mát, hao hụt vật tư do

nguyên nhân khách quan và chủ quan của bản thân doanh nghiệp

Khác với hai loại giá thành trên, giá thành thực tế được xác định sau khi kết thúc

quá trình sản xuất sản phẩm Nó được xác định dựa trên cơ sở các chi phí thực tế

phát sinh trong quá trình sản xuất được tập trung trong kỳ và sản lượng thực tế đã

sản xuất ra Đây là chỉ tiêu kinh tế tập hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh

nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế, kỹ thuật để thực hiện

quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp

Muốn đánh giá chính xác chất lượng thi công của công trình xây lắp đòi hỏi

chúng ta phải so sánh các loại giá thành trên với nhau nhưng với điều kiện đảm bảo

sự thống nhất về thời gian và cách tính trong suốt quá trình so sánh và sự so sánh

phải được thực hiện trên cùng một đối tượng

Giữa ba loại giá thành này có mối quan hệ về mặt lượng như sau:

Mức hạ giá th nh

kế hoạch

Trang 15

Giá thành dự toán > Giá thành kế hoạch > Giá thành thực tế

Việc so sánh này cho phép chúng ta có thể đánh giá chính xác và toàn diện hiệu

quả của sản xuất thi công trọn vẹn một công trình, đồng thời đánh giá sự tiến bộ

hay sự non yếu của doanh nghiệp xây lắp trong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất,

trình độ tổ chức quản lý của bản thân doanh nghiệp

* Trong các doanh nghiệp xây lắp với các đặc điểm của hoạt động xây lắp, yêu

cầu của công tác quản lý về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, ngoài việc

quản lý theo các loại giá thành đòi hỏi phải tính toán, quản lý giá thành của khối

lượng hoàn thành quy ước

- Giá thành khối lượng hoàn chỉnh là giá thành của những công trình, hạng mục

công trình đã hoàn thành, đảm bảo kỹ thuật, chất lượng, đúng thiết kế, hợp đồng,

bàn giao được bên chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán Chỉ tiêu này

cho phép ta đánh giá một cách chính xác và toàn diện hiệu quả sản xuất, thi công

trọn vẹn cho một công trình, hạng mục công trình Tuy nhiên, nó không đáp ứng

được yêu cầu cung cấp một cách kịp thời các số liệu cần thiết cho việc quản lý sản

xuất và giá thành trong suốt quá trình thi công công trình

Do đó, để đáp ứng được yêu cầu quản lý và đảm bảo sản xuất kịp thời, đòi hỏi

phải xác định khối lượng hoàn thành quy ước

Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành quy ước là giá thành khối lượng xây lắp

hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và phải thoả mãn các điều kiện sau:

+ Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng kỹ thuật

+ Khối lượng này phải xác định được một cách cụ thể và được bên chủ đầu tư

nghiêm thu chấp nhận thanh toán

+ Phải đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý

Giá thành khối lượng hoàn thành quy ước phản ánh kịp thời chi phí sản xuất cho

đối tượng xây lắp trong quá tình thi công xây lắp, từ đó giúp cho doanh nghiệp

phân tích kịp thời các chi phí đã chi ra cho từng đối tượng để có biện pháp quản lý

Trang 16

thích hợp và cụ thể Nhưng nó lại không phản ánh được một cách toàn diện, chính

xác toàn bộ công trình, hạng mục công trình

Vì vậy, để đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về quản lý giá thành là kịp thời, chính

xác, toàn diện và có hiệu quả thì phải sử dụng kết hợp cả 2 chỉ tiêu : giá thành khối

lượng xây lắp hoàn chỉnh và giá thành khối lượng hoàn thành quy ước

2 NỘI DUNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ

THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP

2.1 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất :

2.1.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất :

Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi giới hạn mà các chi phí

sản xuất phát sinh cần được tổ chức tập hợp theo phạm vi giới hạn đó nhằm đáp

ứng yêu cầu kiểm tra phân tích chi phí và yêu cầu tính giá thành sản phẩm

Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất thực chất là xác định nơi

phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí Nơi phát sinh chi phí là phân xưởng, tổ, đội

sản xuất còn nơi chịu phát sinh chi phí sản xuất là sản phẩm, công việc, công trình,

hạng mục công trình Việc chọn lựa đối tượng chi phí ở từng doanh nghiệp có sự

khác nhau, thông thường người quản lý dựa vào các đặc điểm sau:

- Tính chất sản xuất, loại hình sản xuất, đặc điểm tổ chức sản xuất, đặc điểm quy

trình công nghệ sản xuất sản phẩm

- Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lý, khả năng trình độ quản lý,

trình độ hạch toán của doanh nghiệp

Dựa vào những căn cứ trên đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các

doanh nghiệp xây dựng thường là từng công trình, hạng mục công trình hay theo

từng đơn đặt hàng

2.1.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất :

Trang 17

Mỗi loại chi phí sản xuất thường liên quan đến nhiều đối tượng kế toán khác

nhau Vì vậy phải xác định đúng đắn đối tượng liên quan để tổ chức tập hợp chi phí

sản xuất chính xác Thông thường có hai phương pháp tập hợp chi phí sản xuất sau:

• Phương pháp tập hợp trực tiếp:

Phương pháp này được áp dụng với các chi phí có thể quy nạp, tập hợp cho từng

đối tượng chịu chi phí

Với những chi phí sử dụng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi

phí riêng biệt ( công trình, hạng mục công trình) thì hạch toán trực tiếp cho từng

đối tượng đó

Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp xây dựng cơ

bản vì nó tạo điều kiện cho kế toán tính giá thành và người quản lý đánh giá hiệu

quả hoạt động của doanh nghiệp

• Phương pháp phân bổ trực tiếp

Phương pháp này được áp dụng đối với các chi phí gián tiếp (liên quan đến nhiều

đối tượng) Do đó phải lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí cho các đối tượng liên

quan theo công thức sau:

Ci = x Ti

Trong đó: Ci : Là chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng thứ i

Σ C : Là tổng chi phí sản xuất đã tập hợp cần phân bổ

: Là tổng đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ

Ti : Là đại lượng dùng để phân bổ của đại lượng thứ i

2.1.3 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất

Trang 18

Theo quy định hiện hành, các doanh nghiệp xây lắp phải tiến hành tập hợp chi phí

sản xuất được tiến hành theo phương pháp kê khai thường xuyên

Do đó trong phạm vi chuyên đề này em chỉ xin đề cập đến trường hợp kế toán

tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyên

* Hệ thống tài khoản sử dụng :

- TK 621 : “ Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp ”:

Được dùng để tập hợp toàn bộ chi phí nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trực tiếp

dùng để sản xuất sản phẩm, thi công công trình phát sinh trong kỳ

Kết cấu cơ bản của TK 621 như sau :

Bên Nợ : Trị giá vốn của nguyên vật liệu sử dụng vào sản xuất sản phẩm, lao vụ

trong kỳ (kể cả xuất kho đưa vào sử dụng hoặc mua về sử dụng ngay vào sản xuất)

Bên Có : Trị giá vốn nguyên vật liệu chưa sử dụng hết nhập lại kho

Trị giá phế liệu thu hồi tính giá nhập kho

Trị giá vốn nguyên vật liệu sử dụng thực tế kết chuyển sang TK tính giá

thành cuối kỳ

Sau khi kết chuyển TK này không có số dư:

TK 621 được mở chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở doanh nghiệp

SƠ ĐỒ 1: HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU

TRỰC TIẾP

Vật liệu dùng trực tiếp chế tạo sản

phẩm tiến h nh lao vụ dịch vụ

VL dùng không hết nhập kho phê

Cuối kỳ kết chuyển chi phí NVLTT

TK154

TK152 TK621

TK152;153;331

Trang 19

- TK 622 : “ Chi phí nhân công trực tiếp ”

Được dùng để tập hợp và kết chuyển số chi phí tiền công của công nhân sản xuất

trực tiếp ( bao gồm cả tiền lương, tiền công, tiền thưởng, phụ cấp và các khoản phải

trả khác của công nhân sản xuất )

Kết cấu của TK 622 như sau:

Bên Nợ : Ghi các khoản được tính vào chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ

Khoản trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất

Bên Có : Cuối kỳ kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp sang TK tính giá thành

Sau khi kết chuyển TK 622 không có số dư

TK 622 cũng được mở chi tiết theo đối tượng tập hợp chi phí

SƠ ĐỒ2: HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP

Trang 20

TK 338

- TK 623 : “ Chi phí sử dụng máy thi công ”

Chỉ có ở ngành xây dựng cơ bản, sử dụng để tập hợp chi phí sử dụng máy thi

công trong công tác xây dựng

Kết cấu cơ bản của TK 623 như sau:

Bên Nợ : Tập hợp chi phí sử dụng máy phát sinh trong kỳ

Bên Có : Phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các đối tượng chịu chi phí

Sau khi phân bổ, TK 623 không có số dư

TK 623 được mở chi tiết thành TK cấp 2 :

