1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

các bài hán văn trong chương trình ngữ văn ở trường phổ thông

34 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 182,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm Thiên Bảo nguyên niên, ông được triệu vào cung làm Hàn Lâm cungphụng, được đối đãi rất tử tế.Nhưng Hàn Lâm chỉ là cái tên chứ không có thựcquyền.Đối với ông, đây như một chiếc lồng c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NGỮ VĂN



CÁC BÀI HÁN VĂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN

Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Giáo viên hướng dẫn: THẦY HUỲNH VĂN MINH

NĂM HỌC 2015 – 2016

Trang 2

MỤC LỤC

1 TĨNH DẠ TƯ 5

1.1 Giới thiệu chung 5

1.1.1 Tác giả 5

1.1.2 Tác phẩm 6

1.1.3 Văn bản 6

1.2 Bản phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ trong Sách giáo khoa 6

1.2.1 Phiên âm 6

1.2.2 Dịch nghĩa 7

1.2.3 Dịch thơ 7

1.3 Lí giải văn bản 7

1.3.1 Xác định ngữ trong câu thơ (dòng) 7

1.3.2 So sánh với bản dịch trong Sách giáo khoa 12

2 NGUYÊN TIÊU 15

2.1 Giới thiệu chung 15

2.1.1 Tác giả 15

2.1.2 Tác phẩm 16

2.1.3 Văn bản 16

2.2 Bản phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ trong Sách giáo khoa 17

2.2.1 Phiên âm 17

2.2.2 Dịch nghĩa 17

2.2.3 Dịch thơ 17

2.3 Lí giải văn bản 17

2.3.1 Xác định ngữ trong câu thơ (dòng) 17

2.3.2 So sánh với bản dịch trong Sách giáo khoa 22

Trang 3

3 HOÀNG HẠC LÂU TỐNG MẠNH HẠO NHIÊN CHI QUẢNG LĂNG 26

3.1 Giới thiệu chung 26

3.1.1 Tác giả 26

3.1.2 Tác phẩm 27

3.1.3 Văn bản 27

3.2 Bản phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ trong Sách giáo khoa 28

3.2.1 Phiên âm 28

3.2.2 Dịch nghĩa 28

3.2.3 Dịch thơ 28

3.3 Lí giải văn bản 28

3.3.1 Xác định ngữ trong câu thơ (dòng) 28

3.3.2 So sánh với bản dịch trong Sách giáo khoa 33

Trang 4

Lý Bạch là người có tài uống rượu làm thơ bẩm sinh.15 tuổi ông đã có bàiphú ngạo Tư Mã Tương Như, bài thơ gửi Hàn Kinh Châu, khá nổi tiếng Lúc 16tuổi danh tiếng đã nổi khắp Tứ Xuyên, thì ông lại phát chán, bèn lên núi Đái ThiênSơn học đạo, bắt đầu cuộc đời ẩn sĩ.

Hai năm sau, Lý Bạch hạ sơn và bắt đầu con đường viễn du cảu mình Ông đinhiều nơi, kết giao với nhiều nhân vật nổi tiếng, danh tiếng ngày càng được lanrộng

Năm Thiên Bảo nguyên niên, ông được triệu vào cung làm Hàn Lâm cungphụng, được đối đãi rất tử tế.Nhưng Hàn Lâm chỉ là cái tên chứ không có thựcquyền.Đối với ông, đây như một chiếc lồng chim cảnh, một người có chí phò táthiên hạ như ông ở đây tất không thể thực hiện được hoài bão của mình.Ở cung vuađược 2 năm, ông được “thưởng vàng rồi cho về”

Sau khi rời Trường An, Lý Bạch sống cuộc đời trôi nổi, lang bạc trong mộtthời gian dài Năm 61 tuổi, Lý Quang Bật làm đông trấn ở Lâm Hoài, Lý Bạchnghe tin bèn ra mắt xin đi đánh giặc hy vọng những năm tuổi sẽ sẽ trả thù được chođất nước, nhưng bệnh nên pahir về Năm sau ông mất ở nhà Lý Dương Băng ởhuyện Đương Đồ

