1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái loài sa mộc dầu (cunninghamia konishii hayata) tại vườn quốc gia pù mát, tỉnh nghệ an

81 274 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lacher 1978 đã chỉ rõ những vấn đề cần nghiên cứu trong sinh thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, độ nhiệt, độ ẩm, nhịp điệu khí hậu và những n

Trang 1

NGUYỄN PHI HÙNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SINH THÁI LOÀI SA

MỘC DẦU (Cunninghamia konishii Hayata) TẠI VƯỜN QUỐC GIA

PÙ MÁT, TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Lâm học

Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Thế Đồi

Hà Nội, 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Lâm nghiệp theo chương trình đào tạo cao học Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học, khoá 18 (2010 - 2012) Trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được

sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Đào tạo Sau đại học, Khoa Lâm học

và các thầy giáo, cô giáo thuộc Trường Đại học Lâm nghiệp Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó

Trước tiên, tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới TS Bùi Thế Đồi - với tư cách

là những người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tác giả cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo và các cán bộ nhân viên thuộc Vườn Quốc Pù Mát, tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập số liệu ngoại nghiệp

Tác giả xin chân thành cảm ơn Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh - là nơi tác giả đang công tác đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin cam đoan các số liệu thu thập, kết quả xử lý, tính toán là trung thực và được trích dẫn rõ ràng

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, 2012

Tác giả

Nguyễn Phi Hùng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các từ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình viii

Đặt vấn đề 1

Chương 1.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Trên thế giới 3

1.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài cây 3

1.1.2 Nghiên cứu về cây Sa mộc dầu 5

1.2 Ở Việt Nam 7

1.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài cây 7

1.1.2 Nghiên cứu về cây Sa mộc dầu 9

1.3 Nhận xét, đánh giá chung 13

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 15

2.2 Đối tượng, giới hạn nghiên cứu 15

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 15

2.2.2 Giới hạn nghiên cứu 15

2.3 Nội dung nghiên cứu 16

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Sa mộc dầu 16

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố loài Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An 16

Trang 4

2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Sa mộc dầu tại

VQG Pù mát, tỉnh Nghệ An 16

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An 16

2.4 Phương pháp nghiên cứu 16

2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài 16

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 17

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 22

2.5.1 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng 22

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh loài 24

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 26

3.1 Điều kiện tự nhiên 26

3.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính: 26

3.1.2 Địa hình, địa mạo 26

3.1.3 Đất đai 27

3.1.4 Khí hậu, thủy văn 28

3.1.5 Thảm thực vật rừng 29

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37

3.2.1 Dân tộc 37

3.2.2 Dân số và lao động 37

3.3 Nhận xét, đánh giá thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tới bảo tồn loài Sa mộc dầu 38

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40

4.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Sa mộc dầu 40

4.1.1 Đặc điểm hình thái thân, cành, lá, tán lá, hoa, quả, hạt 40

Trang 5

4.1.2 Đặc điểm vật hậu 43

4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố loài Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An 44

4.2.1 Đặc điểm hoàn cảnh rừng (khí hậu, đất đai, đai cao) nơi có loài Sa mộc dầu phân bố tự nhiên 44

4.2.2 Đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi có Sa mộc dầu phân bố tự nhiên 48

4.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Sa mộc dầu tại VQG Pù mát, tỉnh Nghệ An 54

4.3.1 Đặc điểm cấu trúc mật độ tầng cây tái sinh 54

4.3.2 Đặc điểm cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh 54

4.3.3 Đặc điểm chất lượng, nguồn gốc tầng cây tái sinh 57

4.3.4 Phân cấp cây tái sinh theo cấp chiều cao và tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng tại khu vực nghiên cứu 58

4.3.5 Đặc điểm tái sinh của loài Sa mộc dầu tại khu vực nghiên cứu 60

4.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An 61

4.4.2 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển loài Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An 63

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

L.sd Khoảng sai dị đảm bảo

TBVG Trung bình vườn giống

h2 Hệ số di truyền

CVa Hệ số biến động di truyền lũy tích

σ2 Phương sai di truyền lũy tích

Trang 7

4.1 Mô tả đặc điểm hình thái thân, cành, lá, tán lá, hoa, quả, hạt

4.2 Số liệu khí hậu ba trạm Khí tượng thuỷ văn VQG Pù Mát năm

4.4 Đặc điểm phân bố của loài Sa mộc dầu phân theo đai cao tại

4.5 Cấu trúc mật độ Sa mộc dầu phân bố theo đai cao tại VQG Pù

4.6 Công thức tổ thành tầng cây cao rừng tự nhiên nơi có Sa mộc

dầu phân bố theo đai cao tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An 50

4.7 Cấu trúc tầng thứ tầng cây cao rừng tự nhiên nơi có Sa mộc dầu

4.8 Mức độ thân thuộc của loài Sa mộc dầu với một số loài quan

4.9 Cấu trúc mật độ tầng cây tái sinh rừng tự nhiên nơi có Sa mộc

4.10 Cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh nơi có Sa mộc dầu phân bố

4.11 Cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh nơi có Sa mộc dầu phân bố 55

Trang 8

ở VQG Pù Mát, độ cao 1.100 - 1.300m

4.12 Cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh nơi có Sa mộc dầu phân bố

4.13 Công thức tổ thành tầng cây tái sinh nơi có Sa mộc dầu phân

4.14 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh nơi có Sa mộc dầu phân

4.15 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao khu vực có Sa mộc

4.16 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong bảo

tồn loài Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An 61

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ

4.11 Bản đồ phân bố loài Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát 49

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) là một trong hai loài thuộc chi

Sa mộc hay Sa mu (Cunninghamia) họ Bụt Mọc (Taxodiaceae) có phân bố ở khu

vực Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam [1], [9] Là loài cây được xếp loại đang bị tuyệt chủng A1c trên thế giới và rất hiếm ở Việt Nam

Sa mộc dầu là cây gỗ lớn có tán hình tháp, cao tới 50 m và đường kính ngang ngực tới 2,5m Cây mọc rải rác thành các đám nhỏ trong rừng nguyên sinh rậm thường xanh hỗn giao nhiệt đới gió mùa núi thấp hoặc trung bình Gỗ có đặc điểm chịu được mối mọt, dễ gia công chế biến nên thường được sử dụng rộng rãi để làm nhà, làm đồ gia dụng,… Do vậy, Sa mộc dầu đã và đang bị khai thác mạnh và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng nếu không có biện pháp bảo tồn, phát triển

Nghệ An là một trong ba tỉnh hiện nay còn có loài Sa mộc dầu phân bố tự nhiên (Hà Giang, Thanh Hóa và Nghệ An) Tại Nghệ An, loài cây này xuất hiện trong các huyện nằm trên địa phận VQG Pù Mát

VQG Pù Mát khu rừng đặc dụng ở phía tây tỉnh Nghệ An, được thành lập theo Quyết định số 174/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08/11/2001

về việc chuyển hạng Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát thành vườn quốc gia Pù Mát được nằm từ 18°46′ đến 19°12′ vĩ Bắc và từ 104°24′ đến 104°56′ kinh độ Đông Vườn quốc gia Pù Mát trải rộng trên 3 huyện Tương Dương, Con Cuông và Anh Sơn của tỉnh Nghệ An, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 89.517 ha, phân khu phục hồi sinh thái: 1.596 ha Cho đến nay đã có 1.143 loài thực vật có mạch được ghi nhận phân bố ở VQG Pù Mát, trong đó có nhiều loài cây gỗ quý hiếm có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn nguồn gen cao như Sa mộc dầu đang trở thành đối tượng bị săn lùng, khai thác trái phép ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng bảo tồn đa dạng sinh học của loài

Ở Việt Nam, mặc dù Sa mộc dầu là loài cây gỗ quý hiếm được đưa vào sách

đỏ Việt Nam và xếp hạng là loài có nguy cơ tuyệt chủng cao nhưng những công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái cũng như kỹ thuật gây trồng loài cây này còn rất ít được thực hiện, thông tin tản mạn nên việc xây dựng kế hoạch bảo

Trang 11

tồn và phát triển loài Sa mộc dầu gặp nhiều khó khăn Do đó, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài hiện nay là hết sức cần thiết và cấp bách phục vụ cho việc gây trồng và bảo tồn loài cây này

Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn trên, việc thực hiện đề tài: "Nghiên

cứu đặc điểm sinh học và sinh thái loài Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii

Hayata) tại vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An" là hết sức cần thiết và có ý

nghĩa

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài cây

Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó

Odum E.P (1971) [25] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái, trên cơ sở

thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P (1935) Ông đã phân chia ra

sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng

cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý

W Lacher (1978) đã chỉ rõ những vấn đề cần nghiên cứu trong sinh thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, độ nhiệt, độ

ẩm, nhịp điệu khí hậu và những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên như mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố (Dẫn theo Nguyễn Thị Hương Giang, 2009) [12] Van Steenis (1956) [27] đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt

Sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống do Lowdermilk (1927) đề nghị để điều tra tái sinh, với diện tích ô đo đếm từ 1 đến 4 m2 Richards P.W (1952) [26] đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở

rừng nhiệt đới Để giảm sai số, Barnard (1955) đã đề nghị phương pháp "Điều tra

chẩn đoán" theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát

triển của cây tái sinh

Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài của những mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống

Trang 13

Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần

xã, từ đó có cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp

Baur G.N (1962) [2] đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đi sâu nghiên cứu các nhân tố về cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Catinot (1965) [5], Plaudy J [19] đã nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẫu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến, Sampion Gripfit (1948) [11] khi nghiên cứu rừng tự nhiên ở Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới ở Tây Phi, đã kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp Richards P.W (1952) [26] phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng, tương ứng với chiều cao là 6- 12 m, 12- 18 m, 18- 24 m, 24- 30 m, 30- 36 m, 36- 42 m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao Odum E P (1971) [25] nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600 m ở Puecto Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả Richards P.W (1968) [20] đã xác định, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thường có

nhiều tầng Ông nhận định: "Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ

nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây"

Từ việc vận dụng các lý luận về sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây Một vài công trình nghiên cứu có thể kể tới như:

Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình thái của

loài Vối thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm hình

thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009) [7]

Theo các tài liệu gần đây của Trung Quốc, cây Lim xanh xuất hiện ở vùng Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây), Đông nam Quế Lâm Cây này được mô

tả là cây ưa sáng, đường kính từ 50 - 60cm, chiều cao 35 - 38m, sống lâu năm (111 -

Trang 14

161năm) và ít bị sâu bệnh Cây con mọc quần tụ, chịu bóng, tốc độ sinh trưởng trung bình, có thể trồng thuần loài hoặc hỗn loài, nếu mọc đơn lẻ sinh trưởng rất chậm Đây là một trong những loài quý hiếm có giá trị kinh tế rất cao Lim xanh phân bố ở độ cao dưới 600m (Quảng Tây), 400m (Quảng Đông) trong những vùng

có nhiệt độ từ 20 - 220C, nhiệt độ tối thấp là -30C, lượng mưa 1.250 - 1.750mm, trên đất đỏ hoặc đất cát pha Lim xanh thích hợp với đất có độ pH từ 4,5 - 6, đất có độ phì cao, tầng đất dày, nhiều mùn Lim xanh thường hỗn giao với các loài Xoan, Long não (dẫn theo Đỗ Thị Quế Lâm, 2003) [15]

Tian Xiao Rui [28] trong công trình nghiên cứu về khả năng chịu lửa của

một số loài cây trồng rừng đã rút ra kết luận, các loài Vối thuốc (S wallichii),

Castanopsis hystrix và Myrica rubra có sức chống lửa tốt nhất trong tổng số 12 loài

cây nghiên cứu

Khamleck (2004) khi nghiên cứu về loài Dẻ anh đã mô tả Dẻ anh là cây gỗ lớn, cao 20 - 25m, đường kính 40 - 60cm, lá hình thon, dài 12 - 14 cm, rộng 4 - 4,7

cm, mép lá nguyên, gân phụ 12-14 đôi, mặt trên không có lông, mặt dưới có lông ngắn dày, cuống dài 1cm, gié quả dài 12-15cm, có vảy thưa bao kín hạch (dẫn theo Trần Hợp, 2002) [14]

1.1.2 Nghiên cứu về cây Sa mộc dầu

* Tên gọi, phân loại:

Sa mộc dầu có tên khoa học là Cunninghamia konishii Hayata, là cây gỗ lớn

thuộc chi Sa mộc hay Sa mu (Cunninghamia) họ Hoàng đàn (Cupressaceae) Tên

khoa học của chi này được đặt theo tên của Dr James Cunningham, một bác sĩ người Anh đã đưa các loài này vào gieo trồng năm 1702 [29] Sa mộc dầu còn có

tên gọi khác là Cunninghamia lanceolata var konishii (Hayata) Fujita [32] Tuy

nhiên, tên khoa học Cunninghamia konishii Hayata được các nhà khoa học về phân

loại thực vật trên thế giới sử dụng phổ biến hiện nay

Họ Hoàng đàn có phân bố trên phạm vi toàn thế giới, bao gồm 27 - 30 chi với khoảng 130 - 140 loài Đặc điểm chung của họ này đều là thực vật hạt trần, nón đực và nón cái có thể cùng gốc hoặc khác gốc, thường thân gỗ, hiếm khi cây bụi

Trang 15

Vỏ của cây thường màu nâu đỏ, kết cấu sợi, thường bong mảng hoặc lột dạng dải thẳng đứng Các lá được sắp xếp hoặc xoắn ốc, xếp cặp hình chữ thập tùy thuộc từng chi của họ Hầu hết các loài đều là cây thường xanh với tuổi thọ lá trên cây từ

2 - 10 năm ngoại trừ 3 chi (Glyptostrobus, Metasequoia, Taxodium) rụng lá hoặc có các loài rụng lá theo mùa Họ Hoàng đàn có phân bố rất rộng từ 71 độ Bắc (Na Uy) tới 55 độ Nam (phía Nam Chile), nhiều loài có khả năng chịu nóng và chịu hạn rất tốt và có thể phân bố cả ở sa mạc Sahara Tuy nhiên, cũng có những chi của họ Hoàng đàn có phân bố rất hẹp, hiện đang bị khai thác kiệt quệ và có nguy cơ bị tuyệt chủng [29]

Chi Sa mộc gồm những loài cây thường xanh, nón đực và cái cùng chung trên một thân, ra nụ vào mùa đông và thường có hình trứng Lá xếp xoắn, không cuống, hình mũi mác hoặc hình kim Nón đực chứa nhiều tiểu bào tử, xếp xoắn, không cuống, túi phấn 3, rủ xuống Nón cái hình cầu, hình trứng hoặc hình trụ [30]

* Đặc điểm hình thái:

Sa mộc dầu là cây gỗ lớn, chiều cao có thể đạt tới 50m và đường kính ngang ngực đạt tới 300cm Tán lá hình nón hoặc hình tháp, ngọn có màu xanh đậm Vỏ cây màu xám, nâu sẫm hoặc nâu đỏ, nứt dọc hoặc nứt thành từng mảng nhỏ để lộ ra lớp thịt bên trong màu vàng hoặc đỏ nhạt Nón đực mọc thành cụm có từ 1 - 3 (5) nón với nhau, hình trứng ngược Nón cái hình trứng ngược, mọc cụm có từ 1-4 nón, ban đầu có màu xanh sau chuyển sang màu nâu hơi đỏ khi chín Cây thụ phấn tháng 2-3 và quả chín tháng 8 - 9 Hạt 3, màu nâu xẫm, hình chữ nhật hoặc trứng hẹp [31]

* Đặc điểm sinh thái, phân bố

Sa mộc dầu thường phân bố trong rừng lá rộng thường xanh, mọc hỗn hợp hoặc hình thành các quần thụ nhỏ Tại Đài Loan, Trung Quốc Sa mộc dầu thường

được trồng hỗn giao với các loài Chamaecyparis formosensis và C obtusa Var

formosana ở độ cao 1300 - 2000m (Thực vật Trung Quốc, 1999)

Sa mộc có phân bố tự nhiên ở Trung Quốc, Lào, Campuchia và Việt Nam Ở Trung Quốc loài cây này được gây trồng tương đối rộng rãi ở các tỉnh An Huy, Phúc Kiến, Cam Túc, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Hà Nam, Hồ