+ TK 6231 : Chi phí nhân công

+ TK 6232 : Chi phí vật liệu

+ TK 6233 : Chi phí dụng cụ sản xuất

+ TK 6234 : Chi phí khấu hao máy thi công

+ TK 6237 : Chi phí dịch vụ mua ngoài

+ TK 6238 : Chi phí bằng tiền khác

Trang 21

- TK 627 “ Chi phí sản xuất chung ”

Dùng để tập hợp các chi phí dùng để phục vụ, duy trì quản lý sản xuất thi công ở

tổ, đội sản xuất trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp

Kết cấu của TK này như sau :

Bên Nợ : Tập hợp chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ

Bên Có : Cuối kỳ phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tượng cần tính giá và

kết chuyển sang TK tính giá thành

Sau khi kết chuyển TK này không có số dư

TK 627 có các TK cấp 2 như sau :

+ TK 6271 “ Chi phí nhân viên ” dùng để phản ánh chi phí nhân công phải trả cho

cán bộ nhân viên quản lý ở các phân xưởng, tổ, đội sản xuất

+ TK 6272 “ Chi phí vật liệu ” dùng để phản ánh chi phí vật liệu, nhiên liệu dùng

cho phân xưởng, tổ, dội sản xuất như vật liệu phụ, phụ tùng thay thế dùng để sửa

chữa TSCĐ ở phân xưởng , vật liệu dùng phục vụ quản lý chung ở phân xưởng

+ TK 6273 “ Chi phí dụng cụ sản xuất ” dùng để phản ánh chi phí về công cụ dụng

cụ dùng phục vụ sản xuất ở phân xưởng, tổ, đội sản xuất

+ TK 6274 “ Khấu hao TSCĐ ” dùng để phản ánh số tiền khấu hao của TSCĐ sử

dụng ở phân xưởng, tổ, đội

+ TK 6277 “ Chi phí dịch vụ mua ngoài ” dùng để phản ánh các chi phí lao vụ, dịch

vụ mua ngoài phục vụ phục vụ cho hoạt động chung ở phân xưởng, tổ, đội sản xuất

như điện, nước, điện thoại, khí đốt

+ TK 6278 “ Chi phí bằng tiền khác ” dùng để phản ánh những chi phí bằng tiền

ngoài chi phí nói trên phục vụ cho tổ chức quản lý sản xuất chung ở phân xưởng,

tổ, đội sản xuất

Trang 22

KILOBOOKS.COM

Trang 23

- TK 154 : “ Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang ”

Dùng để tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ liên quan đến sản xuất kinh

doanh và tính giá thành sản phẩm

Kết cấu của TK 154 như sau :

Dư Nợ đầu kỳ : phản ánh vốn sản phẩm dở dang đầu kỳ

Chi phí NVL,công cụ

dụng cụ

Các chi phí sản xuất

chung khác

Chi phí nhân viên

Chi phí theo dự toán

Các khoản giảm chi phí sản xuất chung cuối kỳ

Phân bổ hoặc kết chuyển chi

TK 111, 112, 152

Trang 24

Phát sinh bên Nợ : tập hợp chi phí sản xuất trong kỳ kết chuyển từ các TK 621,

622, 623, 627 sang

Phát sinh bên Có : phản ánh tổng giá thành sản xuất của sản phẩm , lao vụ sản xuất

được trong kỳ đã tính được

Dư Nợ cuối kỳ : phản ánh vốn sản phẩm dở dang cuối kỳ

SƠ ĐỒ 4: HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN PHẨM ĐƯỢC THỂ HIỆN QUA

SƠ ĐỒ SAU

TK 621 TK154

TK622 TK 155;152

TK 157

máy thi công

Các khoản ghi giảm

chi phí sản phẩm

Nhập kho vật tư sản phẩm

Gửi bán Tiêu thụ thẳng

Tổng giá

th nh thực

tế sản phẩm lao

Trang 25

Ngoài phương pháp kê khai thường xuyên kế toán còn có thể tính giá thành theo

phương pháp kiểm kê định kỳ

*Ta có thể khái quát trình tự kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành

sản phẩm xây lắp theo phương pháp kiểm kê định kỳ theo sơ đồ sau:

(1) Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế phát sinh

(2) Chi phí nhân công thực tế phát sinh

(3) Phần trích khấu hao tài sản cố định

(4) Chi phí khác bằng tiền

(5) Chi phí nguyên vật liệu công cụ dụng cụ

(6) Kết chuyển giá trị sản phẩm làm dở đầu kỳ

(7) Khấu hao chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

(8) Khấu hao chi phí nhân công trực tiếp

(9) Khấu hao chi phí sản xuất chung

(10) Khấu hao giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ

(11) Tổng giá thành sản xuất của sản phẩm, lao vụ dịch vụ

Trang 26

Có hai phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất mà doanh nghiệp thường áp

dụng: phương pháp kiểm kê định kỳ, và phương pháp kê khai thường xuyên

Nhưng trong trường hợp này chỉ áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên Nên

tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứu rõ hơn về phương pháp này

2.1.3 Đánh giá sản phẩm dở dang trong doanh nghiệp xây lắp :

Trang 27

Sản phẩm dở dang trong các doanh nghiệp xây lắp có thể là công trình, hạng mục

công trình dở dang chưa hoàn thành hay khối lượng công tác xây lắp dở dang trong

kỳ chưa được chủ đầu tư nghiệm thu, chấp nhận thanh toán

Đánh giá sản phẩm dở dang là việc tính toán xác định phần chi phí sản xuất

trong kỳ cho khối lượng sản phẩm làm dở cuối kỳ theo những nguyên tắc nhất

định

Để xác định được giá thành sản phẩm một cách chính xác, một trong những

điều kiện quan trọng là phải đánh giá chính xác sản phẩm làm dở cuối kỳ, tức là

xác định số chi phí sản xuất tính cho sản phẩm làm dở cuối kỳ phải chịu Muốn vậy

phải tổ chức kiểm kê chính xác khối lượng công tác xây lắp dở dang trong kỳ, đồng

thời xác định đúng đắn mức độ hoàn thành của từng khối lượng sản phẩm làm dở

so với khối lượng hoàn thành theo quy ước ở từng giai đoạn thi công Chất lượng

của công tác kiểm kê khối lượng xây lắp dở dang có ảnh hưởng đến tính chính xác

của việc đánh giá sản phẩm làm dở và tính giá thành

Với các doanh nghiệp xây lắp, do đặc điểm của sản phẩm xây dựng: có kết cấu

phức tạp, thời gian thi công dài , nên việc xác định mức độ hoàn thành của nó rất

khó khăn Do đó khi đánh giá sản phẩm làm dở, kế toán luôn phải kết hợp chặt chẽ

với các bộ phận khác như bộ phận kỹ thuật, bộ phận kế koạch

Tuỳ theo đặc điểm, tình hình cụ thể tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ, tính

cấu thành chi phí sản xuất, trình độ quản lý mà doanh nghiệp sản xuất cơ bản có thể

sử dụng các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ phù hợp sau :

* Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí dự toán:

Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí và

đối tượng tính giá thành trùng nhau

Theo phương pháp này, chi phí thực tế của khối lượng xây lắp ( KLXL ) dở dang

cuối kỳ được xác định theo công thức sau:

CP thực tế KLXL + CP thực tế phát

Trang 28

hoàn thành bàn giao + dở dang cuối kỳ

trong kỳ theo dự toán theo dự toán

Theo phương pháp này chi phí thực tế của khối lượng lắp đặt dở dang cuối kỳ

được xác định như sau :

Trang 29

thành tương đương

Ngoài ra, đối với một số công việc như: nâng cấp, sửa chữa, hoàn thiện hoặc

xây dựng những công trình có giá trị nhỏ, thời gian thi công ngắn, theo hợp đồng

được chủ đầu tư thanh toán sau khi hoàn thành toàn bộ thì giá trị sản phẩm làm dở

cuối kỳ chính là chi phí sản xuất thực tế phát sinh từ khi khởi công thi công đến

trước thời điểm cuối kỳ khi đánh giá, kiểm kê và nghiệm thu công trình

2.2 Kế toán giá thành sản phẩm xây lắp

2.2.1 Đối tượng tính giá thành :

Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ công tác

tính giá thành Bộ phận kế toán tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất

của doanh nghiệp, quy trình công nghệ của sản phẩm, chủng loại sản phẩm sản

xuất, để xác định đối tượng tính giá cho thích hợp

Trong các doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tính giá thành thường trùng với đối

tượng tập hợp chi phí sản xuất, đó là : công trình, hạng mục công trình hay khối

lượng xây lắp hoàn thành bàn giao

Qua nghiên cứu đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành

ta thấy giữa chúng có những điểm khác nhau :

- Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ để mở các tài khoản, các sổ chi tiết,

tổ chức ghi chép ban đầu, tập hợp số liệu chi phí sản xuất chi tiết theo từng đối

tượng, giúp doanh nghiệp tăng cường công tác kiểm tra, tiết kiệm chi phí

- Đối tượng tính giá thành là căn cứ để lập các bảng biểu chi tiết tính giá thành, lựa

chọn phương pháp tính giá thành hợp lý, phục vụ cho việc kiểm tra tình hình thực

hiện kế hoạch giá thành và tính hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Tuy nhiên , giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành

lại có mối quan hệ mật thiết với nhau vì về bản chất chúng đều là những phạm vi,

giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất

Mối quan hệ giữa chúng có thể được biểu hiện theo một trong các trường hợp sau :

Trang 30

-Tương ứng với một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nhiều đối tượng tính

giá thành có liên quan và ngược lại

- Tương ứng với một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất chỉ có một đối tượng tính

giá thành

- Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành tương ứng phù

hợp với nhau

Tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng

tính giá thành mà ta cần lựa chọn, áp dụng phương pháp tính giá thành thích hợp

2.2.2 Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp

Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng số liệu về chi

phí sản xuất để tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của sản phẩm lao

vụ đã hoàn thành theo yếu tố hoặc khoản mục giá thành trong kỳ tính giá thành đã

được xác định

Kỳ giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến hành công việc

tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành

Tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành và mối quan hệ giữa

đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành mà kế toán áp dụng

một hay nhiều phương pháp thích hợp

Ở các doanh nghiệp xây lắp thường áp dụng các phương pháp tính giá sau :

* Phương pháp tính giá thành trực tiếp :

Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong doanh nghiệp xây dựng cơ bản

hiện nay vì sản xuất, kinh doanh mang tính đơn chiếc, đối tượng tập hợp chi phí

sản xuất phù hợp với đối tượng tính giá thành

Hơn nữa, phương pháp này cho phép cung cấp kịp thời số liệu giá thành trong

mỗi kỳ báo cáo và cách tính dễ dàng

Theo phương pháp này, chi phí sản xuất trực tiếp được tập hợp cho một công

trình, hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá thành

của công trình, hạng mục côngtrình

Trang 31

Trường hợp công trình, hạng mục công trình chưa hoàn thành mà có khối lượng

xây lắp hoàn thành bàn giao thì :

Giá thành thực tế = Chi phí thực tế + Chi phí thực tế - Chi phí

thực tế

KLXL hoàn thành dở dang đầu kỳ phát sinh trong kỳ dở dang

cuối kỳ

Trong trường hợp chi phí sản xuất tập hợp theo công trường hoặc cả công

trường nhưng giá thành thực tế phải tính riêng cho từng hạng mục công trình thì kế

toán có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm và hệ số kinh tế kỹ thuật đã

quy định cho từng hạng mục công trình để tính giá thành thực tế cho hạng mục

côngtrình đó

Nếu các hạng mục công trình có thiết kế khác nhau, dự toán khác nhau nhưng

cùng thi công trên một địa điểm do một đội công trình sản xuất đảm nhiệm, không

có điều kiện theo dõi, quản lý riêng các loại chi phí khác nhau thì chi phí sản xuất

đã tập hợp được phải phân bổ cho từng hạng mục công trình theo những tiêu chuẩn

thích hợp với hệ số kinh tế kỹ thuật quy định cho từng hạng mục công trình

Hệ số phân bổ ( tỷ lệ phân bổ giá thành thực tế ) được xác định như sau :

ΣΣΣΣ C

H = x 100%

ΣΣΣΣ Gdt

Trong đó : Σ C : là tổng chi phí thực tế của cả công trình

Gdt : là giá trị dự toán của cả công trình

Khi đó : giá thành thực tế của hạng mục công trình = Gdti x H

với Gdti : là giá trị dự toán của hạng mục công trình thứ i

* Phương pháp tính giá theo đơn đặt hàng :

Phương pháp này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp nhận thầu xây lắp theo

đơn đặt hàng và khi đó đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành

là từng đơn đặt hàng

Trang 32

Theo phương pháp này, hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp theo

từng đơn đặt hàng và khi hoàn thành công trình thì chi phí sản xuất được tập hợp

cũng chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng Những đơn đặt hàng chưa sản

xuất xong thì toàn bộ chi phí sản xuất đã tập hợp được theo đơn đặt hàng đó chính

là chi phí sản xuất của khối lượng xây lắp dở dang

Trong thực tế, phương pháp này thường được áp dụng đối với các đơn vị sửa

chữa nhà cửa, cho công tác xây lắp phụ kiện ngoài

* Ph ương pháp tính giá thành theo định mức :