Trang 5

1.1.2 Tác phẩm

Tĩnh dạ tư là một trong số rất nhiều tác phẩm của Lý Bạch có hình ảnhánh trăng Chủ đề bài thơ rất quen thuộc “Vọng nguyệt hoài hương” ( Trôngtrăng nhớ quê), cách thể hiện mộc mạc, độc đáo Thuở nhỏ ông thường lênnúi Nga Mi ngắm trăng, từ năm 25 tuổi ông đã xa quê và không bao giờ trởlại, cho nên cứ mỗi lần thấy trăng là ông lại nhớ quê nhà

Bài thơ được viết theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt, vẻn vẹn có 20 chữ nhưng

đã tạo nên một bức tranh thủy mặc về cảnh mộng đêm trăng gợi lên vẻ đẹptâm hồn của thi nhân với bút pháp lãng mạn thần tình

Trang 6

Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương.

Cử đầu vọng minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương

1.2.2 Dịch nghĩa

Ánh trăng sáng đầu giườngNgỡ là sương trên mặt đấtNgẩng đầu ngắm vầng trăng sangCúi đầu nhớ quê cũ

1.2.3 Dịch thơ

Đầu giường ánh trăng rọi,Ngỡ mặt đất phủ sương

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,Cúi đầu nhớ cố hương

 夜 Dạ: ban đêm/ đi đêm

 思Tư/ Tứ : nghĩ ngợi/ nghĩ đến / mến nhớ / thương/ tiếng dứt câu

Tứ : ý tứ/ cảm nghĩ

Chọn phiên âm là Tứ bởi vì:

o + Cấu trúc nhan đề thường là một ngữ danh từ

+ Nói lên được cảm nghĩ, sự suy tư của nhân vật trữ tình

Trang 7

 Kết cấu nhan đề là 1 ngữ danh từ:

Danh từ trung tâm là Tứ, một bổ ngữ danh từ là “ tĩnh dạ”

Trong ngữ danh từ tĩnh dạ, tĩnh làm bổ ngữ cho danh từ dạ.

TĨNH DẠ TỨ: Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh

 C âu 1:

床前明月光

 床 Sàng: cái giường/ cái giá gác đồ/ cái sàn bắt trên giếng

 前 Tiền: trước/ cái trước/ sớm trước/ tiến lên -> Phía trước

 明 Minh:sáng/ sáng suốt, trong sạch/phát minh to rõ/ mắt sáng/ mới

sáng/ thần minh/ nhà Minh

 月 Nguyệt: mặt trăng/ tháng

 光 Quang: ánh sáng/ rõ ràng/ trơn bóng/ vẻ vang/ hết sạch Chọn nghĩa là

rõ ràng bởi lẽ minh nguyệt đã diễn tả ánh trăng, thì quang để đặc tả sáng rõràng, đang chiếu sáng

Câu 1 có kết cấu là một cụm chủvị :

Trang 8

Nghi thị là trạng ngữ bổ cho cụm chủ vị phía sau

Trong cụm chủ vị : Minh nguyệt quang, minh nguyệt là chủ ngữ, quang là

vị ngữ

Sàng tiền minh nguyệt quang:Trước giường ánh trăng đang chiếu sáng

 C âu 2:

疑是地上霜

 疑 Nghi: ngờ (ngờ vực)/ giống như/ lạ, lấy làm lạ/ sợ

 是 Thị: ấy là/ phải/ cái ấy/ như thế

 地 Địa: đất ( chứa đựng muôn vật cõi đời)/ địa vị/chất, nền/khu

đất/chỗ nào ý chí của mình( tâm địa)/ những/ dùng làm tiếng giúp lời

 上 Thượng/ Thướng: trên ( ở trên)/ ngày xưa gọi vua là Chủ thượng/

thướng: lên/ dâng lên

 霜 Sương: hơi sương/ hàng năm,năm/ thuốc nghiện

Câu 2 là một ngữ động từ:

Trang 9

Nghi thị là động từ trung tâm

Trong cụm địa thượng sương: địa làm bổngữ cho thượng

Địa thượng làm bổ ngữ cho danh từsương

Cụm địa thượng sương bổ cho động từ nghi thị

Nghi thị địa thượng sương: Cứ ngỡ là phủ sương trên mặt đất

 C âu 3:

舉頭望明月

 舉 Cử: cất lên/ nổi dậy/ đẩy lên/ đưa lên/ tiến/ dẫn/ biên chép/ khen

ngợi/ bay cao/ thi đỗ/ sinh đẻ-> Ngẩng đầu

 頭 Đầu: phần trên của thân mình/ phần ở trên hết/ bậc cao nhất/

đứng trước hết/ mỗi một con súc vật gọi là đầu

 望 Vọng: trông xa/ được người ta ngửa trông/ trông mong/ ngày rằm

tháng âm lịch

 明 Minh:sáng/ sáng suốt, trong sạch/phát minh to rõ/ mắt sáng/ mới

sáng/ thần minh/ nhà Minh

 月 Nguyệt: mặt trăng/ tháng

Trang 10

 Câu 3 có hình thức cú pháp là ngữ động từ, trong đó “cử” là động từ trungtâm, “đầu” và “vọng minh nguyệt” là hai bổ ngữ: “vọng minh nguyệt” có

“vọng” là động từ trung tâm, “minh nguyệt” là bổ ngữ; “minh nguyệt” cónguyệt là danh từ trung tâm, “minh” là định ngữ

Cử đầu vọng minh nguyệt:Ngẩng đầu thì (ta) ngắm vầng trăng như thế

 C âu 4:

低頭思故鄉

 低 Đê: thấp/ cúi (xuống)/ khẽ

o Chọn nghĩa là cuối thấp sẽ phù hợp vì thấp sẽ không rõ nghĩa hành

động cúi đầu xuống

 頭 Đầu: phần trên của thân mình/ phần ở trên hết/ bậc cao nhất/

đứng trước hết/ mỗi một con súc vật gọi là đầu

 思 Tư/ Tứ : nghĩ ngợi/ nghĩ đến/mến nhớ/thương/tiếng dứt câu Tứ : ý tứ

 故 Cố: việc-cớ/ nguyên nhân/ cũ/ chết/ gốc ( quê hương)/ cố tình/ cho

nên ( nối cho câu trên)

 Vì Cố hương: là quê hương cũ, nên mình được sinh ra nên nghĩa gốc quêhương sẽ phù hợp

 鄉 Hương: làng/ một khu vực/ nhà quê/ hướng ( phương hướng)

Trang 11

Câu 4 có hình thức cú pháp là ngữ động từ, trong đó “đê” là động từ trungtâm, “tư cố hương” và “đầu” là hai bổ ngữ: “tư cố hương” có “tư” là động từ trungtâm, “cố hương” là bổ ngữ, “cố hương” có hương là danh từ trung tâm, “cố” làđịnh ngữ

Đê đầu tư cố hương: Cúi đầu thì (ta) cũng nhớ quê hương như thế

 *Nỗi nhớ quê hương da diết hiện lên qua mỗi hành vi, cử chỉ, suy nghĩ đềuhướng về, nhìn gì thấy gì cũng trăn trở về nó

1.3.2 So sánh với bản dịch trong Sách giáo khoa

Bản dịch sách giáo khoa Bản dịch của nhóm

Tiêu đề: Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh

So với bản dịch trong sách giáo khoa bản dịch của nhóm có một sốkhácbiệt.Trước hết, là ở nhan đề bài thơ Sách giáo khoa phiên âm là “ tĩnh dạ tứ” vàdịch là “ cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” Nhưng trong phần dịch của nhóm, nhómdịch là “tĩnh dạ tư” bởi nếu dịch là “tứ” thì nghĩa của từ chỉ có một, đó là ý tứ, và

từ ý tứ mà dịch ra là cảm nghĩ thì thiết nghĩ không được hợp lí Nhưng nếu dịch là

“tư” thì vừa phù hợp với âm “tư cố hương” ở cuối bài, lại vừa toát lên được tâm tư,tình cảm của tác giả trong đêm thanh tĩnh ấy