Trang 16

Bắc, Hồ Nam, Giang Tô, Giang Tây, Thiểm Tây, Tứ Xuyên, Vân Nam, Chiết Giang Cây có thể phân bố ở trong rừng thường xanh, đồi núi đá ở độ cao 200 - 2800m (Raven Wu và 1999) Cây thường phát triển thành một quần thụ chiếm ưu thế, và cạnh tranh tốt, phù hợp với đất thoát nước tốt, đất cát và đất mùn (FIPI 1996)

* Giá trị sử dụng:

Gỗ Sa mộc dầu có màu vàng nhạt, tỷ trọng gỗ 0,4 - 0,5; gỗ mềm nhưng bền,

dễ gia công chế biến, có khả năng chống mối mọt tốt Gỗ Sa mộc dầu thường được

sử dụng rộng rãi để làm nhà cửa, đóng đồ nội thất, ván sàn, thùng đóng gói và làm quan tài Loài cây này có thể được gâ trồng dọc theo con đường của các tỉnh miền núi, cận nhiệt đới thường xanh, cây lá kim và rừng hỗn giao lá rộng (FIPI 1996) Sa mộc dầu có thể gây trồng bằng hạt hoặc bằng hom ở thung lũng Chang Jiang của Trung Quốc (Wu và Raven 1999) Ở Trung Quốc, Sa mộc dầu còn được trồng làm cây cảnh trong các công viên hoặc các khu vườn lớn, tại đây thông thường nó cao khoảng 15 - 30m [29]

Hiện nay, do bị khai thác quá mức mà không chú ý tới công tác gây trồng nên Sa mộc dầu đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng và được xếp vào nhóm A1c Ở Việt Nam số lượng loài cây này cũng còn rất ít

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái loài cây

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài cây bản địa mới chỉ được thực hiện nhiều trong một số năm gần đây, khi mà nhu cầu trồng rừng, bảo tồn các loài cây bản địa ngày một lớn và trở nên cấp bách, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện cho những loài cây bản địa có giá trị, có thể kể tới như:

Vũ Văn Cần (1997) [6] đã tiến hành nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương, ngoài những kết luận về các đặc điểm phân bố, hình thái, vật hậu, tái

Trang 17

sinh tự nhiên, đặc điểm lâm phần có Chò đãi phân bố, tác giả cũng đã đưa ra những kỹ thuật tạo cây con từ hạt đối với loài cây Chò đãi

Nguyễn Bá Chất (1996) [8] đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa

Nguyễn Thanh Bình (2003) [3] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang Với những kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đã đưa ra nhiều kết luận, ngoài những đặc điểm về hình thái, vật hậu, phân bố, cấu trúc và tái sinh tự nhiên của loài, tác giả còn cho rằng phân bố N-H và N-D đều có một đỉnh; tương quan giữa Hvn và D1,3 có dạng phương trình Logarit

Lê Phương Triều (2003) [23] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một số kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài, ngoài ra tác giả còn kết luận là: có thể dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân bố N-D1.3, N-Hvn, các mối quan hệ H-D1,3, Dt-D1,3

Vương Hữu Nhi (2003) [18] đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật tạo cây con Căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắc Lắc - Tây Nguyên, từ kết quả nghiên cứu với những kết luận về đặc điểm hình thái, phân bố, cấu trúc, tái sinh tự nhiên, tác giả còn đưa ra những kỹ thuật gây trồng đối với loài cây này

Trần Minh Tuấn (1997) [24] đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn Quốc gia Ba Vì - Hà Tây (cũ), ngoài những kết quả về các đặc điểm hình thái, tái sinh tự nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra một số định hướng về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài cây này

Nguyễn Toàn Thắng (2008) [21] đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của

loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis hickel& A.camus) tại Lâm Đồng Tác giả đã có

những kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử dụng, về

Trang 18

tổ thành tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao từ 17 đến 41 loài, với các loài ưu thế là

Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa, Du sam,

Lê Văn Thuấn (2009) đã thực hiện công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh

học của loài Vối thuốc răng cưa (Schima superba Gardn et Champ) tại khu vực Tây

Nguyên Kết quả nghiên cứu đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm hình thái, vật hậu, sinh thái, cấu trúc tầng cây cao, cấu trúc tầng cây tái sinh, đặc điểm tái sinh, của loài cây này tại khu vực Tây Nguyên [22]

Đỗ Thị Quế Lâm (2003) đã thực hiện công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh

lý, sinh thái học của một số loài cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo tai tượng và Keo lá tràm như: Lim xanh, Đinh thối, Re hương Kết quả nghiên cứu cho thấy, loài Lim xanh, sinh trưởng thích hợp nhất ở độ tàn che từ 0,47 - 0,52 tương ứng với cường độ ánh sáng trong khoảng 7.438 - 6.964 Lux và tỷ lệ giữa cường độ ánh sáng chiếu xuống tán cây với cường độ ánh sáng ngoài chỗ trống khoảng 11,05 - 12,00%; loài Đinh thối sinh trưởng thích hợp nhất trong điều kiện có cường độ ánh sáng khoảng 7.059 - 6.395 lux, tương ứng với độ tàn che từ 0,51 - 0,58 và tỷ lệ giữa cường độ ánh sáng chiếu xuống tán cây với cường độ ánh sáng ngoài chỗ trống trong khoảng 11,03 - 11,75%; Re hương sinh trưởng tốt nhất khi nhận được cường

độ ánh sáng chiếu xuống tán trong khoảng 7.344 - 6.964 lux, tương ứng với độ tàn che trong khoảng 0,48 - 0,52 và tỷ lệ giữa cường độ ánh sáng chiếu xuống tán cây với cường độ ánh sáng ngoài chỗ trống trong khoảng 11,23 - 11,30% [15]

1.1.2 Nghiên cứu về cây Sa mộc dầu

Ở Việt Nam, mặc dù Sa mộc dầu là loài cây gỗ quý hiếm, đang có nguy cơ tuyệt chủng nhưng những công trình nghiên cứu có liên quan tới loài cây này còn tương đối ít, thông tin còn tản mạn nên việc bảo tồn loài còn gặp nhiều khó khăn, một số công trình nghiên cứu đã được thực hiện như sau:

* Tên gọi, phân loại:

Theo Trung tâm dữ liệu thực vật rừng Việt nam thì Sa mộc dầu hay còn có tên gọi khác là Sa mộc Quế Phong, Ngọc am, Mạy lâng lênh, Mạy lung linh, Sa mu

dầu có tên khoa học là Cunninghamia konishii Hayata hay còn có tên đồng nghĩa là

Trang 19

Cunninghamia kawakami Hayata; Cunninghamia lanceolata (Lamb.) Hook var

konishii; Cunninghamia lanceolata auct non (Lamb.) Hook: P.K Loc thuộc chi Sa mộc hay Sa mu (Cunninghamia) họ Trắc Bách Diệp hay họ Hoàng Đàn (Cupressaceae) [33], [13]

Theo Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000) thì Sa mộc dầu hay còn gọi là Sa

mộc Quế phong có tên khoa học là Cunninghamia konishii Hayata thuộc chi Sa mộc

hay Sa mu (Cunninghamia) Bụt mọc (Taxodiaceae) [9] Quan điểm phân loại này

được đa số các nhà thực vật ở Việt Nam thừa nhận và được thể hiện trong cuốn sách

“Tên cây rừng Việt Nam” do Bộ Nông nghiệp & PTNT phát hành năm 2000 [1]

Đặc điểm chung của họ Bụt mọc là:

Cây gỗ lớn, thường xanh hoặc rụng lá Tán thường hình tháp Cành mọc gần vòng Lá hình dải, hình ngọn giáo, hình kim hoặc hình vảy xếp xoắn ốc, ít khi đối Nón đơn tính cùng gốc, nón đực thường mọc cụm ở đầu cành gồm nhiều nhị xếp xoắn ốc, mỗi nhị mang 2-9 bao phấn Nón cái mọc lẻ hoặc mọc cụm ở nách lá hoặc đầu cành ngắn, lá noãn xếp đối, mỗi lá noãn mang 2-9 noãn thẳng Quả nón thường hình trứng hoặc hình cầu, hóa gỗ, chín trong 1 năm Hạt có cánh mỏng Phôi 2-9 lá lầm Họ Bụt mọc có 10 chi và 17 loài phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc bán cầu