Phương pháp tính giá này được áp dụng đối với các doanh nghiệp xây dựng thoả

mãn các điều kiện sau:

- Phải tính được giá thành định mức trên cơ sở các định mức và đơn giá tại thời

Theo phương pháp này, giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp được xác định

theo công thức sau:

Giá thành thực tế Giá thành định mức Chênh lệch Chênh

Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp công trình, hạng mục công

trình phải trải qua nhiều giai đoạn thi công xây dựng giai đoạn lắp đặt máy móc

thiết bị

Trang 33

Theo phương pháp này, giá thành thực tế của toàn bộ công trình, hạng mục công

trình được tính như sau:

Z = C1 + C2 + + Cn + Dđk - Dck

Trong đó :

Z : giá thành thực tế của toàn bộ công trình, hạng mục công trình

C1, C2, Cn : chi phí sản xuất xây lắp của các giai đoạn

Dđk, Dck : chi phí thực tế sản phẩm làm dở đầu kỳ, cuối kỳ

4 HỆ THỐNG SỔ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH

GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

Hiện nay, tuỳ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh mà các doanh nghiệp có thể lựa

chọn 1 hình thức sổ kế toán cho phù hợp trong bốn hình thức sau:

- Hình thức sổ kế toán Nhật ký chung

- Hình thức sổ kế toán Nhật ký - Sổ cái

- Hình thức sổ kế toán Chứng từ ghi sổ

- Hình thức sổ kế toán Nhật ký - Chứng từ

Trong thực tế đơn vị thực tập sử dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ để

hạch toán kế toán cho toàn đơn vị Do vậy, để có điều kiện đi sâu nghiên cứu lý

thuyết và vận dụng thực tế hình thức sổ kế toán Chứng từ ghi sổ , trong phạm vi

bài viết này, em xin chỉ đề cập đến việc vận dụng hình thức sổ kế toán Chứng từ

ghi sổ để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành mà đơn vị đang áp dụng

4.1 Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ :

Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ : căn cứ trực tiếp để ghi

sổ kế toán tổng hợp là “ Chứng từ ghi sổ ” việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao gồm :

- Ghi theo trình tự thời gian trên sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ

- Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ Cái

Chứng từ ghi sổ do kế toán lập nên trên cơ sở chứng từ gốc: các phiếu xuất kho

nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ ) hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc cùng loại

( như Bảng kê phiếu xuất, Bảng phân bổ lương ) có cùng nội dung kinh tế

Trang 34

Chứng từ ghi sổ được đánh số hiệu liên tục trong từng tháng hoặc cả năm ( theo số

thứ tự trong Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ ) và có chứng từ gốc đính kèm, phải được

kế toán trưởng duyệt trước khi ghi sổ kế toán

Là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo

trình tự thời gian ( nhật ký ) Sổ này vừa dùng để đăng ký các nghiệp vụ kinh tế

phát sinh, quản lý chứng từ ghi sổ, vừa để kiểm tra đối chiếu số liệu với Bảng cân

đối số phát sinh

* Sổ Cái :

Là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo tài

khoản kế toán áp dụng cho doanh nghiệp, bao gồm: sổ Cái TK 621, sổ Cái TK 622,

sổ Cái TK 623, sổ Cái TK 627, sổ Cái TK 154

Số liệu trên các sổ Cái dùng để kiểm tra, đối chiếu với số liệu ghi trên Sổ đăng

ký chứng từ ghi sổ, các sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết dùng để lập báo cáo tài chính

* Sổ, thẻ kế toán chi tiết :

Dùng để ghi chép chi tiết các đối tượng kế toán cần phải theo dõi chi tiết như theo

dõi chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trên sổ chi tiết Tk 621, theo dõi chi tiết

chi phí nhân công trực tiếp trên sổ chi tiết TK 622, theo dõi chi tiết chi phí sử dụng

máy thi công trên sổ chi tiết TK 623, theo dõi chi tiết chi phí sản xuất chung trên sổ

chi tiết TK 627 theo từng công trình, hạng mục công trình nhằm phục vụ cho yêu

cầu tính giá thành sản phẩm, tổng hợp, phân tích, kiểm tra tính cân đối, hợp lý của

các khoản mục chi phí cấu thành giá thành sản phẩm mà các sổ kế toán tổng hợp

không đáp ứng được

Trang 35

SƠ ĐỒ 6 : SƠ ĐỒ TRÌNH TỰ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT THEO

HÌNH THỨC CHỨNG TỪ GHI SỔ

Ghi chú :

Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Quan hệ đối chiếu

Phiếu tính giá th nh sản phẩm

Trang 36

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT

TÍNH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 8 THĂNG LONG

1 ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA

CÔNG TY XÂY DỰNG SỐ 8 THĂNG LONG

- Tên Công ty: Công ty xây dựng số 8 Thăng Long thuộc Tổng Công ty xây

dựng Thăng Long

- Địa chỉ: Đường Phạm Văn Đồng- Xuân Đỉnh- Từ Liêm- Hà Nội

- Điện thoại: (04)8362665 hoặc (04)8362666

- Fax: (04)8387711

- Giám đốc Công ty: ông Vũ Duy Mạnh

- Công ty xây dựng số 8 thăng Long có khả năng nhận thầu thi công xây dựng

các công trình dân dụng, công nghiệp, các công trình giao thông, thuỷ lợi và các

công trình ngầm dưới nước, các công trình ngầm trong lòng đất

1.1.Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

Công ty Xây dựng số 8 Thăng Long ( tiền thân là một đội thợ lặn và xây dựng

công trình ngầm thuộc Tổng Công ty xây dựng Thăng Long) được thành lập năm

1991 theo Luật Công ty Đến năm 1996, Công ty chính thức được thành lập do Bộ

trưởng Bộ GTVT ký quyết định với số vốn thành lập ban đầu là 2.544 triệu đồng,

số lao động trong danh sách là 234 người, trong đó cán bộ quản lý là 32 người,

công nhân là 202 người

Sau hơn 10 năm đi vào hoạt động Công ty có những lần đổi tên như sau:

Ngày 23/4/1996 căn cứ quyết định số 842/QĐ- TCCB-LĐ của Bộ Giao thông vận

tải về việc thành lập doanh nghiệp nhà nước có tên là Công ty Lặn và Xây dựng

công trình ngầm Thăng Long ( trực thuộc Tổng công ty Xây dựng Thăng Long )

Ngày 15/8/1998 căn cứ quyết định số 2052/QĐ - TCCB - LĐ của Bộ Giao thông

Trang 37

vận tải về việc đổi tên công ty “ Công ty lặn và xây dựng công trình ngầm Thăng

Long ” thành “ Công ty Xây dựng và Trục vớt Thăng Long ”

Ngày 29/3/2001 căn cứ quyết định số 4228/QĐ- BGTVT của Bộ Giao thông vận

tải về việc đổi tên công ty : “ Công ty Xây dựng và trục vớt Thăng Long ” đổi tên

thành “ Công ty Xây dựng số 8 Thăng Long ’’ Theo đó Công ty có những chức

năng, nhiệm vụ chính như sau:

1.1.1 Chức năng

 Xây dựng công trình giao thông, cầu, cảng

 Xây dựng công trình dân dụng

 Xây dựng công trình công nghiệp

 Xây dựng công trình thuỷ lợi

 Xây dựng công trình thuỷ điện đến cấp III

 Nạo, vét, đào kênh, mương, lòng sông, cảng biển

 Thi công các công trình thuỷ lợi bằng phương pháp khoan nổ mìn trên cạn và

dưới nước

 Lặn phục vụ thi công các công trình ngầm dưới nước và trong lòng đất (lặn

khảo sát thăm dò, thanh thải chướng ngại vật để phục vụ thi công các công

trình)

 Hàn cắt và hàn cắt dưới nước, xây dựng các công trình ngầm dưới nước và

trong lòng đất

 Đào, đắp đất, đá, san, lấp mặt bằng, tạo bãi

 Kinh doanh xăng dầu, mỡ, dầu nhờn

 Trục vớt các phương tiện thuỷ nội địa chìm dắm trong lòng sông, hồ

 Xây dựng đường dây trạm điện đến 50 KV

1.1.2 Nhiệm vụ

+ Xây dựng nhà theo quy hoạch, kế hoạch giao thầu trực tiếp của ngành và Tổng

công ty Xây dựng Thăng Long

Trang 38

+ Nhận thầu xây dựng, cải tạo, sửa chữa ( kể cả trang trí nội thất) lắp đặt hệ thống

cấp thoát nước, điện hạ thế trong và ngoài nhà đối với các công trình công

nghiệp, dân dụng và nhà ở đến quy mô do cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Hội

đồng bộ trưởng, các bộ và các cơ quan ngang bộ xét duyệt luận chứng kinh tế kỹ

thuật và thẩm kế

+ Được liên doanh với các tổ chức kinh tế khác, có tư cách pháp nhân và chuyên

môn phù hợp với ngành nghề xây dựng cơ bản để làm tổng thầu các công trình

lớn do Nhà nước xét duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật và thẩm kế

+ Được tổ chức sản xuất và gia công các cấu kiện kết cấu thép, bê tông, cốt thép

và kết cấu gỗ phục vụ yêu cầu công tác xây lắp phù hợp với chuyên môn ngành

+ Xây dựng các công trình kỹ thật hạ tầng, công trình giao thông đường bộ, công

trình thuỷ lợi vừa và nhỏ

+ Lập, quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản để phát triển các đô thị, khu phố

mới và các công trình đô thị khác

+ Được liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để phát

triển sản xuất và thực hiện các dự án đầu tư của Công ty

+ Được phép tham gia dự thầu các công trình xây dựng dân dụng, thuỷ lợi trong

và ngoài nước

Ra đời trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta đang từng bước chuyển sang

nền kinh tế thị trường định hướng XNCN có sự cạnh tranh gay gắt, có nhiều thay

đổi về cơ chế, chính sách song Công ty luôn nhạy bén nắm bắt và có những thay

đổi kịp thời để không ngừng đẩy mạnh lao động, sản xuất đáp ứng mọi yêu cầu

khách hàng đặt ra Sau những năm hoạt động, Công ty không những đã bảo toàn

số vốn được giao, mà còn phát triển vốn lên nhiều lần, doanh thu hàng năm

không ngừng tăng lên, đời sống của người lao động được cải thiện đáng kể

 Số liệu minh họa:

Trang 39

Lợi nhuận sau thuế Tr.Đồng 826,2 3.438,4 3.383

Quy mô vốn kinh doanh Tr.Đồng 2.866 3.112 3.357

1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh của

Công ty

1.2.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý

Công ty hoạt động dưới sự lãnh đạo của Tổng Công ty thực hiện chế độ tự chủ

sản xuất kinh doanh trong phạm vi pháp luật quy định Tổng số cán bộ công nhân

viên hiện có của Công ty là: 301 người trong đó nhân viên quản lý là: 42 người,

được sắp xếp theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 7

Trang 40

PHÒNG

DỰ N ĐẦU TƯ

PHÒNG

KỸ THUẬT

PHÒNG VẬT TƯ

M Y THIẾT BỊ

Đội xây

dựng số

1

Đội xây dựng số

2

Đội xây dựng số

3

Đội xây dựng số

Đội xây dựng số

8

Đội xây dựng số

9

Xưởn

g sửa chữa

Ngày đăng: 11/10/2012, 16:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ 1:  HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU - Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long.pdf
SƠ ĐỒ 1 HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU (Trang 18)
SƠ ĐỒ 3 : HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG - Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long.pdf
SƠ ĐỒ 3 HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG (Trang 23)
SƠ ĐỒ 4:             HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN PHẨM ĐƯỢC THỂ HIỆN QUA - Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long.pdf
SƠ ĐỒ 4 HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN PHẨM ĐƯỢC THỂ HIỆN QUA (Trang 24)
SƠ ĐỒ 6 :      SƠ ĐỒ TRÌNH TỰ HẠCH TOÁN CHI PHÍ  SẢN XUẤT THEO - Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long.pdf
SƠ ĐỒ 6 SƠ ĐỒ TRÌNH TỰ HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT THEO (Trang 35)
SƠ ĐỒ 8: - Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long.pdf
SƠ ĐỒ 8 (Trang 40)
Sơ đồ sau: (Sơ đồ 9) - Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long.pdf
Sơ đồ sau (Sơ đồ 9) (Trang 43)
SƠ ĐỒ 11:          Tổ chức bộ máy kế toán ở Công ty xây dựng số  8 Thăng Long. - Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long.pdf
SƠ ĐỒ 11 Tổ chức bộ máy kế toán ở Công ty xây dựng số 8 Thăng Long (Trang 45)
SƠ ĐỒ 12:                  Sơ đồ hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ - Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long.pdf
SƠ ĐỒ 12 Sơ đồ hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ (Trang 47)
Bảng cân đối  phát sinh - Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long.pdf
Bảng c ân đối phát sinh (Trang 48)
Bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương trong tháng theo mẫu sau: - Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long.pdf
Bảng ph ân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương trong tháng theo mẫu sau: (Trang 59)
BẢNG TÍNH KINH PHÍ THEO KHỐI LƯỢNG KIỂM KÊ DỞ DANG - Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng số 8 Thăng Long.pdf
BẢNG TÍNH KINH PHÍ THEO KHỐI LƯỢNG KIỂM KÊ DỞ DANG (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w