Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm ở Công ty xây lắp và tư vấn thiết kế
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, hoà mình cùng với quá trình đổi mới đi lên
của đất nước, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ xây dựng… cũng
có nhiều sự đổi mới tương ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường Trong
những thay đổi đó Bởi vì làm tốt hạch toán kế toán đồng nghĩa với việc quản lý
tốt đồng vốn, đảm bảo mỗi đồng vốn bỏ ra luôn vì lợi nhuận của Công ty
Trong công tác kế toán ở doanh nghiệp, hạch toán chi phí sản xuất và tính
gí thành sản phẩm là khâu quan trọng và phức tạp nhất Chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm liên quan đến hầu hết các yếu tố đầu vào và đầu ra trong quá
trình sản xuất kinh doanh Đảm bảo việc hạch toán giá thành chính xác kịp thời,
phù hợp với đặc điểm hình thành và phát sinh cp ở doanh nghiệp là yêu cầu có
tính xuyên suốt trong quá trình hạch toán Có thể nói rằng, chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm là tấm gương phản chiếu toàn bộ các biện pháp kinh tế
tổ chức quản lý và kỹ thuật mà doanh nghiệp đã và đang thực hiện trong quá
trình sản xuất kinh doanh Thông qua những thông tin về chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm do kế toán cung cấp, nhà quản lý doanh nghiệp sẽ đánh giá được
thực trạng kinh doanh mình từ đó tìm cách đổi mới, cải tiến phương thức quản
lý kinh doanh, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, tăng lợi nhuận
Nhận thức được tầm quan trọng vấn đề này, khi được thực tập ở Công ty
xây lắp và tư vấn thiết kế em đã chọn chuyên đề “Kế toán chi phí và tính giá
thành sản phẩm ở Công ty xây lắp và tư vấn thiết kế” Mục tiêu của chuyên đề
là vận dụng lý luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đã
học ở trường vào nghiên cứu thực tiễn tại Công ty và từ đó phân tích đưa ra các
kiến nghị nhằm hoàn thiện thêm công tác kế toán
Nội dung chuyên đề gồm 3 phần
Phần I: Lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính gí thành sản
phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
Phần II: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại Công ty xây lắp và tư vấn thiết kế
Trang 2Phần III: Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây lắp và tư vấn thiết kế
Trang 3PHẦN I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
I ĐẶC ĐIỂM
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là khâu phức tạp nhất
trong toàn bộ công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở hầu
hết các doanh nghiệp Hơn thế nữa, doanh nghiệp xây dựng cơ bản với những
đặc thù về kinh tế, kỹ thuật, tổ chức… đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc tổ chức
công tác kế toán nói chung và tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm nói riêng Sự chi phối này được thể hiện như sau:
- Sản phẩm của ngành xây lắp là các công trình, hạng mục công trình
hoặc các vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính chất đơn
chiếc Như vậy, mỗi sản phẩm đều có những yêu cầu kỹ thuật, kết cấu, phương
pháp thi công, địa điểm xây lắp Đặc điểm này đòi hỏi kế toán phải tính đến việc
hạch toán chi phí sản xuất, tính gía thành sản phẩm và xác định kết quả thi công
cho từng sản phẩm, xây dựng riêng biệt từng hạng mục công trình trong một
công trình sau đó sẽ tính giá thành cho tổng thể công trình
- Sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản thường có khối lượng lớn, giá trị
lớn, thời gian sản xuất lâu dài
Đặc điểm này đòi hỏi kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành phải xác
định đúng đắn đối tượng tính gía (sản phẩm hoàn chỉnh hoặc sản phẩm hoàn
thành đến giai đoạn quy ước) cũng như kỳ tính giá (tuỳ thuộc vào đặc điểm kỹ
thuật của từng công trình) đáp ứng yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí,
tránh tình trạng căng thẳng vốn cho doanh nghiệp xây lắp
- Sản phẩm xây lắp thường cố định ở nơi sản xuất còn tất cả các điều kiện
khác như vật tư, xe máy, lao động đều phải di chuyển đến nơi sản xuất sản
phẩm
Đặc điểm này làm phát sinh hàng loạt các chi phí không có trong sản xuất
công nghiệp nhưng cần thiết, khách quan, đó là những chi phí như: chi phí điều
Trang 4động công nhân, điều động máy thi công, chi phí xây dựng các công trình tạm
phục vụ công nhân và thi công, chi phí mặt bằng trước khithi công và thu dọn
mặt bắng sau khi thi công xong Kế toán phải phản ánh chính xác các chi phí
này và tổ chức phân bổ hợp lý cho các công trình, hạng mục công trình
- Sản xuất xây dựng thường diễn ra ngoài trời, chịu tác động trực tiếp của
các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên và do vậy thi công xây lắp mang tính thời
vụ
Đặc điểm này làm phát sính chi phí bảo quản vật liệu, bảo quản máy thi
công trong suốt thời gián xây dựng thường là rất dài Thời tiết làm ảnh hưởng tới
tốc độ thi công đồng thời cũng tạo nên nhiều tai nạn rủi ro bất ngờ gây ra những
thiệt hại do ngừng sản xuất hoặc bị phá hỏng… những khoản thiệt hại này đòi
hỏi được bộ phận kế toán chi phí tính giá theo dõi và có phương pháp hạch toán
phù hợp
- Khi tiến hành xây lắp và tư vấn thiết kế cơ bản phải theo một trình tự
nhất định có dự án chi tiết có thiết kế thi công Sản phẩm không phản ánh nhập
kho và tiêu thụ ngay theo giá dự toán đã thoả thuận
Đặc điểm này làm cho sản phẩm xây lắp không thể hiện được tính chất
hàng hoá một cách rõ ràng, yếu tố thị trường tác động bị hạn chế
- Sản phẩm của ngành xây lắp và tư vấn thiết kế được sử dụng trong một
thời gian rất dài
Đặc điểm này đòi hỏi sản phẩm xây lắp được tính chi phí dự phóng và chi
phí bảo hành (do có nhiều yếu tố tác động) để đảm bảo chất lượng công trình
Như vậy, về cơ bản, các phần hành kế toán trong đơn vị xây lắp vẫn được
hạch toán theo chế độ kế toán hiện hành như các doanh nghiệp khác Song vẫn
phải đặc biệt quan tâm đến những đặc điểm riêng của ngành xây dựng để giá
thành sản phẩm có thể phản ánh đúng đắn nhất, khách quan nhất không chỉ
những chi phí bỏ ra để sản xuất sản phẩm đó mà còn phản ánh được toàn bộ
công tác tổ chức quản lý kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp, đã và đang thực
hiện trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh đúng như nhiệm vụ chức năng của
“giá thành sản phẩm”