Ở Việt Nam, họ Bụt mọc có 3 chi và 3 loài [31]

* Đặc điểm hình thái:

Mặc dù Sa mộc dầu là loài cây quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam và cả trên thế giới nhưng những công trình nghiên cứu mô tả đặc điểm hình thái của loài còn chưa được nghiên cứu sâu, thông tin tản mạn, một số nghiên cứu

mô tả đặc điểm hình thái có thể kể tới là:

Sa mộc dầu là cây gỗ lớn dùng để cung cấp gỗ lớn, làm cảnh Loài có phân

bố ở vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Bắc Trung bộ ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị [1]

Trong các tài liệu mô tả đặc điểm hình thái thực vật rừng Việt Nam như:

“1900 loài cây có ích ở Việt Nam”; “Cây cỏ có ích ở Việt Nam tập I”; “Sách đỏ Việt Nam phần thực vật”; “Thực vật rừng” đều có đề cập và mô tả đặc điểm hình

Trang 20

thái của loài Sa mộc dầu là cây gỗ lớn, thường xanh cao hơn 30-35m với đường kính 1-1,5m, lá mềm, dài 1,5 - 2cm, đầu lá tù, nón cái hình trứng tròn dài 2 - 2,5cm

[9], [10], [16], [4]

Cây gỗ lớn, thường xanh, có thể cao đến cao tới 50 m và đường kính ngang ngực tới 2,5 m hoặc, tán hình tháp Lá mọc xoắn ốc rất dày đặc, có gốc vặn do đó xếp ít nhiều thành 2 dãy, hình dải, dài 2 - 3cm, rộng 0,25cm, thót thành mũi tù, không cứng ở đầu, hơi có răng cưa ở hai mép lá và có 2 dải lỗ khí chủ yếu ở mặt dưới Cây cùng gốc Nón đực mọc thành chụm ở nách lá gần đầu cành Nón cái đơn độc hay thành cụm 2 - 3 cái, khi trưởng thành dài 2 - 2,5cm, rộng 1,3cm, gồm các vảy lá bắc hình tam giác rộng, có mũi nhọn ở đầu, có răng cưa ở hai mép và hai tai tròn ở giữa, mang 3 hạt Hạt có các cánh bên khá 5 rộng, dài 5mm, rộng 4mm Đặc điểm hình thái của loài Sa mộc dầu rất giống với loài Sa mộc C lanceolata (Lamb.) Hook Là loài cây có nguồn gốc ở Nam Trung Quốc và được nhập vào trồng ở vùng núi một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, nhưng khác ở chỗ có lá ngắn hơn với mũi tù, không thành gai nhọn và cứng, có nón cái hình trứng và nhỏ hơn [33]

Do 2 loài Sa mộc C Lanceolata và loài Sa mộc dầu Cunninghamia konishii

Hayata khá giống nhau về đặc điểm hình thái, các chứng cứ di truyền học gần đây

gợi ý mạnh mẽ cho việc hợp nhất hai loài này thành một Do C lanceolata là tên

khoa học được công bố đầu tiên nên tên gọi này có ưu thế khi hai loài được hợp nhất Trong quá khứ, chi này thông thường được xếp trong họ họ Bụt mọc

(Taxodiaceae), nhưng họ này hiện nay chỉ được coi là một phần của họ

Cupressaceae Một số ít các nhà thực vật học còn coi nó thuộc về họ riêng của

chính nó là Cunninghamiaceae, nhưng điều này ít được công nhận [29]

Đặc điểm chung của các loài trong chi Cunninghamia có các lá kim với

ngạnh mềm, dai như da, cứng, màu xanh lục tới xanh lục-lam, mọc vòng xung quanh thân theo hình cung đi lên; các lá này dài 2–7 cm và rộng 3–5 mm (tại phần gốc lá), và mang hai dải khí khổng màu trắng hay trắng ánh lục ở phía dưới và đôi khi là ở phía trên mặt lá Tán lá có thể trở thành màu nâu đồng khi thời tiết quá lạnh

Trang 21

Các nón nhỏ và không dễ thấy khi thụ phấn vào cuối mùa đông, các nón đực mọc thành cụm khoảng 10-30 nón, còn các nón cái mọc đơn lẻ hoặc 2-3 nón cùng nhau [29]

* Đặc điểm sinh thái, phân bố:

Cây được thấy rải rác thành các đám nhỏ trong rừng nguyên sinh rậm thường xanh hỗn giao nhiệt đới gió mùa núi thấp hoặc núi trung bình (nhiệt độ trung bình năm 13‐190C, lượng mưa trên 1500 mm) trên đất phong hoá từ granít hoặc các đá

mẹ silicát khác ở độ cao 900 ‐ 2000 m trên mặt biển Các loài Thông mọc kèm

gồm Pơ mu (Fokienia hodginsii), Kim giao núi đất (Nageia wallichiana) và Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus) [33]

Trên thế giới, Sa mộc dầu phân bố ở Trung Quốc, Đài Loan, Lào Ở Việt Nam, Sa mộc dầu có phân bố tự nhiên ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng (Hà Tây, Hà Nội, Hải Dương,…) và vùng Bắc Trung bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,…) [1] Tuy nhiên, theo một số tài liệu công bố cho thấy, hiện nay Sa mộc dầu chỉ còn phát hiện phân bố tự nhiên ở Hà Giang (Tây Côn Lĩnh), Thanh Hoá (Xuân Liên) và Nghệ An (Pù Hoạt, Pù Huống, Pù Mát, Kỳ Sơn) Loài này còn được thông báo là có ở các khu vực biên giới lân cận phía bên Lào (Hửa Phần) và ở Đài Loan Tại Nghệ An, Sa mộc dầu phân bố ở các huyện Quế Phong (núi Phú Hoạt), huyện Quỳ Châu (Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, núi Pha Cà Tủn) [6]

* Giá trị sử dụng:

Gỗ sa mộc là loại gỗ được đánh giá cao tại Trung Quốc, do nó là loại gỗ

mềm có hương thơm và khá bền, tương tự như của hồng sam Bắc Mỹ (Sequoia

sempervirens) và bách Nhật Bản (Cryptomeria japonica) Cụ thể, nó được dùng sản

xuất các loại quan tài cũng như trong xây dựng đền miếu, tại những nơi mà hương thơm được đánh giá cao Nó cũng được trồng làm cây cảnh trong các công viên và các khu vườn lớn, tại đây thông thường nó cao khoảng 15–30 m [29]

Trang 22

* Tình trạng bảo tồn:

Sa mộc dầu là nguồn gen quí hiếm được phân hạng ở cấp VU A1adC1 trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và xếp nhóm 2 trong danh lục thực vật rừng nguy cấp quí hiếm của Nghị định số 32 của Chính phủ Loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị kinh tế rất cao [4]

Hiện nay, trên thế giới Sa mộc dầu được đánh giá ở mức đang bị tuyệt chủng A1c Ở Việt Nam do kích thước các quần thể nhỏ, phân bố hạn chế ở một số địa điểm tại ba tỉnh và và các khu rừng này bị phá do phát nương làm rẫy nên loài này đáp ứng tiêu chuẩn IUCN 2001 ở mức Sắp bị tuyệt chủng [13]

Sa mộc dầu được xếp vào Nhóm IIA trong Danh mục các loài thực vật quí hiếm và việc sử dụng bị hạn chế Ở Nghệ An một số công trình nghiên cứu đã được tiến hành để xác định toàn bộ khu vực phân bố của loài trong tỉnh và nghiên cứu các đặc điểm sinh học và sinh thái của loài (Tran Van Duong, 2001) Thử nghiệm thiết lập khu trồng bảo tồn ở Kỳ Sơn nhưng đã không thu được nhiều kết quả Vấn đề chính là thu hái được hạt giống và lựa chọn được địa điểm trồng thích hợp

1.3 Nhận xét, đánh giá chung

Tổng hợp các công trình nghiên cứu trên đề tài rút ra một số nhận xét sau:

- Ở trên thế giới, các công trình nghiên cứu có liên quan tới lý thuyết sinh lý, sinh thái, đặc điểm cấu trúc, tái sinh rừng,… đã được thực hiện từ rất lâu, phần lớn các nguyên lý, lý thuyết này đã được áp dụng trong nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cho nhiều loài cây cụ thể và đây cũng chính là cơ sở khoa học và thực tiễn