Thứ hai, trong câu thơ đầu tiên, nhóm dịch là “trước giường” mà khôngdịch thì “đầu giường” như sách giáo khoa bởi hai lí do Thứ nhất là sát với nghĩa

Trang 12

từHán- Việt, “tiền” – “phía trước”, thứ hai, nếu dịch là đầu giường thì hầu như ánhtrăng chỉ chiếu vào một điểm cố định và không được rộng ra, ta không thấy đượctâm thế để chuẩn bị sang câu thơ thứ hai, bởi điểm nhìn ở câu thứ 2 có tầm nhìnrộng hơn nhiều Vì vậy, thiết nghĩ dịch là “trước giường” sẽ hợp lí hơn.

Thứ ba, ở câu cuối cùng, nhóm dịch từ “cố” với ý nghĩa là gốc, cái mình cótrước đây, chứ không dịch với nghĩa là cũ, bởi vì như thế cái nơi được nhớ đến sẽ

rõ ràng cụ thể hơn là một quê cũ chung chung

Nhận xét

Lý Bạch là nhà thơ nổi tiếng của Trung Hoa với những vần thơ lãng mạn, trữtình bay bổng khiến người đọc như chìm đắm trong một không gian vừa thanh tịnhvừa gần gũi nhất Và trăng là biểu tượng chủ đạo trong thơ ông với vẻ đẹp viênmãn, nhưng vương nhiều nỗi niềm, bởi nó gắn bó với những năm tháng ấu thơ củaông Bài thơ “Tĩnh dạ tứ” được sáng tác trong hoàn cảnh tha hương, bắt gặp mộtđêm trăng đẹp khiến nỗi nhớ quê trong ông lại bùng cháy lên mãnh liệt Bài thơchính là tiếng lòng nhẹ nhàng, sâu lắng và đầy âu lo

“Sàng tiền minh nguyệt quang

Nghi thị địa thượng sương”

Chữ "sàng tiền" trong câu đầu tiên của bài thơ được nhiều dịch giả dịch là đầugiường Đầu giường chữ Hán là "sàng đầu".Thay "tiền" bằng "đầu" không phạmluật thơ nào cả, nên thiết tưởng nếu Lý Bạch muốn nói "đầu giường trăng sáng soi"thì hẳn ông đã viết "sàng đầu minh nguyệt quang" "Sàng tiền" nghĩa là trướcgiường Ánh trăng rọi qua cửa thành một vùng trăng trắng trước giường, nhà thơ có

lẽ vừa tỉnh dậy, còn mơ màng, nên ngỡ là sương

Hiện tượng trăng rọi vào đầu giường xuyên qua khung cửa sổ là cảnh tác giả

có thể thấy.Có lẽ đêm trăng đó quá đẹp, quá ấn tượng trong một đêm thanh tịnhnhư vậy khiến cho tác giả bồn chồn, trằn trọc không thể chợp mắt được Ánh trănglen lỏi vào đầu giường khiến tác giả có một phép so sánh đầy tinh tế “Ngỡ măt đất

Trang 13

phủ sương” Ánh trăng chiếu rọi xuống mặt đất vào buổi tối khiến tác giả có cảmgiác như măt đất đang bị bao phủ bởi một lớp sương trắng

Ngỡ thoáng thôi, rồi biết là ánh trăng, rồi ông ngồi dậy ngẩng đầu nhìn trăng,rồi cúi đầu nhìn vào lòng mình !

“Cử đầu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hượng”

Hai tư thế: “ngẩng đầu” và “cúi đầu” chính là hai tâm trạng: “nhìn” và “nhớ”.Hai đối tượng làm xúc động và trĩu lòng kẻ xa quê đó là ‘trăng sáng’ và ‘cốhương’ Hai hình ảnh “trăng sáng” và “cố hương” sóng đôi với nhau biểu hiện mộttâm hồn giàu tình yêu thiên nhiên, một tấm lòng yêu quê hương thiết tha sâu nặng

“Cố hương” là quê cũ thân yêu Vậy nên “nhớ cố hương” là nhớ tới gia đình, nhớtới người thân thương ruột thịt, nhớ tới thời thơ ấu với bao mộng tưởng và kỉ niệmđẹp, nhớ lại những thăng trầm một đời người

Lí Bạch quê ở Ba Thục, thuở nho thường leo len núi Nga - Mi để ngắm trăng

và múa kiếm Lớn lên, ông mang theo bầu rượu, túi thơ và thanh kiếm hiệp khách

đi chu du mọi phía chân trời góc bể, chan hòa với gió trăng và tình bằng hữu Vìthế, ánh trăng trong đêm ấy có thể là ánh trăng gợi nhớ, gợi sầu, vấn vương mộthoài niệm, làm sống dậy bao bâng khuâng của một hồn thơ và một tình quê manmác

Ánh trăng’và ‘cố hương’ gắn bó với nhau trong mạch cảm hứng trữ tình, hòaquyện thành một liên tưởng thấm thía, cảm động, nâng cánh cho hồn thơ baylên.Trăng lênh láng tràn ngập.Cảm xúc thơ dâng lên dào dạt Lí Bạch rất tinh tế đãlấy ngoại cảnh ‘ánh trăng’ miền đất lạ để biểu hiện tâm tình: nổi buồn nhớ cốhương

Trang 14

Tuy chỉ vẻn vẹn hai mươi con chữ giản dị ấy vậy mà âm vang của “Tĩnh dạtư” vẫn cứ lan mãi từ thế hệ này đến thế hệ khác và xứng đáng là một trong nhữngthi phẩm đời Đường được ngàn đời xưng tụng Ai đã từng trải qua nhiều năm tháng

li hương, ai đã từng mang một tâm hồn yêu trăng, chắc sẽ bồi hồi xúc động khi đọcbài thơ này của Thi tiên Lí Bạch

2 NGUYÊN TIÊU

2.1 Giới thiệu chung

2.1.1 Tác giả

Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 và mất ngày 2 tháng 9 năm

1969, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung; quê làng Kim Liên (làng Sen), xã KimLiên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Thưở sinh thời , Người xuất thân trong mộtgia đình nhà nho yêu nước, cha là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc Trước khi thamgia hoạt động cách mạng Người học chữ Hán, sau đó học tại trường Quốc học Huế,

có thời gian dạy học tại trường Dục Thanh (Phan Thiết) Ngày 5 tháng 6 năm 1911,Người ra đi tìm đường cứu nước.Năm 1919 gửi bản yêu sách của nhân dân AnNam tới hội nghị Hòa Bình ở Véc- xây ký tên là Nguyễn Ái Quốc Năm 1920 dựĐại hội Tua và là một trong những thành viên sáng lập ra Đảng cộng sản Pháp.Từnăm 1923 – 1941: chủ yếu hoạt động ở Trung Quốc, Liên Xô, Thái Lan Năm 1941trở về nước lãnh đạo phong trào cách mạng Sau CMT8 1945 thành công, Ngườiđược bầu làm chủ tịch nước và dẫn dắt phong trào cách mạng đi đến những thắnglợi vẻ vang.Cả cuộc đời của Người cống hiến hết cho sự nghiệp cách mạng dântộc, trở thành nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam nói riêng, của quốc tếcộng sản nói chung Bên cạnh sự nghiệp cách mạng, Người còn để lại một số disản văn học quý giá, xứng đáng là một nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Tác phẩm

Trang 15

tiêu biểu: Tuyên ngôn độc lập; Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu; Nhật

ký trong tù

2.1.2 Tác phẩm

Thất ngôn tứ tuyệtlà thể thơ mỗi bài có 4 câu và mỗi câu 7 chữ, trong đó

các câu 1,2,4 hoặc chỉ các câu 2,4 hiệp vần với nhau ở chữ cuối, tức là chỉ có 28chữ trong một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, là phân nửa củathất ngôn bát cú Được rađời vào thời kỳ nhà Đường, có nguồn gốc từ Trung Quốc