Trang 5II SỰ CẦN THIẾT TỔ CHỨC HẠCH TOÁN CHI PHÍ VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1 Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây
lắp
1.1 Khái niệm
Hiểu một cách đơn giản chi phí sản xuất là toàn bộ những khoản chi mà
doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm nhằm đạt
được mục đích là tạo ra được sản phẩm ở mọi dạng thể có thẻ có được nó Song,
với bất phương thức sản xuất nào quá trình sản xuất cũng cần hội đủ 3 yếu tố: tư
liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động, không loại trứ ngành xây lắp
và tư vấn thiết kế Sự kết hợp của ba yếu tố này trong suốt quá trình sản xuất
hình thành nên ba loại chi phí được biểu hiện dưới dạng chi phí gọi là chi phí
sản xuất kinh doanh
Có thể nói rằng: chi phí sản xuất là tổng số các hao phí lao động sống và
lao động vật hoá được biểu hiện bằng tiền, phát sinh trong quá trình sản xuất
kinh doanh
Trong doanh nghiệp xây lắp, chi phí sản xuất bao gồm chi phí xây lắp là
bộ phận cơ bản dể hình thành giá thành sản phẩm xây lắp và chi phí ngoài xây
lắp là chi phí của bộ phận sản xuất phụ trợ
1.2 Phân loại
Trong các doanh nghiệp có nhiều cách phân loại chi phí khác nhau, tuỳ
thuộc vào mục đích sử dụng song trong công tác hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm có hai cách phân loại phổ biến:
Phân loại chi phí theo tính chất kinh tế:
Phân loại chi phí theo tính chất kinh tế là sắp xếp những cp có chung tính
chất kinh tế vào một yếu tố, không kể chi phí đó phát sinh ở đâu, dùng vào mục
đích gì trong sản xuất sản phẩm
Theo cách phân loại này chi phí được chia làm bảy yếu tố
- Chi phí nguyên vật liệu bao gồm: các loại nguyên liệu, vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây lắp và tư vấn thiết
Trang 6kế cơ bản mà các doanh nghiệp đã sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ
- Chi phí nhiên liệu, động lực: bao gồm toàn bộ các chi phí về nhiên liệu,
động lực mà doanh nghiệp đã sử dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ
- Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp: bao gồm toàn bộ số tiền công
phải trả cho công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp
- Chi phí bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn: bao gồm
toàn bộ số tiền trích bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn của
công nhân và nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao
tài sản cố định cho sản xuất của doanh nghiệp
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm toàn bộ sóo tiền doanh nghiệp đã
chi trả về các loại dịch vụ mua từ bên ngoài như tiền điện, tiền nước, bưu phí…
phục vụ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
- Chi phí bằng tiền khác: bao gồm toàn bộ chi hí khác dùng cho hoạt động
sản xuất ngoài các yếu tố chi phí ở trên
Cách phân loại theo nội dung tính chất kinh tế có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với công tác quản lý Phân loại chi phí theo cách này giúp ta biết được
kết cấu và tỷ trọng của từng loại chi phí đã chi trong kỳ Nó cho biết từng kỳ đó
doanh nghiệp đã sử dụng một lượng vật chất cụ thể, tỷ trọng từng khoản chi phí
là bao nhiêu Vì vậy, phân tích, đánh giá được tình hình thực hiện dự toán chi
phí sản xuất trong kỳ Từ đó, lấy làm căn cứ để lập dự toán chi phí sản xuất của
kỳ sau và có kế hoạch cung ứng vật tư, tính quỹ lương, xác định nhu cầu về vốn
lưu động cho kỳ sau
Phân loại chi phí theo mục đích và công dụng của chi phí
Là sắp xếp các chi phí có cùng mục đích, công dụng với nhau, không
phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế như thế nào Cách phân loại này là cách
phân loại theo khoản mục Trong doanh nghiệp xây lắp thường có bốn khoản
mục cp:
- Chi phí vật liệu trực tiếp: là tất cả những chi phí về vật liệu sử dụng trực
tiếp cho thi công xây lắp bao gồm vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, vật kết
Trang 7cấu (bê tông đúc sắn, vì kèo ) giá trị thiết bị đi kèm với vật kiến trúc (thiết bị vệ
sinh, thông hơi, chiếu sáng…)
- Chi phí nhân công trực trực tiếp: là khoản chi phí đặc trưng cho hoạt
động xây dựng cơ bản Chi phí sử dụng máy thi công là những khoản mà doanh
nghiệp phải trả cho công nhân trực tiếp thi công xây lắp (cả lao động trong và
ngoài biên chế) thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp độc hại Khoản mục này
không bao gồm chi phí cho công nhân nhân viên chuyển ngoài phạm vi công
trường và công nhân điều khiển máy thi công
- Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ các khoản chi phí trực tiếp liên
quan đến sử dụng máy để xây dựng công trình bao gồm: chi phí nhân công sử
dụng máy, chi phí vật liệu dùng để chạy và sửa chữa máy, chi phí dụng cụ sản
xuất dùng cho nhu cầu sử dụng máy, chi phí khấu hao thi công, chi phí dịch vụ
mua ngoài để sử dụng thi công và các chi phí bằng tiền khác
- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí dùng cho hoạt động sản xuất
chung ở các đội, phân xưởng sản xuất ngoài ba khoản mục đã nêu, bao gồm: chi
phí nhân công phân xưởng, đội sản xuất, chi phí vật liệu sử dụng chung, chi phí
dụng cụ, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi
phí bằng tiền khác
Phân loại chi phí theo cách này phục vụ yêu cầu quản lý chi phí theo định
mức, cung cấp cho số liệu tính giá thành sản phẩm xây lắp, phân tích tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành
Ngoài hai cách phân loại phổ biến trên chi phí sản xuất cũng được phân
loại bằng một số cách khác như:
- Theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và mối quan hệ và đối tượng
chịu chi phí sản xuất gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
- Theo nội dung cấu thành của chi phí thì chi phí sản xuất gồm chi phí đơn
nhất và chi phí tổng hợp
- Căn cứ mối quan hệ của chi phí với quy trình công nghệ sản xuất sản
phẩm thì chi phí sản xuất gồm ba loại chi phí cơ bản, chi phí thiệt hại và chi phí
chung
Trang 8Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng thường tự tách gồp các yếu tố chi phí để
phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của mình Song cách phân loại chi
phí theo mục đích công dụng là thông dụng nhất
2 Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
xây lắp
1.1 Khái niệm
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ các chi phí bằng tiền để hoàn tất
khối lượng sản phẩm xây lắp theo quy định Sản phẩm xây lắp có thể là kết cấu
công việc hoặc giao lại công việc có thiết kế dự toán riêng, có thể là hạng mục
công trình hoặc công trình hoàn thành toàn bộ
Giá thành hạng mục công trình hoặc công trình hoàn thành toàn bộ là giá
thành cuối cùng của sản phẩm xây lắp
1.2 Phân loại
Theo thời gian và cơ sở số liệu để tính giá, giá thành được phân thành 3
loại; giá thành dự toán, giá thành kế hoạch và già thành thực tế
- Giá thành dự toán là tổng các chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng
xây lắp công trình được xác định dựa trên cơ sở các định mức quy định của Nhà
nước và khung giá áp dụng theo từng vùng lãnh thổ Giá thành dự toán nhỏ hơn
giá trị dự toán ở phần lãi định mức
Gía thành dự toán = giá trị dự toán – lợi nhuận định mức
- Giá thành kế hoạch: là tổng các cp tính toán được xác định xuất phát từ
điều kiện cụ thể ở từng doanh nghiệp xây lắp nhất định trên cơ sở biện pháp thi
công, các định mức thi công và đơn giá áp dụng trong doanh nghiệp
Giá thành kế hoạch = giá thành dự toán – mức giá hạ thành
- Giá thành thực tế: là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các chi phí thực tế
để hoàn thành, bàn giao khối lượng xây lắp mà doanh nghiệp đã nhận thầu Giá
thành thực tế bao gồm các chi phí theo định mức, vượt định mức và không định
mức (như các khoản thiệt hại trong sản xuất, các khoản bội chi, lãng phí về vật
tư, lao động, tiền vốn… trong quá trình quản lý và sản xuất của doanh nghiệp)
Trang 93 Vai trò, sự cần thiết, nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
3.1 Vai trò, sự cần thiết
Kế toán tập hợp cp sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp xây lắp là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản
lý, là hoạt động đặc biệt sản xuất ra những thông tin có ích về vốn phục vụ cho
hoạt động quản lý và kiểm tra hoạt động tài chính của doanh nghiệp Là một
phân hệ trong hệ thống quản lý với chức năng thông tin và kiểm soát, kế toán
phải đảm bảo tính chính xác, cập nhật trong việc cung cấp thông tin đồng thời
đảm bảo tính thống nhất trong cả hệ thống quản lý nói chung
Đạt được những yêu cầu trên kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản
phẩm đã phát huy được tác dụng trong phân tích và đánh giá tổ chức quản lý,
sản xuất hợp lý nâng cao hiệu quả công tác quản trị vì sự tồn tại lâu dài của
doanh nghiệp
Riêng đối với doanh nghiệp xây lắp việc kế toán đúng chi phí và tính
đúng giá thành càng trở nên quan trọng và có tính quyết định bởi sản xuất xây
lắp thực hiện trong một thời gian dài, khối lượng vật liệu cho thi công lớn, giá trị
lớn, chịu giá cả biến động ở những thời điểm khác nhau
Thông qua chỉ tiêu giá thành có thể xác định được kết quả của quá trình
sản xuất, từ đó phân tích và tìm ra phương án giải quyết, biện pháp hạ giá thành,
nâng cao hiệu quả kinh doanh Cũng thông qua chỉ tiêu này các nhà quản lý sẽ
nắm được thực trạng của doanh nghiệp về trình độ kỹ thuật thi công, tổ chức sản
xuất, tình hình sử dụng lao động, vật liệu… kiểm tra việc chấp hành chế độ kế
toán và chính sách của Nhà nước tại doanh nghiệp (thuế, chính sách cho người
lao động…)
Điều đó thể hiện vai trò to lớn của công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm dở dang trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh
nghiệp
3.2 Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm
Do có vai trò to lớn trong việc phục vụ công tác quản trị, nêm để phát huy
Trang 10tối đa vai trò của mình, việc tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm phải đạt những yêu cầu sau:
- Thứ nhất: phải phản ánh kịp thời chính xác toàn bộ chi phí phát sinh
trong quá trình sản xuất sản phẩm
- Thứ hai: tiến hành phân bổ hợp lý các chi phí sản xuất theo từng khoản
mục và các đối tượng tập hợp chi phí
- Thứ ba: kiểm tra tình hình thực hiện các định mức về chi phí nguyên vật
liệu, chi phí nhân công…, kiểm tra dự toán chi phí gián tiếp (chi phí bảo hiểm,
chi phí quản lý doanh nghiệp), phát hiện kịp thời các khoản vượt ngoài dự toán,
có biện pháp ngăn ngừa
- Thứ tư: kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giá thành theo từng khoản mục
chi phí, theo từng công trình, hạng mục công trình, phát hiện các khả năng tiềm
tàng và đề ra biện pháp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm
- Thứ năm: thông qua tính toán ghi chép phản ánh đúng hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp Lập báo cáo kế toán kịp thời
Với những yêu cầu trên nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm là:
- Kế toán dựa vào những căn cứ về đặc điểm quy trình công nghệ sản
xuất, trình độ quản lý, loại hình sản xuất… tại doanh nghiệp để xác định đúng
đối tượng tập hợp chi phí và các phương pháp tính giá thành thích hợp
Tổ chức tập hợp và phân bổ từng loại chi phí sản xuất theo đúng đối
tượng tập hợp chi phí được xác định bằng phương pháp thích hợp đã chọn đề
cung cấp kịp thời các số liệu, những thông tin tổng hợp về các khoản mục chi
phí sản xuất, các yếu tố sản xuất đã quy định xác định đúng đắn về CPSX dở
dang cuối kỳ
Vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính ra tổng giá thành,
giá thành đơn vị của từng đối tượng (giá thành đơn vị theo từng khoản mục chi
phí đã quy định)
Định kỳ cung cấp số liệu về CPSX và giá thành sản phẩm cho lãnh đạo
doanh nghiệp để tiến hành phân tích tình hình thực hiện định mức chi phí, dự
Trang 11toán chi phí sản xuất, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, mức hạ giá thành,
phát hiện kịp thời các khả năng và biện pháp thích hợp để tiến hành hạ giá thành
sản phẩm trong doanh nghiệp
Thực hiện tốt các nhiệm vụ trên đây, kế toán CPSX sẽ đặt được những
mục tiêu đặt ra trong công tác quản lý chi phí, cũng như phục vụ tốt hơn cho
công tác quản trị doanh nghiệp, giúp cho các nhà quản lý hiểu được thực trạng
tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó có biện pháp
đẩy mạnh đầu tư các nguồn lực một cách hợp lý nâng cao hiệu quả kinh doanh
III TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH
NGHIỆP XÂY LẮP
1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất xây lắp
Để phục vụ cho việc tính giá thành chính xác đòi hỏi kế toán xác định
đúng đối tượng để kế toán chi phí sản xuất Đây thực chất là việc xác định nơi
gây ra chi phí và đối tượng chịu chi phí Với những đặc điểm riêng của sản
phẩm ngành xây lắp và tư vấn thiết kế (đơn chiếc và có giá trị lớn, sản xuất
trong thời gian dài), đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất ở doanh nghiệp
xây lắp được xác định là các công trình, hạng mục công trình
2 Nguyên tắc, phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất sản
phẩm xây lắp
2.1 Nguyên tắc kế toán
Đối với doanh nghiệp xây lắp chỉ hạch toán vào tài khoản 621 những chi
phí nguyên vật liệu ( NVL chính, NVL phụ) được sử dụng trực tiếp để
SXSP xây lắp trong kỳ SXKD Chi phí NVL phải được tính theo giá thực tế xuất
dùng
Đối với kế toán chi phí nhân công trực tiếp không hạch toán các khoản
trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên quỹ lương nhân công trực tiếp Chi phí nhân
công trực tiếp thường được tính vào từng đối tượng chịu chi phí có liên quan
Trường hợp chi phí nhân công có liên quan tới nhiều đối tượng mà không hạch
toán trực tiếp được thì tập hơp phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí có liên
quan theo các tiêu chuẩn như: chi phí tiền công định mức kế hoạch, giờ công
Trang 12định mức hoặc giờ công thực tế… tuỳ theo từng công việc cụ thể các chi phí
BHXH, BHYT, KPCĐ trong trường hợp này được tính trực tiếp trên cơ sở tỷ lệ
trích quy định và số tiền đã phân bổ cho từng đối tượng
Kế toán chi phí sử dụng máy thi công phụ thuộc vào hình thức tổ chức
máy thi công của doanh nghiệp
+ Đối với đơn vị thi công có máy và tự tổ chức thi công bằng máy thì kế
toán chi phí sử dụng MTC phải phản ánh toàn bộ chi phí trực tiếp trong quá
trình sử dụng Hoạt động của đội, tổ thi công cơ giới chuyên trách có thể là đơn
vị hạch toán nội bộ
+ Đối với đơn vị thi công có máy và giao cho các đội sản xuất theo
phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa bằng máymóc, kế toán tập hợp
toàn bộ chi phí sử dụng máy vào tài khoản 623
+ Đối với đơn vị thi công đi thuê máy, chi phí sử dụng máy thi công được
hạch toán vào tài khoản 6277 – chi phí dịch vụ mua ngoài
- Chi phí sản xuất chung phải được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh
chi phí, nếu trong doanh nghiệp có nhiềuđội xây lắp và tư vấn thiết kế phải mở
sổ chi tiết để tập hợp chi sản xuất chung cho từng đội xây dựng
- Cuối tháng chi phí sản xuất chung đã tập hợp được kết chuyển để tính
giá thành sản phẩm CPSX chung của đội nào kết chuyển vào tính giá thành sản
phẩm, công việc của đội đó Trong trường hợp một đội xây dựng trong kỳ có
xây dựng cùng lúc nhiều công trình, hạng mục công trình thì phải tiến hành phân
bổ CPSX chung các công trình, hạng mục công trình có liên quan
2.2 Phương pháp kế toán
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất là phương pháp hoặc hệ thống các
phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất theo yếu
tố và khoản mục trong phạm vi giới hạn của đối ttượng kế toán chi phí sản xuất
Có ba phương pháp kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp:
- Kế toán chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục công trình
Theo phương pháp này, các chi phí sản xuất phát sinh hàng tháng liên
quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì tập hợp cho công trình, hạng
Trang 13mục công trình đó Phương pháp này được sử dụng khi đối tượng tập hợp chi
phí của doanh nghiệp là toàn bộ công trình hay hạng mục công trình
Kế toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng
Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp và phân
loại theo đơn đặt hàng riêng biệt Khi đơn đặt hàng hoàn thành thì tổng số chi
phí tập hợp theo đơn đặt hàng đó là giá thành thực tế của sản phẩm Phương
pháp này được sử dụng đối tượng tập hợp chi phí của doanh nghiệp là đơn đặt
hàng
Kế toán chi phí sản xuất theo đơn vị sản xuất:
Theo phương pháp này, các chi phí phát sinh được tập hợp theo từng đơn
vị sản xuất (phân xưởng, tổ, đội…) giá thành sản phẩm có thể xác định bằng
phương pháp: tính trực tiếp, tổng cộng chi phí, hệ số hoặc tỷ lệ…
Bước 3: tập hợp vàphân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình có
liên quan theo các tiêu thức thích hợp
Bước 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, trên cơ sở đó tính giá
thành sản phẩm hoàn thành
4 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
* Chứng từ sử dụng: phiếu xuất kho, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, bảng
chấm công, bảng kê chi phí sản xuất, bảng kê tổng hợp chi phí, hợp đồng thuê
máy, bảng nghiệm thu khối lượng khoán gọn, phiếu thu, phiếu chi, chứng từ ghi
sổ v…v
Tài khoản sử dụng:
TK 621 – Chi phí NVL trực tiếp
Trang 14Hiện nay theo chế độ kế toán doanh nghiệp xây lắp số 1864/ 1998 / QĐ/
BTC ban hành ngày 16/12./1998 theo quyết định của Bộ trưởng Bộ tài chính, ở
các doanh nghiệp xây dựng có sự thay đổi trong công tác hạch toán kế toán như
sau:
Theo quyết định 1141 TC – CĐKT, chi phí sử dụng MTC hạch toán vào
TK 627 – chi phí sản xuất chung Nhưng hiện nay theo chế độ 1864 / 1998/ QĐ/
BTC, các doanh nghiệp phải đi thuê máy ngoài thì vẫn hạch toán vào TK 627
(627 dịch vụ thuê ngoài), còn các doanh nghiệp thực hiện theo phương pháp
cung cấp, bán lao vụ máy lẫn nhau, không tổ chức đội máy thi công riêng hoặc
có nhưng không tổ chức kế toán thì sử dụng TK 623 – chi phí sử dụng MTC
Bước 3: tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình có
liên quan theo các tiêu thức thích hợp
Bước 4: xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, trên cơ sở đó tính giá
thành sản phẩm hoàn thành
Quy trình tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
được thể hiên qua sơ đồ sau (xem trang sau)
* Sổ kế toán áp dụng: sổ cái TK 621, 622, 627, 627, 154, 136, 632
Trang 15Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
IV TỔ CHỨC KẾ TOÁN TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1 Tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.1 Đối tượng tính giá thành
Xuất phát từ đặc điểm của xây lắp là sản phẩm mang tính đơn chiếc, mỗi
sản phẩm có một dự toán riêng và yêu cầu quản chi sản phẩm theo dự toán Do
vậy, đối tượng tính giá thành trong xây dựng cơ bản là các hạng mục công trình,
các công trình đã hoàn thành, các giai đoạn công việc đã hoàn thành, các khối
lượng xây lắp có dự toán thiết kế riêng đã hoàn thành
Cần phân biệt giữa đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành
để xác định đúng mục đích, giới hạn của việc kiểm tra các chi phí sản xuất theo
nơi phát sinh, theo công dụng, phát hiện kịp thời khả năng tiềm tàng cũng như
nguyên nhân vượt định mức từ đó có biện pháp hạ giá thành
- Đối tượng tính giá thành là căn cứ để kế toán lập các bảng biểu chi tiết
tính giá thành và tổ chức công tác tính giá thành sản phẩm theo từng đối tượng
- Còn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là căn cứ kế toán mở các TK, sổ
chi tiết, ghi chép ban đầu, tâp hơp số liệu chi phí sản xuất theo từng đối tượng
- Số liệu về chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ là cơ sở để tính giá thành
cho từng đối tượng tính giá
Tương ứng với từng đối tượng tập hợp chi phí có thể là hai hay nhiều đối
tượng tính giá thành và ngược lại Chính vì vậy mối quan hệ trên mà trong kế
toán có rất nhiều phương pháp tính giá
1.2 Kỳ tính giá thành
Kỳ tính giá thành là mốc thời gian bộ phận kế toán giá thành phải tổng
hợp số liệu để tính giá thành thực tế cho các đối tượng tính giá thành
Việc xác định kỳ tính giá thành thích hợp sẽ giúp cho việc tổ chức công
tác tính giá thành được hợp lý khoa học, đảm bảo cung cấp số liệu về giá thành
sản phẩm lao vụ kịp thời, phát huy được đầy đủ chức năng giám dốc tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành của kế toán Tuỳ thuộc vào đặc điểm sản xuất kinh
Trang 16doanh mà có thể tính giá thành sản phẩm theo tháng hay theo thời điểm mà sản
phẩm hoàn thành Căn cứ vào đặc điểm riêng của ngành xây lắp và tư vấn thiết
kế cơ bản nên kỳ tính giá thành thường là khi mọi công việc trong đơn đặt hàng
đã hoàn thành (khi sản xuất kết thúc)
Ngoảia với các công trình, hạng mục công trình thì kỳ tính giá thành là
thời gian công trình, hạng mục công trình đó được coi là hoàn thành, có giá trị
sử dụng, được nghiệm thu bàn giao hoặc khi công trình đạt đến điểm từng kỹ
thuật hợp lý theo thiết kế, có ghi trong hợp đồng giao thầu
2 Kế toán kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang là khối lượng công việc còn đang trong quá trình sản
xuất chế biến, đang nằm trên dây chuyền công nghệ đã hoàn thành một vài quy
trình chế biến nhưng vẫn còn phải gia công chế biến mới hoàn thành sản phẩm
Sản phẩm dở dang trong sản xuất xây lắp được xác định bằng phương
pháp kiểm kê hàng tháng Việc tính và đánh giá SPDD hàng tháng trong sản
xuất xây lắp phụ thuộc vào phương thức thanh toán khối lượng công tác xây lắp
hoàn thành giữa người nhận thầu và người giao thầu
Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây dựng sau khi hoàn thành toàn bộ
thì SPDD là toàn bộ chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến thời điểm đánh giá
Khi công trình hoặc hạng mục công trình hoàn thành được bàn giao thanh toán,
thì toàn bộ chi phí sản xuất đã phát sinh sẽ được tính vào giá thành sản phẩm
Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây dựng theo điểm dừng kỹ thuật hợp
lý (xác định được giá dự toán) thì sản phẩm dở dang là các khối lượng xây lắp
chưa đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý đã quy định Và đặc điểm được đánh giá
theo chi phí thực tế trên cơ sở phân bổ chi phí thực tế của hạng mục công trình
đó cho các giai đoạn, tổ hợp công việc đã hoàn thành và giai đoạn còn dở dang
theo giá dự toán của chúng
Công thức tính:
DCK = Error! x SD
Trong đó: DCK, DDK giá trị (chi phí thực tế) của SPDD cuối kỳ và đầu kỳ
C: chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
Trang 17SL: giá trị dự toán của các giai đoạn xây dựng hoàn thành
SD: giá dự toán của các giai đoạn xây dựng dở dang cuối kỳ, đầu kỳ
Việc xác định đúng giá trị của sản phẩm dở dang cuối kỳ làm cho công tác
tính giá thành sản phẩm xây lắp thêm chính xác
3 Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
Phương pháp tính giá thành là hệ thống các phương pháp được sử dụng để
tính toán hoặc xác định giá thành đơn gị của từng loại sản phẩm công việc hoàn
thành
Có năm phương pháp tính giá:
-Phương pháp tính trực tiếp:
Giá thành sản;phẩm hoàn;thành = Giá trị;sản phẩm;dở dang +
Chi phí;sản xuất;phát sinh trong kỳ - Giá trị sản phẩm;dở dang;cuối kỳ
Phương pháp tổng cộng chi phí
Áp dụng cho trường hợp đối tượng hạch toán chi phí là giai đoạn công
việc, đối tượng hạch toán giá thành là sản phẩm hoàn thành
Z = DCK + C1 + C2 + … + Cn - DCK
Trong đó: C1, C2 … Cn là chi phí sản xuất của giai đoạn 1,2 …n
Phương pháp hệ số:
Áp dụng cho trường hợp hạch toán chi phí là nhóm sản xuất còn đối
tượng hạch toán giá thành là một sản phẩm riêng biệt
Trang 18thành khác nhau
Có thể kết hợp phương pháp trực tiếp với phương pháp hệ số và tỷ lệ
trong trường hợp đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là nhóm sản phẩm nhưng
đơn vị tính giá thành là sản phẩm
Có thể kết hợp phương pháp tính trực tiếp và phương pháp tổng cộng chi
phí khi đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và là bộ phận sản phẩm nhưng đơn
vị tính giá thành là sản phẩm hoàn chỉnh
V KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN PHẨM VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN
PHẨM THEO PHƯƠNG THỨC KHOÁN TRONG XÂY LẮP
Theo phương pháp khoán: chi phí xây lắp bên giao khoán là toàn bộ chi
phí khoán (giá khoán) và chi phí chung (chi phí quản lý doanh nghiệp, khấu hao
toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp, trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí
công đoàn của công nhân viên toàn doanh nghiệp) phân bổ cho công trình, hạng
mục công trình để từ đó xác định giá thành toàn bộ công trình, hạng mục công
trình bàn giao cho bên chủ đầu tư
Chi phí sản xuất bên nhận khoán là toàn bộ chi phí liên quan đến thi công
công trình, hạng mục công trình làm cơ sở để xác định giá thành sản xuất thực tế
của sản phẩm hoàn thành
Có nhiều hình thức giao khoán sản phẩm xây lắp nhưng các doanh nghiệp
chủ yếu sử dụng hai hình thức là hình thức khoán gọn công trình và hình thức
khoán theo từng khoản mục
Theo hình thức khoán gọn công trình, đơn vị giao khoán tiến hành khoán
toàn bộ công trình cho bên nhận khoán Đơn vị nhận khoán sẽ tổ chức cung ứng
vật tư, thiết bị kỹ thuật, nhân công… tiến hành thi công Khi công trình hoàn
thành bàn giao quyết toán sẽ được thanh toán thanh toán toàn bộ giá trị công
trình nhận khoán Nộp cho đơn vị giao khoán số phần nộp ngân sách, số trích
lập quỹ doanh nghiệp
Theo hình thức khoán theo từng khoản mục công trình, đơn vị giao khoán
sẽ giao khoán những khoản mục chi phí thoả thuận với bên nhận khoán Vật
liệu, nhân công sử dụng máy… bên nhận khoán sẽ chi những khoản mục đó, bên
Trang 19giao khoán sẽ chịu trách nhiệm chi phí và kế toán các khoản mục chi phí không
giao khoán và giám sát về kỹ thuật, chất lượng công trình Kế toán theo phương
pháp khoán ở đơn vị xây lắp có thể tóm tắt qua sơ đồ sau (xem các trang sau)
VI CÁC HÌNH THỨC SỔ ÁP DỤNG TRONG KẾ TOÁN CPSX VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
Tuỳ thuộc vào mỗi loại hình thức doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp,
trình độ tổ chức quản lý chuyên môn nghiệp vụ của lao động kế toán mà doanh
nghiệp có thể lựachọn các hình thứ sổ sau:
* Hình thức chứng từ ghi sổ: hình thức này có ưu điểm thích hợp với mọi
loại hình doanh nghiệp, thuận tiện cho áp dụng máy vi tính Tuy nhiên, việc ghi
chép bị trùng lặp nhiều nên việc lập báo cáo dễ bị chậm trễ nhất là trong điều
kiện kế toán thủ công
* Hình thức nhật ký chung: theo hình thức này các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh được phản ánh theo thứ tự thời gian vào một quyển số gọi là Nhật Ký
chung
* Hình thức nhật ký sổ cái: Hình thức nhật ký sổ cái có ưu điểm là đơn
giản, dễ làm, thích hợp với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, ít nghiệp vụ kinh
tế, sử dụng ít tài khoản (khoảng trên dưới 20 KT) Tuy nhiên,hình thức này cũng
tồn tại một số nhược điểm như: việc ghi chép bị trùng lặp làm tăng khối lượng
kế toán, không thích hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn, nhiều nghiệp vụ
kinh tế phát sinh
Sổ kế toán là hình thức biểu hiện của tài khoản và ghi sổ kép Đây cũng là
phương tiện vật chất để thực hiện công tác kế toán hàng ngày và định kỳ
Nếu doanh nghiệp áp dụng hình thức “chứng từ ghi sổ” thì sơ đồ kế toán
như sau (xem trang sau)
Trang 20Ghi cuối kỳ hạch toán
Đối chiếu luân chuyển
Chứng từ gốc và bảng tổng hợp chứng từ gốc
Bảng kê chi tiết chi phí phát sinh trong tháng
Sổ chi phí sản xuất kinh doanh
Sổ quỹ
Chứng từ ghi sổ
Sổ cái
Bảng cân đối phát sinh
Báo cáo kế toán
Sổ đăng ký
chứng từ ghi sổ
Bảng tổng hợp chi tiết
Trang 21PHẦN II THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM XÂY LẮP TẠI CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ
I TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ
1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty xây lắp và tư vấn thiết kế – tên giao dịch quốc tế: Construcinon
Engineering & Design Company là một Công ty con của Tổng Công ty Đường
sông Miền Bắc, trực thuộc Bộ giao thông vận tải
Trụ sở chính: 158 – Nguyễn Văn Cừ – Gia Lâm – Hà Nội
Điện thoại: 04.8722482 - Fax: 84.04.8722482
Công ty được Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải ký quyết định thành lập số
115/ QĐ - TCCB – LĐ ngày 04 tháng 3 năm 1999 Vốn kinh doanh khi mới
thành lập là 74 tỷ 495 triệu đồng (bảy mươi tư tỷ bốn trăm chín lăm triệu đồng)
Khi mới thành lập Công ty có ba ngành nghề kinh doanh chính được đăng
ký trong giấy phép kinh doanh số 315344 ngày 03 tháng 04 năm 1999 là:
Thi công xây lắp các công trình công nghiệp
Xây dựng các công trình dân dụng và trang trí nột thất, lắp đặt điện nước
Sản xuất vật liệu xây dựng, bán buôn và cung ứng vật tứ, gia công chế
tạo, lắp đặt kết cấu thép và các trang thiết bị công trình công nghiệp
Ngày 18 tháng 8 năm 2000, tại đăng ký kinh doanh có bổ sung hai ngành
nghề kinh doanh mới là:
Tư vấn đầu tư và xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, công
nghiệp
Khảo sát xây dựng (khảo sát địa hình, địa chất, thuỷ văn)
Công ty xây lắp và tư vấn thiết kế là một tổ chức kinh tế hạch toán độc
lập, tự chủ về mặt tàichính, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và
mở tài khoản tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – Quận Hai Bà
Trưng – Hà Nội
Số tài khoản: 431101.000038
Trang 22Là một công ty có quy mô hoạt động rộng lớn và kinh doanh có lãi, chỉ 4
năm sau khi thành lập, Công ty đã đặt thêm 2 chi nhánh trên toàn miền bắc:
Chi nhánh I: TP Nam Định
Chi nhánh II: Tỉnh Phú Thọ
Vốn đăng ký kinh doanh của Công ty năm 1999 là 74.495 triệu đồng, đến
năm 2002 đã lên tới 76.997 triệu đồng Hai điều trên đã chứng tỏ sự tăng trưởng
của Công ty cả về chiều sâu lẫn chiều rộng
Về nguồn nhân lực, công ty có bộ máy quản lý gọn nhẹ, 92% cán bộ quản
lý của Công ty có trình độ đại học và số năm công tác trung bình là 18.6 năm
Trong thời gian từ khi thành lập đến nay, Công ty đã tham gia đấu thầu và
thắng thầu nhiều công trình, hoàn thành công việc thi công xây lắp nhiều sản
phẩm có chất lượng đảm bảo, chất lượng như: Làng Du lịch Vạn Xuân (16 tỷ);
Ngân hàng Công thương tỉnh Thái Bình (7.3 tỷ); toà án nhân dân thành phố Hà
Nội (6.9 tỷ)…các công trình này đã góp phần không nhỏ trong việc thay đổi bộ
mặt của nền kinh tế nước nhà
Trang 23Một số chỉ tiêu về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
TT Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 So sánh
Tuyệt đối Tương đối
Công ty xây dựng và PTNT 9 là một công ty có quy mô hoạt động rộng
với 5 chi nhánh và 4 ban xây dựng phân tán trên khắp tỉnh Miền Bắc Cách tổ
chức kinh doanh này giúp công ty tổ chức lao động thành nhiều điểm thi công
khác nhau, phục vụ thi công hiệu quả, phù hợp với đặc điểm ngành xây dựng:
máy móc, nhân công phải di chuyển theo địa điểm xây dựng công trình
Các chi nhánh và ban xây dựng tuỳ theo vị trí và địa điểm hoạt động của
mình, một mặt được công ty giao cho thi công những công trình đấu thầu đã
trúng, một mặt tự động tìm kiếm công việc Vốn sản xuất của các chi nhánh phải
lập khế ước vay công ty hoặc nhờ công ty vay ngân hàng và phải chịu lãi suất
theo quy định Công ty không cho các chi nhánh hoặc công trường vay toàn bộ
vốn mà chỉ cho vay theo từng hạng mục công trình
Các chi nhánh phải nộp cho công ty từ 7 -10% giá trị phí những công
trình được khoán
Trang 24Quy trình hoạt động sản xuất kinh doanh được tổ chức theo sơ đồ sau:
Giải thích sơ đồ:
Bước 2:
- Kiểm tra lại khối lượng của hồ sơ mời thầu
- Lập dự toán, tiến độ thi công, biện pháp thi công
- Giới thiệu năng lực và truyền thống của doanh nghiệp (đội ngũ cán bộ,
kýư, công nhân kỹ thuật, các loại máy móc thi công, các công trình có tính chất
tương tự đã thi công)
- Gửi hồ sơ dấu thầu
Bước 4:
- Khảo sát lại mặt bằng xây dựng
- Lập dự toán thi công, chi tiết từng hạng mục công trình