để đề tài lựa chọn hướng nghiên cứu này Các công trình nghiên cứu về phân loại, tên gọi, đặc điểm hình thái, sinh thái cũng đã được thực hiện cho loài Sa mộc dầu, cung cấp nhiều thông tin bổ ích cho việc nghiên cứu của đề tài

- Ở Việt Nam, các công trình nghiên về đặc điểm sinh học, sinh thái cũng đã được thực hiện cho tương đối nhiều loài cây bản địa, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc gây trồng những loài cây này ở nước ta trong thời gian qua Tuy nhiên, tài nguyên thực vật của nước ta là vô cùng phong phú, nhiều loài cây gỗ có giá trị cả

Trang 23

về mặt kinh tế lẫn bảo tồn, nên việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài vẫn là một hướng nghiên cứu cần phải tiếp tục thực hiện Đối với loài Sa mộc dầu, một số công trình nghiên cứu ở trong nước cũng đã mô tả về đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, giá trị sử dụng và tình trạng nguy cấp cần phải bảo tồn Tuy nhiên, những thông tin thu thập được là rất tản mạn, không đủ cơ sở cho việc gây trồng, phát triển và bảo tồn loài cây đang có nguy cơ tuyệt chủng cao này Do đó, việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài hiện nay là hết sức cần thiết và cấp bách phục vụ cho việc gây trồng và bảo tồn loài cây này Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tiễn đó, đề tài nghiên cứu được thực hiện là hết sức cần thiết và

có ý nghĩa khoa học cũng như bảo tồn cao

Trang 24

Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

* Mục tiêu chung:

Xác định được một số đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản của loài Sa mộc

dầu tại VQG Pù Mát làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây

này ở Việt Nam

* Mục tiêu cụ thể:

- Xác định được những đặc điểm cơ bản về hình thái của loài Sa mộc dầu

- Xác định được một số đặc điểm sinh thái, phân bố, đặc điểm tái sinh của loài Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An

- Bước đầu đề xuất được các giải pháp bảo tồn và phát triển loài Sa mộc dầu

ở VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An

2.2 Đối tượng, giới hạn nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là loài cây Sa mộc dầu (Cunninghamia

konishii Hayata) có phân bố tự nhiên tại Vườn quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An 2.2.2 Giới hạn nghiên cứu

* Về nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đặc điểm hình

thái, sinh thái, tái sinh của loài Sa mộc dầu có phân bố tự nhiên tại khu vực VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An Đề tài không nghiên cứu về kỹ thuật tạo cây con, đặc điểm sinh

lý, sinh thái cây con trong vườn ươm cũng như bố trí các thí nghiệm gây trồng loài cây này

* Về địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại VQG Pù Mát, tỉnh

Nghệ An nơi có loài Sa mộc dầu phân bố tự nhiên

* Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01 năm 2011 đến tháng

4 năm 2012

Trang 25

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái loài Sa mộc dầu

- Đặc điểm hình thái thân, cành, lá, tán lá, hoa, quả, hạt

- Đặc điểm vật hậu của loài

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và phân bố loài Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An

- Đặc điểm hoàn cảnh rừng (khí hậu, đất đai, đai cao) nơi có loài Sa mộc dầu phân bố tự nhiên

- Đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi có Sa mộc dầu phân bố tự nhiên: Mật độ, tổ thành rừng, tầng thứ, mức độ thường gặp, mức độ thân thuộc

2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Sa mộc dầu tại VQG Pù mát, tỉnh Nghệ An

Nghiên cứu đặc điểm tái sinh của loài Sa mộc dầu theo đai cao, trạng thái rừng: Mật độ cây tái sinh, tổ thành cây tái sinh, nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh, phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng

2.3.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Sa mộc dầu tại VQG

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài

Để có thể đề xuất biện pháp bảo tồn, phát triển và nhân rộng loài Sa mộc dầu đòi hỏi cần có sự hiểu biết rất kỹ về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Do vậy, quan

điểm nghiên cứu toàn diện và nghiên cứu có sự tham gia được đặt ra trong đề tài

Do thời gian nghiên cứu có giới hạn, nên quan điểm kế thừa các nghiên cứu

đã có và chỉ tiến hành điều tra bổ xung các thông tin còn thiếu được quán triệt sử

Trang 26

dụng Tiếp cận đa chiều theo nhiều hướng khác nhau để thu được kết quả là tốt nhất

và có độ tin cậy cao

Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài được thể hiện tại sơ đồ 2.1

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu

Trong quá trình thực hiện, đề tài đã kế thừa các số liệu, tài liệu sau:

- Các tài liệu, công trình nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh thái, phân

bố, giá trị sử dụng,… của loài Sa mộc dầu được thực hiện ở cả trong và ngoài nước

- Các số liệu, tài liệu, bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An

Thu thập số liệu, tài

liệu đã có

Khảo sát khu vực, lựa chọn khu vực điều tra

Bố trí tuyến điều tra, lập OTC và điều tra chi tiết

NC đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Sa mộc dầu

Đề xuất biện pháp bảo tồn và nhân rộng cây Sa mộc dầu

Trang 27

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu

2.4.2.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu ngoài hiện trường

a Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, vật hậu

* Nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài:

Sử dụng phương pháp quan sát mô tả trực tiếp đối tượng lựa chọn đại diện kết hợp với phương pháp đối chiếu, so sánh với các tài liệu đã có Cụ thể như sau:

+ Quan sát, mô tả hình thái và xác định kích thước của các bộ phận: Thân cây, vỏ cây, sự phân cành, lá, hoa, quả, hạt của cây Sa mộc dầu (cây được quan sát phải đạt độ trưởng thành nhất định, hiện đang tồn tại trong rừng tự nhiên)

+ Lấy mẫu tiêu bản, so sánh với các tiêu bản trước đây (nếu có) hoặc những loài cây có hình thái tương tự

Dụng cụ và thiết bị hỗ trợ: Máy ảnh, thước dây, thước kẹp (palme), kẹp tiêu bản,…

* Nghiên cứu vật hậu:

Sử dụng phương pháp quan sát, mô tả, theo dõi trực tiếp tại hiện hiện trường: Bằng mắt thường quan sát trực tiếp vật hậu trong quá trình điều tra thực địa Tại mỗi OTC đề tài tiến hành quan sát vật hậu trên 3 cây Sa mộc dầu đã thành thục sinh sản Trên mỗi cây tiến hành quan sát vật hậu trên 4 cành theo các hướng Đông - Tây, Nam - Bắc Chú ý sự biến đổi các bộ phận (cành, chồi, hoa, quả) của loài

b Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh thái, phân bố của loài

* Phương pháp nghiên cứu đặc điểm phân bố:

Đề tài nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Sa mộc dầu bằng phương pháp điều tra theo tuyến Tại mỗi khu vực, nắm bắt thông tin chung thông qua tài liệu của VQG và thông qua phỏng vấn cán bộ và người dân địa phương, Kế thừa tài liệu

đã có kết hợp với điều tra bổ sung theo tuyến ngoài thực địa nhằm xác định vùng phân bố của loài Sa mộc dầu

Tại khu vực nghiên cứu lập 03 tuyến điều tra (có độ dài >2km) đi qua khu vực có loài Sa mộc dầu phân bố và đi qua những độ cao, loại rừng khác nhau Trên các tuyến điều tra, tiến hành điều tra phát hiện loài bằng cách quan sát, nhận dạng

Trang 28

qua đặc điểm hình thái trên những tuyến điều tra Kết quả điều tra được trên tuyến ghi vào bảng 2.1

Bảng 2.1: Điều tra phân bố của loài theo tuyến

Ngày điều tra………Nơi điều tra………

Người điều tra ……….Loài cây: Sa mộc dầu

Số hiệu

tuyến

Thứ tự cây Tọa độ Độ cao

(m)

Chiều cao cây (m) D1.3 Ghi chú

Hvn Hdc

* Phương pháp điều tra đặc điểm sinh thái của loài:

Theo tài liệu điều tra của VQG Pù Mát thì loài Sa mộc dầu phân bố ở độ cao

900 - 1.500m so với mực nước biển Đề tài tiến hành lập các OTC tạm thời có diện tích 2000m2 (40x50m) theo các đai cao 900 - 1.100m; 1.100 - 1.300m; 1.300 - 1.500 để tiến hành điều tra đặc điểm sinh thái của loài Tại mỗi đai cao, đề tài tiến hành lập 1 OTC, các OTC được bố trí sao cho đại diện cho các sinh cảnh, trạng thái rừng khác nhau Như vậy, tổng số OTC đã lập là 3 OTC

Tại mỗi OTC tiến hành điều tra, mô tả về các đặc điểm độ cao, độ dốc, hướng phơi, đặc điểm đất đai, thực bì, độ tàn che

Trong OTC 2000m2 tiến hành đếm tổng số cây, xác định loài và đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao, cụ thể:

- Đường kính thân cây (D1,3 cm) được đo bằng thước kẹp kính hai chiều, hoặc dùng thước dây đo chu vi

- Chiều cao vút ngọn (Hvn, m) và chiều cao dưới cành (Hdc, m ) được đo bằng thước đo cao với độ chính xác đến dm Hvn của cây rừng được xác định từ gốc cây đến đỉnh sinh trưởng của cây, Hdc được xác định từ gốc cây đến cành cây đầu tiên tham gia vào tán của cây rừng

- Đường kính tán lá (Dt, m) được đo bằng thước dây, đo hình chiếu tán lá trên mặt phằng ngang theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số bình quân

Trang 29

Kết quả đo được thống kê vào phiếu điều tra tầng cây cao, bảng 2.2

Bảng 2.2: Biểu điều tra tầng cây cao

Người điều tra:……….; Ngày điều tra:………

D1.3 (cm)

Hvn(m)

Hdc(m)

Dtán(m)

Chất lượng

Ghi chú

c Phương pháp điều tra cây tái sinh:

Trong OTC diện tích 2000m2 tiến hành lập 20 ô dạng bản (ODB), diện tích ô dạng bản là 4m2 theo hệ thống phân bố đều trên OTC Trong ODB tiến hành điều tra về:

- Mật độ cây tái sinh

- Tên loài cây tái sinh

- Đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng và phân cấp chiều cao cây tái sinh: chiều cao vút ngọn (m) và đánh giá chất lượng cây tái sinh (tốt, trung bình, xấu):

+ Cây tốt là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển tốt, không sâu bệnh;

+ Cây xấu là những cây cong queo, cụt ngọn, sinh trưởng phát triển kém, sâu bệnh

+ Những cây còn lại là những cây có chất lượng trung bình

- Xác định nguồn gốc cây tái sinh: Tái sinh chồi, tái sinh hạt

- Xác định độ tàn che tầng cây cao, độ che phủ và chiều cao của tầng cây bụi, thảm tươi

Trang 30

Bảng 2.3: Điều tra cây tái sinh dưới tán rừng

Người điều tra:……….; Ngày điều tra:………

Cây Tên cây

Số cây tái sinh

Chất lượng Nguồn

gốc

<0,5m 0,5-1m 1-2m >2m

* Phương pháp điều tra tầng cây bụi, thảm tươi:

Trong OTC diện tích 2000m2 đề tài tiến hành lập 5 ÔDB có diện tích 25m2(5m x 5m), 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa ÔTC

Điều tra cây bụi, thảm tươi theo các chỉ tiêu: Tên loài chủ yếu, chiều cao bình quân, độ che phủ trung bình, kết quả ghi vào phiếu điều tra cây bụi theo bảng 2.4

Bảng 2.4: Điều tra cây bụi, thảm tươi dưới tán rừng

Người điều tra:……….; Ngày điều tra:………

Trang 31

d Đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển loài Sa mộc dầu

Tiến hành điều tra khảo sát về tình hình thực hiện các biện pháp bảo vệ, bảo tồn loài cây này trong khu vực kết hợp với việc phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) trong việc bảo tồn loài Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát để làm căn cứ đề xuất các biện pháp kỹ thuật, kinh tế, xã hội, chính sách trong bảo tồn loài cây này

Cấu trúc mật độ là chỉ tiêu biểu thị số lượng cá thể của từng loài hoặc của tất

cả các loài tham gia trên một đơn vị diện tích (thường là 1 ha), phản ánh mức độ tận dụng không gian dinh dưỡng và vài trò của loài trong QXTV rừng

Công thức xác định mật độ như sau:

 10.000

o

S

n ha

Để xác định tổ thành tầng cây cao, đề tài sử dụng phương pháp xác định mức

độ quan trọng (Important Value – IV %) của Daniel Marmillod:

IV  

Trong đó:

IVi% là tỷ lệ tổ thành (độ quan trọng) của loài i

Ni% là % theo số cây của loài i trong QXTV rừng

Gi% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTV rừng

Trang 32

Theo Thái Văn Trừng loài cây có IV% ≥ 5% mới thực sự có ý nghĩa về mặt sinh thái trong QXTV rừng Những loài cây xuất hiện trong công thức tổ thành là loài có IV% ≥ giá trị bình quân của tất cả các loài tham gia trong QXTV rừng Trong một quần xã nếu một nhóm dưới 10 loài cây có tổng IV% ≥ 40%, chúng được coi là nhóm loài ưu thế và tên của QXTV rừng được xác định theo các loài đó

c Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che các QXTV rừng

Cấu trúc tầng là chỉ tiêu cấu trúc hình thái thể hiện sự sắp xếp không gian phân bố của thực vật theo chiều thẳng đứng Nghiên cứu cấu trúc được tiến hành thông qua các phẫu đồ rừng theo phương pháp của Richards và Davis (1934)

Độ tàn che được xác định bằng phương pháp điều tra điểm, công thức tính

r là số cá thể của loài i trong QXTV rừng

R là tổng số cá thể điều tra của QXTV rừng

Nếu Mtg > 50%: Rất hay gặp Mtg = 25 – 50%: Thường gặp

q =

b a c

Trang 33

b là số lần mẫu chỉ gặp loài B

c là số lần lấy mẫu gặp cả loài A và B

Nếu: q = 0 hoặc gần bằng 0, A và B không có quan hệ thân thuộc

q = 1, A và B có quan hệ thân thuộc và sự chung sống của chúng trong QXTV rừng là thực chất chứ không phải do ngẫu nhiên

0 < q < 1, A và B do ngẫu nhiên mà cùng cư trú ở một nơi

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh loài

a Mật độ cây tái sinh

Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một đơn vị diện tích, được xác định theo công thức sau:

N / ha =

di

S n

000.10

(6)

Với Sdi là tổng diện tích các ÔDB điều tra tái sinh (m2) và n là số lượng cây tái sinh điều tra được

b Tổ thành cây tái sinh

Xác định công thức tổ thành theo các bước sau:

+ Tính số cây trung bình cho các loài:

Ntb =

N ni

 (7)

Trong đó: Ntb là số cây trung bình cho các loài

ni: số cây của loài i trong OTC

ni là tổng số cây của toàn OTC

N: là tổng số loài có trong OTC

+ Xác định tên loài cây tham gia vào công thức tổ thành

Khi nào loài có tổng số cây (ni) lớn hơn hoặc bằng số cây trung bình của từng loài (Ntb) thì loài đó tham gia vào công thức tổ thành

+ Tính hệ số tổ thành: Ki =

n i

.10 (8)

Trang 34

Trong đó: Ki là hệ số tổ thành của tầng cây cao

Ni là số cá thể mỗi loài trong OTC

ni là tổng số cá thể trong OTC

Những loài xuất hiện trong công thức tổ thành là những loài có tổng số cây lớn hơn hoặc bằng số cây trung bình cho từng loài của lâm phần và có hệ số Ki lớn hơn 0,5

c Chất lượng cây tái sinh

Nghiên cứu tái sinh theo cấp chất lượng tốt, trung bình và xấu đồng thời xác định tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng nhằm đánh giá một cách tổng quát tình hình tái sinh đang diễn ra tại khu vực nghiên cứu

d Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng

Thống kê số lượng cây tái sinh theo 4 cấp chiều cao: dưới 0,5m; 0,5-1m; 2m và trên 2m