Nguyên tiêu là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, mang phong vị Đường thi Bài thơ

có nét thơ cổ thể: con thuyền, trăng, sóng, xuân, nước xuân, trời xuân, khói sóng điệu thơ thanh nhẹ Trong khung cảnh ấy chất chiến sĩ là trung tâm.Bài thơ nhưmột đoá hoa xuân, tinh hoa kết tụ tâm hồn trí tuệ, đạo đức Hồ Chí Minh.Nguyêntiêu được viết trong thời gian kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Việt Bắc Sauchiến thắng Việt Bắc, Thu Đông 1947 sang Xuân Hè 1948 quân ta lại thắng lớntrên đường số 4 Niềm vui thắng lợi tràn ngập tiền tuyến, hậu phương.Trong khôngkhí sôi động và phấn chấn ấy bài thơ Nguyền tiêu của Bác Hồ xuất hiện trên báoCứu quốc như một đoá hoa xuân ngọt ngào rực rỡ sắc hương

Trang 16

2.2 Bản phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ trong Sách giáo khoa

2.2.1 Phiên âm

Nguyên tiêu

Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên

Yên ba thâm xứ đàm quân sự,

Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền2.2.2 Dịch nghĩa

Đêm nay, đêm rằm tháng giêng, trăng đúng lúc tròn nhất,Sông xuân, nước xuân, tiếp giáp với trời xuân;

Nơi sâu thẳm mịt mù khói sóng bàn việc quân,Nửa đêm quay về trăng đầy thuyền

 今 : Kim: nay, hiện nay

 夜 : Dạ: ban đêm / đi đêm

Trang 17

Trong cụm Kim dạ thì dạ là danh từ chính, kim làm định ngữ cho dạ.

Kim dạ nguyên tiêu có kim dạ và nguyên tiêu là hai ngữ danh từ đẳng lập.

Trong cụm chính viên thì chính bổ ngữ cho tính từ viên

Kim dạ Nguyên Tiêu nguyệt chính viên: Đêm nay, nguyên tiêu,

trăng đúng lúc tròn

C âu 2:

春江春水接春天

 春 : Xuân: mùa xuân / tuổi trẻ / rượu xuân

 江 : Giang: sông Giang / sông lớn, sông cái

 水 : Thủy: nước / sông, ngòi, khe, suối / bạc đúc

 接 : Tiếp: liền / hội họp / nối tiếp / tiếp đãi / thấy / gần / nhận được / tróitay / chóng vội

Trang 18

 天 : Thiên: bầu trời / tự nhiên / chỗở thần linh / ngày / tiết trời / thứ cầnthiết / ông trời / một loại hình phạt ngày xưa

Trong cụm Xuân giang, xuân bổ ngữ cho danh từ chính là giang.

Tương tự, xuân bổ ngữ cho thủy trong xuân thủy, xuân bổ ngữ cho thiên trong xuân thiên.

Xuân giang và xuân thủy là hai cụm đẳng lập.

Trong cụm từtiếp xuân thiên,xuân thiên là cụm phụ bổ ngữ cho động từ chính là tiếp.

=>Xuân giang xuân thủy là chủ ngữ, tiếp xuân thiên là vị ngữ của câu.

Sông xuân cùng với làn nước hòa vào với trời xuân

C âu 3 :

煙波深處談軍事

 煙 : Yên: khói / mây mờ / mù mịt / thuốc hút, thuốc lào, thuốc phiện / nhọnồi, than muội

 波 : Ba: song nhỏ / những thứ còn dư / dần đến / tia sáng của con mắt

 深 : Thâm: bề sâu / cách xa / sâu kín / lâu dài / tiến thủ / bắt bẻ nghiêmngặt / tệ lắm

 處 : +Xử:ở / phân biệt phải trái / xử án / vị trí / về thường

o +Xứ: nơi, chỗ / nơi nào đó

Ngày đăng: 28/08/2017, 19:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình   ảnh   xa   dần   của   cánh   buồm   đơn độc   mất   hút   vào   khoảng   không   xanh thẳm - các bài hán văn trong chương trình ngữ văn ở trường phổ thông
nh ảnh xa dần của cánh buồm đơn độc mất hút vào khoảng không xanh thẳm (Trang 28)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w