toán với bên A
Thi công Lập dự án thi
công chi tiết
Trang 253 Tổ chức bộ máy quản lý công ty
Sơ đồ quản lý công ty
Trong đó:
- Giám đốc: là đại diện pháp nhận của doanh nghiệp, có quyền cao nhất
trong doanh nghiệp Tổ chức điều hành mọi hoạt động của doanh nghiệp từ việc
sử dụng hợp lý nguồn vốn, đất đai, tài nguyên của Nhà nước giao đến việc ban
hành các định mức kinh tế, kỹ thuật, tiêu chuẩn sản phẩm, đơn giá tiền lương
- Phó giám đốc kỹ thuật: chịu trách nhiệm tổ chức các biện pháp thi công,
theo dõi kỹ thuật, chất lượng công trình
- Phòng kỹ thuật thi công: có nhiệm vụ tham mưu giúp phó giám đốc kỹ
thuật các công tác có liên quan đến vật tư, kỹ thuật, xe máy thi công, an toàn lao
Giám đốc công ty
Phó giám đốc
Kỹ thuật
Phó giám dốc kinh doanh
Phòng kế toán tài
Ban xây dựng
số 3
Ban xây dựng
số 5
Ban xây dựng
số 6
Ban xây dựng
số 7
Trang 26động, xây dựng các định mức tiêu hao có vật tư, định mức kỹ thuật để làm cơ sở
cho kế toán hạch toán các chi tiêu có liên quan, đề ra các biện pháp sáng kiến kỹ
thuật thay đổi biện pháp thi công
- Phòng kế hoạch dự thầu: Có nhiệm vụ khai thác thị trường, xây dựng
các định mức kinh tế kỹ thuật bội bộ, kiêm tra dự toán vào thầu, lập dự án thi
công, xây dựng tiến độ nội bộ phù hợp với tiến độ toàn công trình, lập kế hoạch
sản xuất kỹ thuật, tổ chức thanh quyết toán công trình với bên A, giao khoán và
thanh toán hợp đồng kinh tế nội bộ, có mối quan hệ chặt chẽ với kế toán để lập
các kế hoạch tài chính của công trình
- Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ tổ chức công tác văn phòng
quản lý công văn giấy tờ có liên quan đến tổ chức và hành chính tổ chức nhân
sự, hành chính trong doanh nghiệp, cung cấp các thông tin chứng từ có liên quan
để kế toán tập hợp hạch toán
- Phòng kế toán: có nhiệm vụ đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra và thu thập
đầy đủ, kịp thời tất cả các chứng từ kế toán của công ty đồng thời thực hiện toàn
bộ công tác kế toán của công ty một cách đầy đủ và có chất lượng; giúp ban
giám đốc hướng dẫn các phòng ban mở và ghi chép sổ hạch toán nghiệp vụ cho
việc điều tra hàng ngày mọi hoạt động kinh doanh của đơn vị Khi cần thiết,
phòng kế toán và tổ chức bảo quản, lưu trữ hồ sơ
- Tại các đội thi công gồm: đội trưởng với bộ máy giúp việc có đội phó,
cán bộ kỹ thuật, kế toán,vật tư, thủ kho, bảo vệ, công nhân kỹ thuật
4 Tổ chức công tác kế toán của Công ty
4.1 Tổ chức bộ máy kế toán
Công ty xây lắp và tư vấn thiết kế tỏo chức bộ máy kế toán theo hình thức
tập trung, chỉ tổ chức một phòng kế toán ở đơn vị hành chính, còn ở các đơn vị
trực thuộc thì không có bộ máy kế toán riêng mà chỉ có các nhân viên hạch toán
Trang 27Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
Trong đó:
- Kế toán trưởng: có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác
kế toán thống kê ở doanh nghiệp từ việc sắp xếp các nhân sự sao cho công việc
ghi chép được đầy đủ, chính xác đến việc lập và gửi báo cáo, bảo quản, lưu trữ
hồ sơ
- Giúp giám đốc doanh nghiệp tổ chức phân tích các hoạt động kinh tế tài
chính doanh nghiệp Thông qua công tác tổ chức kế toán tham gia nghiên cứu
cải tiến sản xuất, cải tiến phương pháp quản lý kinh doanh nhằm khai thác tiềm
lực của doanh nghiệp
Làm nhiệm vụ của một số kiểm soát viên kinh tế tài chính của Nhà nước
tại doanh nghiệp
Ở Công ty, kế toán trưởng có thể trợ giúp các nhân viên của mình trong
công việc tổng hợp và kiểm tra với nhiệm vụ:
+ Ghi chép các phần thành công việc kế mà các bộ phận trên chưa làm
+ Tổng hợp số liệu kế toán của tất cả các bộ phận kế toán các bộ phận kế
toán để lập bảng cân đối tài khoản, bảng cân đối kế toán, kiểm tra tính chính xác
của việc ghi chép kế toán ở tất cả các bộ phận và công việc hạch toán ở đơn vị
phụ thuộc
Kế toán trưởng
Kế toán vốn bằng tiền, vay
và thanh toán thành và xác định kết quả tiêu thụ Kế toán tập hợp chi phí tính giá
Kế toán ở các đơn
vị phụ thuộc
Trang 28+ Lập các báo cáo kế toán nội bộ liên quan đến tình hình tài chính của
Công ty
Kế toán vốn bằng tiền: vay và thanh toán:
Giúp kế toán trưởng xây dựng và quản lý kế hoạch tài chính của doanh
nghiệp
Ghi chép kế toán, phản ánh số hiện có và tình hình biến động của vốn
bằng tiền
+ Ghi chép kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết các khoản phải nợ phải thu
phải trả (kể cả khoản nợ về lao động tiền lương của cán bộ công nhân viên) và
nguồn vốn chủ sở hữu
+ Lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ và các báo cáo kế toán nội bộ về các
khoản nợ phải thu, nợ phải trả và các nguồn vốn chủ sở hữu
Bộ phận kế toán tập hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm và xác định kết
quả tiêu thụ:
+ Ghi chép kế toán tổng hợp, kế toán chi tiết về doanh thu bán hàng theo
hoá đơn, doanh thu thuần, thuế GTGT phải nộp
+ Tính toán và ghi chép kế toán tổng hợp chi tiết vè chi phí bán hàng, chi
phí quản lý và phân bổ các loại chi phí này vào chi phí sản xuất kinh doanh
trong kỳ để xác định kết quả kinh doanh
+ Lập các báo cáo liên quan
Giống như các Công ty xây dựng khác, Công ty xây lắp và tư vấn thiết kế
không có hàng tồn kho, bên cạnh đó, máy móc thi công của Công ty phải thuê
ngoài nên tài sản cố định ở Công ty chỉ là máy móc văn phòng phát sinh nghiệp
vụ không đáng kể nên công ty không lập bộ phận kế toán riêng
Kế toán ở các đơn vị phụ thuộc: có trách nhiêm hạch toán ban đầu, thu
nhận và kiểm tra chứng từ ban đầu hàng ngày hoặc định kỳ ngắn chuyển chứng
từ về phòng kế toán doanh nghiệp để phòng kế toán kiêmtra và ghi sổ kế toán
Trong một số trường hợp các nhân viên hạch toán ở các đơn vị phụ thuộc và
định kỳ lập báo cáo đơn giản về các phần hành công việc được giao gửi về
phòng kế toán kèm theo các chứng từ liên quan
Trang 29Các công việc kế toán trong công ty mặc dù đã được phân công cho các
bộ phận song toàn bộ công việc đều nằm trong một quy trình kế toán thống nhất
có quan hệ mật thiết với nhau do kế toán trưởng chi phối điều hành
4.2 Hình thức sổ kế toán áp dụng tại Công ty
Công ty xây lắp và tư vấn thiết kế là một Công ty có quy mô vừa và có
điều kiện kế toán thủ công Chính vì vậy, ban lãnh đạo Công ty đã chọn hình
thức “chứng từ ghi sổ” để hạch toán các nghiệp vụ phát sinh của mình
Trong phần hành chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, hình thức
chứng từ ghi sổ được áp dụng ở Công ty theo sơ đô sau: (Xem trang sau)
Trang 30Chứng từ gốc trong phần hành chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
ở Công ty là các phiếu xuất kho, Bảng chấm công (cũng là bảng thanh toán tiền
lương, các phiếu chi trả tiền thuê máy thi công, mua dịch vụ bên ngoài…)
Hàng ngày, khi chứng từ gốc từ các đơn vị, kế toán vào bảng kê khai chi phí sản xuất từng tháng đồng thời vào sổ quỹ những chứng từ cần thiết Cuối
mỗi tháng số liệu tổng hợp trên bảng kê chi phí sản xuất này được ghi vào bảng
Chứng từ gốc và bảng tổng hợp chứng từ gốc
Bảng kê chi tiết chi phí phát sinh trong tháng
Bảng cân đối phát sinh
Các báo cáo kế toán
Trang 31kê tổng hợp chi phí
Chi phí phát sinh trong tháng được sử dụng để lập chứng từ ghi sổ đồng
thời phản ánh vào sổ chi phí sản xuất kinh doanh Chứng từ ghi sổ được sử dụng
để ghi sổ cái vào sổ đăng ký chứng từ ghi sổ Bảng cân đối số phát sinh và các
báo cáo tài chính khác được lập từ sổ cái Kết quả tính toán cuối cùng phải đảm
bảo được quan hệ đối chiếu kiểm tra:
- Kết quả tính toán trên cơ sở Sổ cái khớp với trên sổ chi phí sản xuất kinh
doanh
- Tổng số phát sinh nợ và có của tất cả các tài khoản trên bảng cân đối số
phát sinh phải bằng nhau và bằng tổng số tiền phát sinh trên sổ đăng ký chứng từ
ghi sổ
Do đặc điểm sản phẩm xây dựng cơ bản thường có giá trị lớn và thời gian
xây dựng kéo dài nên Công ty thực hiện quyết toán theo năm
II THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY
1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Do yêu cầu mở rộng phạm vi sản xuất kinh doanh, tăng giá tổng sản
lượng và lợi nhuận, tạo việc làm đều đặn và thu nhập ổn định cho cán bộ công
nhân viên, Công ty không chỉ thực hiện các công trình đã thắng thầu trọn gói
(chìa khoá trao tay) mà còn nhận thêm hoặc hoàn thiện một số công việc của các
công trình khác
Vì vậy, tuỳ theo yêu cầu của từng hợp đồng đã ký với khách hàng thoả
thuận sản phẩm là công trình hay hạng mục công trình từ đó xác định đối tượng
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty
Trong các doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các
công trình, hạng mục công trình
Trong chuyên đề này, em xin trình bày phương pháp kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty xây dựng và phát triển nông thôn 9
qua các hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công trình
Công trình này được đấu thầu theo phương thức trọn gói Kỳ tính giá được xác
Trang 32định theo tháng năm Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí cho từng hạng mục
công trình từ khi công trình khởi công đến khi hoàn thiện Như vậy chi phí phát
sinh cho mỗi hạng mục công trình là gái thành của hạng mục công trình đó
2 Phương pháp kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
tại Công ty xây lắp và tư vấn thiết kế
2.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Nguyên vật liệu trực tiếp là khoản mục chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong
toàn bộ chi phí sản xuất của công trình
Ở công trình Toà án tỉnh Hà Nam, chi phí nguyên vật liệu là
1.023.832.587 đồng, chiếm 78,8% trong tổng chi phí 1.300.726.534 đồng của
toàn bộ công trình Bao gồm:
+ Nguyên vật liệu chính : Là đối tượng lao động chủ yếu tạo nên sản
phẩm như gạch, gỗ, xi măng, sắt thép…
+ Nguyên vật liệu phụ: có tác dụng làm tăng chất lượng sản phẩm, phục
vụ công tác quản lý như giẻ, sơn, xà phòng
Các loại nguyên vật liệu chính, phụ khi tham gia vào quá trình sản xuất bị
tiêu hao toàn bộ và chuyển giá trị một lần vào chi phí trong kỳ
Công trường "Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam" tính giá xuất kho nguyên vật
liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp thực tế đích danh Khi xuất kho vật
liệu, dụng cụ thuộc lô hàng nào thì căn cứ vào số lượng xuất kho và đơn giá
nhập kho của lô hàng đó để tính giá thực tế xuất kho Doanh nghiệp tính thuế
GTGT theo phương pháp khấu trừ nên giá nhập và xuất kho của các nguyên vật
liệu, công cụ, dụng cụ không bao gồm thuế GTGT
Theo nguyên tắc, khi phát sinh nhu cầu vật liệu ở công trình, tổ trưởng
các đội xây dựng sẽ lập phiếu lĩnh vật tư sau khi được ký duyệt sẽ xuống kho vật
tư để lĩnh Ở công ty ngoài một lượng vật liệu nhất định để phòng thiếu hụt kho,
công ty thường lợi dụng sự sẵn có của cơ chế thị trường để giảm thiểu chi phí
bảo quản dự trữ bằng cách ký hợp đồng đảm bảo trước với các cơ sở cung cấp
vật liệu, khi cần mới nhập về và xuất ngay Vì vậy, vật liệu thường tính theo giá
thực tế đích danh và sát với ngày nhập cũng như ngày xin lĩnh Tuỳ thuộc vào
Trang 33tiến độ thi công ở công trường, tổ trưởng các đội xây dựng sẽ xác định thời điểm
nhu cầu phát sinh nhu cầu vật liệu và lập "Phiếu xin lĩnh vật tư" Như vậy, vật
liệu nhập về thường đúng số lượng, chủng loại yêu cầu trong phiếu xin lĩnh vật
tư kèm theo cả hoá đơn thanh toán
Thủ kho kiểm tra số liệu nhập về theo phiếu lĩnh vật tư, lập phiếu xuất
kho rồi giao vật liệu cho đội xây dựng Phiếu xuất kho được lập như sau:
Đơn vị: Công trường Toà án Hà Nam Mẫu số:
PHIẾU XUẤT KHO
Ngày 15 tháng 8 năm 2001
Họ tên người nhận hàng: Quyền Đình La Số: 14
Lý do xuất kho: Thi công Nợ:
Xuất tại kho: Công trường Có
STT Tên nhãn hiệu quy
Số lượng Đơn
giá (VNĐ
Thành tiền (VNĐ)
Theo
CT
Thực xuất
Trang 34Phiếu xuất kho và hoá đơn thanh toán tiền mua vật liệu được gửi về
phòng kế toán Kế toán sử dụng phiếu xuất kho làm chứng từ gốc lập bảng kê
xuất vật tư và sử dụng hoá đơn thanh toán tiền mua vật liệu làm chứng từ gốc để
lập bảng kê chi phí sản xuất hàng tháng
Công ty XD&PTNT9 BẢNG KÊ CHI PHÍ SẢN XUẤT
Tên hạng mục công trình: Toà án tỉnh Hà Nam
93 14/8 TT tiền vật tư theo HĐ 078762 48.844.000 … 48.844.000 …
95 17/8 TT tiền vật tư theo HĐ 078762 56.084.740 … 56.084.740
Cộng 14.838.870 … 106.928.740
Thủ trưởng đơn vị Người lập
Cuối mối tháng, số liệu tổng hợp khoản mục chi phí vật tư của bảng kê
chi phí sản xuất sẽ được ghưi vào bảng tổng hợp chi phí sản xuất khoản mục đó
Căn cứ vào chứng từ gốc: phiếu xuất kho, hoá đơn GTGT… kế toán lập
chứng từ ghi sổ cho các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại công trình Toà án Hà
Nam vào ngày cuối cùng của tháng (31 tháng 8 năm 2001) Cụ thể như sau:
công trình Toà án Hà Nam
621 152 106.928.74
0
0 Người lập Kế toán trưởng
Trang 35xây lắp và tư vấn thiết kế
Đơn vị: Thanh Trì - Hà Nội