1-Cây tái sinh có triển vọng là cây tái sinh mục đích, có chiều cao lớn hơn hoặc bằng chiều cao của lớp cây bụi thảm tươi trong khu vực và sinh trưởng phát triển tốt Căn cứ vào các chỉ tiêu này để tiến hành xác định tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng trong khu vực nghiên cứu

e Ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến tái sinh tự nhiên loài Sa mộc dầu

Sơ bộ đánh giá ảnh hưởng của trạng thái rừng, độ tàn che, cây bụi thảm tươi, tới khả năng tái sinh tự nhiên của loài Sa mộc dầu

Trang 35

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý, địa giới hành chính:

Vườn Quốc gia Pù Mát nằm về phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 120 km đường bộ Vườn quốc gia Pù Mát nằm trong tọa độ từ 18046’ -

19012’ vĩ độ Bắc đến 104024’ - 104056’ kinh độ Đông Ranh giới của VQG như sau:

- Phía Nam có chung 61km với đường biên giới Việt – Lào

- Phía Tây giáp với xã Tam Hợp, Tam Đình, Tam Quang, huyện Tương Dương

- Phía Bắc giáp với xã Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn (huyện Con Cuông)

- Phía Đông giáp với các xã Phúc Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn)

Toàn bộ diện tích Vườn Quốc gia Pù Mát nằm trong địa giới hành chính của

3 huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương tỉnh Nghệ An Diện tích của Vùng

lõi là 94.804,4ha và vùng đệm khoảng 100.000ha nằm trên diện tích của 16 xã

- Huyện Anh Sơn gồm 5 xã: Phúc Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Cẩm Sơn và Đỉnh Sơn

- Huyện Con Cuông gồm 7 xã: Môn Sơn, Lục Dạ, Yên Khê, Bồng Khê, Chi Khê, Châu Khê và Lạng Khê

- Huyện Tương Dương gồm 4 xã: Tam Quang, Tam Đình, Tam Hợp và Tam Hoá Nhìn chung VQG có diện tích rất rộng, ranh giới giáp với nhiều huyện và giáp với biên giới Việt Nam - Lào nên vấn đề quản lý rừng hết sức phức tạp, với đội ngũ cán

bộ mỏng, trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng còn nhiều hạn chế nên việc quản lý, bảo vệ VQG Pù Mát gặp nhiều khó khăn

3.1.2 Địa hình, địa mạo

Hệ thống sông suối chính trong khu vực VQG Pù mát gồm có các khu vực Khe Thơi, Khe Choăng (gồm Khe Bu và Khe Khặng) Các đỉnh dông phụ có độ dốc lớn, độ cao trung bình từ 800-1000m, địa hình hiểm trở Phía tây Nam của Vườn

Trang 36

Quốc gia Pù Mát là nơi có địa hình tương đối bằng, thấp và là nơi sinh sống trước đây cũng như hiện nay của một số cộng đồng người dân tộc

- Địa hình VQG Pù Mát bao gồm một số kiểu sau:

+ Núi cao trung bình: Nằm ngay biên giới Việt-Lào với vài đỉnh cao trên 2000m (phulaileng cao 2711m, Rào cỏ cao 2286m) Địa hình vùng này rất hiểm trở

đi lại cực kỳ khó khăn

+ Kiểu núi thấp và đồi cao: Kiểu này chiếm phần lớn diện tích của miền và có

độ cao từ 1000m trở xuống, cấu trúc tương đối phức tạp được cấu tạo bởi các trầm tích, biến chất, địa hình có phần mềm mại và ít dốc hơn

+ Thung lũng kiến tạo, xâm thực: Kiểu này tuy chiếm một diện tích nhỏ nhưng lại thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, độ cao thấp hơn 300m và bao gồm thung lũng các sông suối Khe Thơi, Khe Choăng, Khe Khặng (sông Giăng) và bờ phải sông Cả

+ Các khối đá vôi nhỏ: Kiểu này phân tán dạng khối, uốn nếp và phân bổ hữu ngạn sông Cả ở độ cao 200-300m Cấu tạo phân phiến dày, màu xám đồng nhất và tinh khiết

Nhìn chung ở khu vực nghiên cứu có địa hình tương đối hiểm trở, độ dốc cao nên các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp diễn ra khá khó khăn Điều này có tác động rất lớn tới tài nguyên rừng của VQG Người dân địa phương để đảm bảo sinh kế vẫn thường xâm phạm trái phép tài nguyên rừng

Trang 37

+ Đất feralit vàng nhạt hay vàng xám phát triển trên đá trầm tích và biến chất

có kết cấu hạt thô, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, loại đất này có diện tích 29.693 ha và phân bố nhiều ở phía Tây Nam của VQG

- Đất feralit đỏ vàng vùng đồi và núi thấp, loại đất này có diện tích 151.017

ha, phân bố ở phía Bắc và Đông Bắc VQG, loại đất này cũng bao gồm 2 loại phụ:

+ Đất Feralit đỏ vàng, thành phần cơ giới nặng đến trung bình có diện tích 56.584 ha, phân bố chủ yếu ở phần trung tâm và phía Đông của VQG

+ Đất Feralit vàng nhạt, thành phần cơ giới nhẹ đền trung bình, tầng đất trung bình có nhiều đá lẫn có diện tích 87.376 ha, phân bố chủ yếu ở vùng Trung tâm và phía Tây Bắc của VQG

+ Đất Feralit đỏ vàng hay nâu đỏ, thành phần cơ giới nặng, tầng dầy (trong thung lũng) có diện tích 7.057 ha, phân bố chủ yếu ở ven đường 7 phía Bắc và Đông Bắc VQG

- Đất dốc tụ và đất phù sa có diện tích 9.140 ha, đất có màu nâu xám, thành phần cơ giới trung bình, tơi xốp giàu dinh dưỡng phân bố ven sông suối trong VQG

- Núi đá vôi có diện tích 7057 ha, núi có đặc điểm dốc đứng, độ che phủ thực vật thấp, phân bố thành dải nhỏ xen kẽ nhau bên trái bờ sông Cả

Nhìn chung đất đai trong khu vực có phù hợp với nhiều loài cây lâm nghiệp

Do đó, cần có những biện pháp thích hợp để sử dụng cơ cấu đất đai một cách hợp lý, hiệu quả cao

3.1.4 Khí hậu, thủy văn

Vườn Quốc gia Pù Mát nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Do chịu ảnh hưởng của dãy Trường Sơn đến hoàn lưu khí quyển nên khí hậu ở đây có sự phân hoá và khác biệt lớn trong khu vực Kết quả theo dõi các yếu tố khí tượng thủy văn của VQG

Pù Mát được tổng hợp như sau:

- Về chế độ nhiệt:

+ Nhiệt độ trung bình năm 23 – 240C, tổng nhiệt năng 8500 – 87000C

Trang 38

+ Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ trung bình trong các tháng này xuống dưới 200C và nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất xuống dưới 180C (tháng giêng)

+ Ngược lại vào mùa hè, do có sự hoạt động của gió Tây nên thời tiết rất khô nóng, kéo dài tới 3 tháng (từ tháng 4 đến tháng 7) Nhiệt độ trung bình mùa hè lên trên 250C, nóng nhất vào tháng 6 ở 420C Con Cuông; 42,70C ở Tương Dương vào tháng 4 và tháng 5; 42,10C ở Anh Sơn vào tháng 6, độ ẩm trong các tháng này có nhiều ngày xuống dưới 30%

- Chế độ mưa ẩm: Vùng nghiên cứu có lượng mưa ít tới trung bình, 90%

lượng nước mưa tập trung trong mùa mưa, lượng mưa lớn nhất là tháng 9, tháng 10

và thường kèm theo lũ lụt Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Các tháng 2, 3,

4 có mưa phùn do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Tháng 5, 6, 7 là những tháng nóng nhất và lượng bốc hơi cũng cao nhất

+ Độ ẩm không khí trong vùng đạt 85-86%, mùa mưa lên tới 90% Tuy vậy những giá trị cực thấp về độ ẩm vẫn thường đo được do thời kỳ khô nóng kéo dài

- Thuỷ văn: Trong khu vực có hệ thống sông Cả chảy theo hướng Tây Bắc -

Đông Nam Các chi lưu phía hữu ngạn như Khe Thơi, Khe Choăng, Khe Khặng lại chảy theo hướng Tây Nam lên Đông Bắc và đổ nước vào sông Cả

+ Cả 3 con sông trên đều có thể dùng bè mảng đi qua một số đoạn nhất định Riêng Khe Choăng và Khe Khặng có thể dùng thuyền máy ngược dòng ở phía hạ lưu

Nhìn chung mạng lưới sông suối khá dày đặc, do lượng mưa phân bố không đều giữa các mùa và các khu vực nên tình trạng lũ lụt và hạn hán thường xuyên xảy ra, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống của người dân Bên cạnh đó, hiện tượng thời tiết cực đoan thường xuyên diễn ra như: Gió lào gây nắng nóng vào mùa hè, thường xuyên đón nhận những cơn bão từ biển thổi vào,… gây khó khăn rất lớn cho các hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp

3.1.5 Thảm thực vật rừng

Thảm thực vật rừng VQG Pù Mát có những đặc điểm cơ bản sau:

- Độ che phủ rất cao 98% (so với 1993 là 94%)

Trang 39

- Rừng nguyên sinh hoặc bị tác động không đáng kể chiếm 76% diện tích tự nhiên

- Tổng diện tích các loại rừng ở Vườn Quốc gia Pù Mát là 94.804,4ha

Kết quả điều tra về các kiểu thảm thực vật chính của VQG Pù Mát được tổng hợp tại bảng 3.1

Bảng 3.1: Các kiểu thảm thực vật chủ yếu của VQG Pù Mát

1 Rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá

kim ẩm á nhiệt đới

27.364 29,5

2 Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng lùn 1.597 1,7

3 Kiểu rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 43.802 47,3

4 Trảng cỏ cây bụi cây gỗ rải rác 1.327 1,4

5 Đất canh tác nông nghiệp và nương rẫy 345 0,4

(Nguồn: Hạt Kiểm lâm VQG Pù Mát,2010)

+ Rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới phân bố

từ độ cao từ 900m ở phía Bắc và trên 800m ở phía Nam Vườn Quốc gia Loại rừng này 27.364ha chiếm 29,5% diện tích và còn giữ được nguyên sinh cao Tuy nhiên, ở những vùng có phân bố Pơ Mu và cây Gió trầm, hoạt động khai thác của con người ít nhiều đã diễn ra Các loại thực vật hạt trần đã được phát hiện trong loại hình này là

Pơ Mu (Fokienia hodginsii), Sa mộc (Cunninghamia konishii), Hoàng đàn giả

(Dacrydium elatum), Kim giao (Nageia walllichiana), Thông tre (Podocarpus neriifolius),

+ Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng lùn: Rừng lùn ở Vườn Quốc gia Pù Mát xuất hiện Ở đai cao >1500m, trên các dông và chỏm núi dốc, có đá nổi và gió mạnh Diện tích rừng lùn là 1597ha chiếm 1,7% diện tích tự nhiên Thành phần thực vật rừng lùn

có các loài Đỗ quyên (Rhododendron ssp), Sồi Lào (Lithocarpus laotica), Hồi (Illicium sp.), Re lá nhỏ (Cinnamomum spp.) và các loài Phong lan

+ Kiểu rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: Kiểu này nằm trên đai cao

<800m ở phía Nam và 900m ở phía Bắc và có 43.802ha, chiếm 47,3% diện tích Vườn Quốc Gia

Trang 40

+ Trảng cỏ cây bụi cây gỗ rải rác: Loại hình này chiếm 1,4% diện tích VQG phân bố chủ yếu ở hai lưu vực suối chính Khe Thơi và Khe Khặng Kiểu này bao

gồm những trảng cỏ Tranh (Lin perata cylindrica), cỏ Lào (Eupatorium odonatum), Lau (Eriathuss arumdinaceus), Sim, Mua, Sậy (Phragmites vallatoria) Thỉnh thoảng

có các loài cây bụi, cây gỗ nhỏ như Sau Sau (Liquidamba formosana)

+ Đất canh tác nông nghiệp và nương rẫy: Kiểu này có diện tích không đáng

kể chiếm 0,4% diện tích Vườn Quốc gia, tập trung ven Khe Khặng (15ha đất thổ cư, 30ha đất màu khe suối và ruộng nước, có 300 ha nương rẫy thuộc 3 bản Đan Lai) Diện tích nương rẫy này chủ yếu để trồng sắn và trồng ngô

Hình 3.1: Bản đồ hiện trạng Vườn Quốc Gia Pù Mát

Ngày đăng: 28/08/2017, 18:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Vụ Khoa học công nghệ và chất lượng sản phẩm (2000), Tên cây rừng Việt Nam. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên cây rừng Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Vụ Khoa học công nghệ và chất lượng sản phẩm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
2. Baur G.N, 1962. Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa. Vương Tấn Nhị dịch. Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ thuật
3. Nguyễn Thanh Bình, 2003. Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang. Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Hà Tây (cũ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ ăn quả phục hồi tự nhiên tại Bắc Giang
4. Bộ Khoa học, Công nghệ Việt Nam, 2007, Sách đỏ Việt Nam - Phần thực vật. Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam - Phần thực vật
Nhà XB: Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ
5. Cationot R, 1965. Lâm sinh học trong rừng rậm Châu Phi. Vương Tấn Nhị dịch, tài liệu khoa học Lâm nghiệp, Viện KH Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sinh học trong rừng rậm Châu Phi
6. Vũ Văn Cần, 1997. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương. Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Hà Tây (cũ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của cây Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương
7. Hoàng Văn Chúc, 2009, Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên loài Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) trong các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi ở tỉnh Bắc Giang. Luận văn thạc sỹ Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Xuân Mai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên loài Vối thuốc (Schima wallichii "Choisy") trong các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi ở tỉnh Bắc Giang
8. Nguyễn Bá Chất, 1996. Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và biện pháp kỹ thuật gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss).Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp. VKHLN Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và biện pháp kỹ thuật gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss)
9. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), Giáo trình thực vật rừng. Giáo trình trường Đại học Lâm nghiệp. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thực vật rừng
Tác giả: Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2000
10. Võ Văn Chi, 1999, Cây cỏ có ích ở Việt Nam tập I. Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ có ích ở Việt Nam tập I
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
11. Ngô Quang Đê, Triệu Văn Hùng, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Hữu Vĩnh, Lâm Xuân Xanh, Nguyễn Hữu Lộc, 1992. Giáo trình Lâm sinh học. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lâm sinh học
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
12. Nguyễn Thị Hương Giang, 2009. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh của loài Vối thuốc (Schima Wallichii Choisy) tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía Bắc. Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tái sinh của loài Vối thuốc (Schima Wallichii Choisy) tự nhiên ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
14. Trần Hợp (2002), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, TP Hồ Chí Minh, tr 143-175 (151) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên cây gỗ Việt Nam
Tác giả: Trần Hợp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
16. Trần Đình Lý, 1993, 1900 loài cây có ích ở Việt Nam. Nxb Viện Sinh thái và tài nguyên thực vật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1900 loài cây có ích ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Viện Sinh thái và tài nguyên thực vật
17. Ly Meng Seang, 2008. Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng Tếch trồng ở Kampong Cham, Campuchia. Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng Tếch trồng ở Kampong Cham, Campuchia
18. Vương Hữu Nhi, 2003. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật tạo cây con căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắc Lắc, Tây Nguyên.Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật tạo cây con căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắc Lắc, Tây Nguyên
19. Plaudy J. Rừng nhiệt đới ẩm. Văn Tùng dịch. Tổng luận chuyên đề số 8/1987. Bộ Lâm nghiệp (cũ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng nhiệt đới ẩm
20. Richards P.W, 1968. Rừng mưa nhiệt đới. Vương Tấn Nhị dịch. Nxb Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng mưa nhiệt đới
Nhà XB: Nxb Khoa học
21. Nguyễn Toàn Thắng, 2008. Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ Anh (Castanopsis piriformis hickel &amp; A.camus) tại Lâm Đồng. Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp. Trường ĐHLN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ Anh (Castanopsis piriformis" hickel & A.camus)" tại Lâm Đồng
22. Lê Văn Thuấn, 2009, Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Vối thuốc răng cưa (Schima superba Gardn.et Champ) tại Tây Nguyên. Luận văn thạc sỹ Lâm nghiệp, Trường Đại học Tây Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Vối thuốc răng cưa (Schima superba "Gardn.et Champ) "tại Tây Nguyên

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm