FDI là một loại hình đầu tư quốc tế, trong đó chủ đầu tư của một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một nền kinh tế khác để sở hữuhoặc điều hành, kiểm soát đối tượng
Trang 1BỘ GÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: VAI TRÒ CỦA VỐN FDI ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG
SVTH - NHÓM 4:
***
2016 - 2017MỤC LỤC
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, với xu hướng toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, mục tiêu năm
2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại đang cận kề Việc pháthuy những tiềm năng có sẵn để phát huy nội lực và tranh thủ những điều kiện từbên ngoài để đẩy mạnh ngoại lực là hết sức quan trọng và cần thiết, không chỉ đốivới Việt Nam (nước đang phát triển) mà đối với cả những nước phát triển, APEC,NICs
Riêng với Việt Nam, sau 31 năm đổi mới và 30 năm thu hút vốn đầu tưnước ngoài (tính từ 1987 sau khi ra Luật Đầu tư năm 1987), chúng ta đã đạt đượcnhững thành tựu đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, vớitrình độ phát triển kinh tế chưa cao, tích lũy vốn trong nước còn thấp, nội lựcchưa được phát huy mạnh mẽ, xuất khẩu tăng cao nhưng chưa thật sự hiệu quảtrong khai thác và chế biến, có nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập thấp” Cho thấy,Việt Nam cần thu hút và sử dụng hiệu quả hơn nữa “cú huých” từ bên ngoài này
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu về vốn FDI, thực trạng hoạtđộng đầu tư của nguồn vốn này ở Việt Nam; tổng kết, đánh giá kết quả đạt được
Trang 3cũng như một số hạn chế và từ đó đưa ra những giải pháp để hoạt động của kênhnày hiệu quả hơn là một vấn đề quan trọng để nhìn nhận lại và từ đó hướng vềtương lai với những bước đột phá hơn.
1 Cơ sở lý luận của FDI
1.1 Khái quát chung về FDI
1.1.1 Khái niệm FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) ngày nay đãtrở thành hình thức đầu tư phổ biến và đã được định nghĩa bởi các tổ chức kinh tếquốc tế cũng như luật pháp của các quốc gia
FDI là một loại hình đầu tư quốc tế, trong đó chủ đầu tư của một nền kinh
tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một nền kinh tế khác để sở hữuhoặc điều hành, kiểm soát đối tượng họ bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích lợi nhuậnhoặc các lợi ích kinh tế khác
FDI là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nước
đi đầu tư sang nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệpnhằm mục đích kinh doanh có lãi
Trang 4Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng có định nghĩa về FDI như sau: “Đầu
tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.”
Như vậy, từ khái niệm trên, FDI, xét theo định nghĩa pháp lý của ViệtNam, là hoạt động bỏ vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ ViệtNam với điều kiện họ phải tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó
1.1.2 Nguồn gốc và bản chất của FDI
Thứ nhất, nguồn gốc:
FDI xuất hiện do những nguyên nhân sau:
- Sự chênh lệch của vốn giữa các nước: có những nước thì thừa vốn trongkhi đó một số nước khác lại thiếu vốn
- Chu kỳ sản phẩm: đối với các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tếthì chu kỳ sống của sản phẩm này gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sản phẩmmới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa Có ý kiến chorằng sản phẩm mới được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới đượcxuất khẩu ra thị trường nước ngoài Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩmmới làm nhu cầu thị trường trong nước tăng lên nên nước nhập chuyển sang sảnxuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹthuật của nước ngoài Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trườngtrong nước bão hòa, nhu cầu lại xuất hiện Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và
do đó dẫn đến sự hình thành FDI
- Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia: các công ty đa quốc gia cónhững lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua
Trang 5những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nướcngoài Khi chọn địa điểm đầu tư, họ sẽ chọn nơi nào có các điều kiện về lao động,đất đai, chính trị … cho phép họ phát huy hết các lợi thế đặc thù.
- Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại: trong thương mạithường xuất hiện những xung đột thương mại song phương Ví dụ: Nhật Bảnthường bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do có thặng dư thương mại, còn cácnước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương Vì thế Nhật Bản đãđối phó bằng cách tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó Họ sản xuấtngay tại Mỹ và Châu Âu để giảm chi phí xuất khẩu Họ còn đầu tư vào các nướcthứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mĩ và Châu Âu
- Khai thác chuyên gia và công nghệ: Các nước kém phát triển nếu có điềukiện về vốn họ sẽ đầu tư vào các nước có kinh tế phát triển hơn, để từ đó thu hútđược các chuyên gia công nghệ mới, khai thác được tiềm năng của chúng, thu vềnhững sản phẩm mang tính hiện đại, khoa học
- Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên: để có những nguồn nguyên liệucần thiết, nhiều công ty đa quốc gia đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyênphong phú mà đất nước đó khan hiếm về tài nguyên này
Thứ hai, bản chất:
Trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại, FDI là loại vốn có nhiều ưu điểmhơn so với các loại vốn khác (VD: ODA,…) nhất là đối với các nước đang pháttriển, khi khả năng sản xuất đạt hiệu quả còn thấp thì hiệu quả càng rõ rệt
Về bản chất, FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên là nhà đầu tư vàmột bên khác là nước nhận đầu tư
Đối với nhà đầu tư
Khi quá trình tích tụ tập trung vốn đạt tới trình độ mà “mảnh đất” sản xuấtkinh doanh truyền thống của họ đã trở nên chật hẹp đến mức cản trở khả năng
Trang 6hiệu quả của đầu tư, nơi mà ở đó nếu đầu tư vào thì họ sẽ không thu được lợinhuận như mong muốn Trong khi ở một số quốc gia khác lại xuất hiện nhiều lợithế mà họ có thể khai thác để thu lợi nhuận cao hơn nơi mà họ đang đầu tư Cóthể nói đây chính là yếu tố cơ bản nhất thúc đẩy các nhà đầu tư chuyển vốn củamình đầu tư vào nước khác Hay nói cách khác, việc tìm kiếm, theo đuổi lợinhuận cao hơn và bảo toàn độc quyền hay lợi thế cạnh tranh là bản chất, là động
cơ, là mục tiêu cơ bản xuyên suốt của các nhà đầu tư Đây là loại hình mà bảnthân nó rất có khả năng để thực hiện việc kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản phẩm”,
“chu kỳ tuổi thọ kĩ thuật” mà vẫn giữ được độc quyền kĩ thuật, dễ dàng xâm nhậpthị trường nước ngoài mà không bị cản trỏ bởi các rào chắn
Khai thác được nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như giá nhân công rẻcủa nước nhận đầu tư Phải nói rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài là “lối thoát lýtưởng” trước sức ép xảy ra “sự bùng nổ phá sản” do những mâu thuẫn tất yếu củaquá trình phát triển Ta nói nó là lý tưởng vì chính lối thoát này đã tạo cho các nhàđầu tư tiếp tục thu lợi và phát triển, có khi còn phát triển với tốc độ cao hơn.Thậm chí khi nước nhận đầu tư có sự thay đổi chính sách thay thế nhập khẩu sangchính sách hướng sang xuất khẩu thì nhà đầu tư vẫn có thể tiếp tục đầu tư dướidạng mở các chi nhánh sản xuất các bộ phận, phụ kiện,… để xuất khẩu trở lại đểphục vụ cho công ty mẹ, cũng như các thị trường mới… Đối với các nước đangphát triển, dưới con mắt của các hà đầu tư, trong những năm gần đây, các nướcnày đã có sự cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng, điều kiện kinh tế, trình độ và khảnăng phát triển của người lao động, hệ thống pháp luật, dung lượng thị trường,một số nguồn tài nguyên … cũng như sự ổn định về chính trị … những cải thiệnnày đã tạo sự hấp dẫn nhất định đối với các nhà đầu tư
Tóm lại, thực chất cơ bản bên trong của nhà đầu tư trong hoạt động đầu tưtrực tiếp nước ngoài bao gồm: duy trì và nâng cao hiệu quả sản xuất của chủ đầu
tư (vấn đề vốn, kỹ thuật, sản phẩm… khai thác các nguồn lực và xâm nhập thịtrường của các nước nhận đầu tư; tranh thủ lợi dụng chính sách khuyến khích của
Trang 7các nước nhận đầu tư; thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp để thực hiện các ý đồkinh tế (hoặc phi kinh tế) mà các hoạt động khác không thực hiện được).
Đối với các nước nhận đầu tư
Đây là những nước đang có một số lợi thế mà nó chưa có hoặc không cóđiều kiện để khai thác Các nước nhận đầu tư thuộc loại này thường là các nước
có nguồn tài nguyên tương đối phong phú, có nguồn lao động dồi dào và giá nhâncông rẻ, thiếu vốn, thiếu kĩ thuật, thiếu công nghệ tiên tiến và ít có khả năng tổchức sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao… Số này phần lớn thuộc các nướcđang phát triển
Các nước nhận đầu tư dạng khác đó là các nước phát triển, đây là các nước
có tiềm lực kinh tế cao, phần lớn là các nước có vốn đầu tư ra nước ngoài Cácnước này có đặc điểm là cơ sở hạ tầng kĩ thuật tốt, họ đã và đang tham gia có hiệuquả vào quá trình phân công lao động quốc tế hoặc là thành viên của các tổ chứckinh tế hoặc các tập đoàn kinh tế lớn Họ nhận đầu tư trong mối liên kết để giữquyền chi phối kinh tế thế giới
Nói chung, đối với nước tiếp nhận đầu tư, cho dù ở trình độ phát triển caohay thấp, số vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài do sự khéo léo “mời chào” hay docác nhà đầu tư tự tìm đến mà có, thì đầu tư nước ngoài cũng thường có sự đónggóp nhất định đối với sự phát triển của họ Đa phần, các dự án đầu tư trực tiếpnước ngoài thực sự đóng vai trò là điều kiện, là cơ hội, là cửa ngõ giúp thoát khỏitình trạng một nước nghèo, bước vào quỹ đạo công nghiệp hóa
Tóm lại, đồng vốn của các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia lớn xuất
ra và hoạt động ngày càng tinh vi và phức tạp hơn, nhưng hiệu quả đưa lại thườngđạt ở mức cao hơn Quan hệ của nước tiếp nhận đầu tư với nhà đầu tư trong hoạtđộng đầu tư trực tiếp nước ngoài của các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gialớn thường tồn tại đan xen giữa hợp tác và đấu tranh ở mức độ ngày càng caohơn
Trang 81.1.3 Đặc điểm của FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại tài
sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh
tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi đầu tư
Thứ hai, được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp
mới (liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lạicác chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặctiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp
Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc
cùng sở hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực tiếphoạt động của doanh nghiệp
Thứ tư, là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan hệ
thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính trịgiữa các nước, các chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao
Thứ năm,nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận độngcủa dòng vốn đầu tư
Thứ sáu, FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước và
đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào mộtnước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó
Thứ bảy, FDI chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện.
Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động FDItrên toàn thế giới Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận FDI diễn ra đã đượckhoảng 30 năm và những đặc điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét Chính những
Trang 9đặc điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi trường và chính sách thu hút FDI phảichú ý để vừa thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư, vừa bảo đảm mối quan hệ cân đốigiữa kênh đầu tư FDI với các kênh đầu tư khác của nền kinh tế.
1.1.4 Phân loại FDI
Có rất nhiều tiêu chí để phân loại FDI như: theo hình thức xâm nhập, theomục đích đầu tư, theo định hướng của nước nhận đầu tư…vv Tuy nhiên mộttrong những tiêu chí mà chúng ta thường gặp nhất đó chính là phân loại theo hìnhthức pháp lý
Theo hình thức pháp lý, vốn FDI được phân thành ba loại: thứ nhất là100% vốn đầu tư nước ngoài, thứ hai là liên doanh, thứ ba là hợp đồng hợp táckinh doanh
Thứ nhất, hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức
truyền thống và phổ biến của FDI Hiện nay, các công ty xuyên quốc gia thườngđầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và họ thường thành lậpmột công ty con của công ty mẹ xuyên quốc gia
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tưnước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước nhậnđầu tư) Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu
tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại Doanh nghiệp 100%vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoàitại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinhdoanh
Ưu điểm của hình thức này là nước chủ nhà không cần bỏ vốn, tránh đượcnhững rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được tiền thuê đất, thuế, giải quyết việclàm cho người lao động Mặt khác, do độc lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu
Trang 10tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh tranh, họ thường đầu tư công nghệmới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao, góp phầnnâng cao trình độ tay nghề người lao động Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nướcchủ nhà khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soátđược đối tác đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận.
Thứ hai, thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
và ngoài nước Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước đếnnay Hình thức này cũng rất phát triển ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hútFDI Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại trên
cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa Bên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên hoặccác Bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước sở tại
Hình thức doanh nghiệp liên doanh có những ưu điểm là góp phần giảiquyết tình trạng thiếu vốn, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triểnkinh tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạnghóa sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệmquản lý của nước ngoài; Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểmsoát được đối tác nước ngoài Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ đểthâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thịtrường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập vào nềnkinh tế quốc tế Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiệnmâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể có sự khácnhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ,luật pháp Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng lực,trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong doanh nghiệp liên doanh yếu
Thứ ba, đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh Hợp đồng hợp
tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinhdoanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân
Trang 11Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn,công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sởtại, thu lợi nhuận tương đối ổn định; và do không phải thành lập pháp nhân nêntránh được các thủ tục pháp lý rườm rà, nên thường được áp dụng cho các nướcđang phát triển bắt đầu có chính sách thu hút FDI Tuy nhiên, nó có nhược điểm
là không thành lập pháp nhân dễ gặp rủi ro, không phù hợp với dự án dài hạn
1.2 Một số nhân tố tác động đến FDI
Có nhiều nhân tố tác động đến thu hút FDI, song có một số nhóm nhân tố
ẩn nhiều rủi ro khiến các nhà đầu tư dè dặt và quan ngại trong bảo toàn vốn và thunhập Tăng trưởng kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng nhất tác độngtích cực đến việc thu hút vốn FDI của một quốc gia
Thứ hai, chất lượng cơ sở hạ tầng phải đầy đủ và đồng bộ: Hạ tầng cơ sởbao gồm hạ tằng cơ sở vật chất- kỹ thuật và hạ tầng cơ sở kinh tế- xã hội Hệthống hạ tầng cơ sở liên quan đến cả các yếu tố đầu vào lẫn đầu ra của hoạt độngsản xuất kinh doanh, vì vậy nó là điều kiện nền tảng để các nhà đầu tư có thể khaithác lợi nhuận Nếu hạ tầng cơ sở yếu kém và thiếu đồng bộ thì nhà đầu tư rất khó
để triển khai dự án, chi phí đầu tư tăng cao, quyền lợi của nhà đầu tư không đượcbảo toàn
Thứ ba, độ mở của nền kinh tế, khuyến khích xuất khẩu và sự ổn địnhchính trị; nền kinh tế càng mở cửa thì mức độ giao thương, buôn bán càng mạnh,các doanh nghiệp sẽ có thị trường xuất nhập khẩu lớn hơn và có nhiều cơ hội hơntrong đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
Trang 12Thứ tư, quy mô và tính chất thị trường nội địa: Đây là một trong nhữngyếu tố tác động đến quy mô đầu tư và tổng lợi nhuận của nhà đầu tư Để thu hútvốn FDI ngoài tiềm năng đông dân thì việc cải thiện đời sống, tăng thu nhập, tăngsức mua của cư dân trong nước cũng có tác động rất lớn trong thu hút FDI Bêncạnh đó việc gia nhập các liên kết kinh tế khu vực và thế giới cũng tạo ra thịtrường rộng mở cho các nhà đầu tư và cũng là nhân tố tác động đến việc quyếtđịnh địa bàn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.
1.3 Tác động của FDI tới sự phát triển kinh tế
FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Khu vực FDI là một thành phần kinh tế,đóng góp vào quá trình tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế Một mặt, FDI bổsung nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế thúc đẩy phát triển kinh tế về phíacầu (cầu lao động, yếu tố nhập lương vv…) Mặt khác, thông qua các hình thứckinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế về phía cung (sản phẩm, dịch vụ vv…)
Từ năm 1991- 1995, GDP tăng liên tục qua các năm với tốc độ tăng bìnhquân mỗi năm 8,2% và tỷ trọng đóng góp của vốn FDI thực hiện trong GDP bìnhquân mỗi năm 4,7% Trong 5 năm 1966- 2000, GDP bình quân hàng năm tăng6.96% và tỷ trọng đóng góp của vốn FDI thực hiện trong GDP bình quân mỗinăm là 10,4% Trong thời kỳ 2001- 2005, GDP tăng 7,5%/năm và tỷ trọngFDI/GDP là 14,6%/năm Trong 2 năm 2008 và 2009, GDP tăng 5,78%/năm và tỷtrọng FDI/GDP là 18,14%/năm
FDI góp phần quan trọng trong việc làm tăng năng suất lao động, cải thiệnnguồn nhân lực Đến nay, khu vực có vốn FDI đã tạo ra việc làm cho trên 1.5triệu lao động và hàng triệu lao động gián tiếp khác Theo kết điều tra của ngânhàng thế giới (WB) cứ 1 lao động trực tiếp sẽ tạo việc làm cho từ 2- 3 lao độnggián tiếp phục vụ trong cộng đồng dân cư, góp phần tăng GDP/đầu người/năm
FDI đóng góp một phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước
- Đối với các nước đầu tư:
Trang 13Đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sảnxuất ở các nước nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuậncủa vốn đầu tư và xây được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phảichăng
Mặt khác đầu tư ra nước ngoài giúp tăng sức mạnh kinh tế và nâng cao uytín chính trị Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ởnước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh đượchàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước
- Đối với nước nhận đầu tư:
Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giảiquyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp và lạm phát… Qua FDIcác tổ chức kinh tế nước ngoài mua lại những công ty doanh nghiệp có nguy cơphá sản, giúp cải thiện tình hình thanh toán và tạo công ăn việc làm cho người laođộng
FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế đểcải thiện tình hình bội chi ngân sách, tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sựphát triển kinh tế và thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏikinh nghiệm quản lý của các nước khác
Đối với các nước đang phát triển: FDI giúp đẩy mạnh tốc độ phát triểnkinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động,giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này
FDI giúp các nước đang phát triển khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài.Nhờ vậy mà nhu cầu phát triển to lớn với nguồn tài chính khan hiếm được giảiquyết, đặc biệt là trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Theo sau FDI là máy móc thiết bị và công nghệ mới giúp các nước đang pháttriển tiếp cận với khoa học- kỹ thuật mới Quá trình đưa công nghệ vào sản xuất
Trang 14giúp tiết kiệm được chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các nước đangphát triển trên thị trường quốc tế.
Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế, xã hội hiện đại được dunhập vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong nước bắt kịpphương thức quản lý công nghiệp hóa, hiện đại hóa; lực lượng lao động quen dầnvới phong cách làm việc công nghiệp cũng như hình thành dần đội ngũ những nhàdoanh nghiệp giỏi
FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa nước ngoài
và đi kèm với nó là những hoạt động Marketing được mở rộng không ngừng
2 Tình hình thu hút và vai trò của vốn FDI ở Việt Nam hiện nay
2.1 Tình hình thu hút vốn FDI ở Việt Nam hiện nay
Sau 30 năm thu hút vốn FDI, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhấtđịnh với những giai đoạn đầy biến động trong lĩnh vực này Đặc biệt là sau khiViệt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), FDI đã không ngừng tăngtrưởng một cách mạnh mẽ và đỉnh điểm là đến năm 2008, FDI đã đạt đến hơn 64
tỷ USD; và đến ngày 04/02/2016 bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước,trong đó có Việt Nam đã chính thức ký kết để xác thực lời văn Hiệp định Đối tácxuyên Thái Bình Dương (TPP) tại Aucland, New Zealand (trước đó Việt Nam đãtuyên bố gia nhập TPP vào 13/11/2010) với nhiều dự đoán sẽ tạo nên cú huýchlớn mạnh cho dòng chảy FDI đổ vào Việt Nam mặc cho sự kiện Mỹ rút khỏi tổchức này vào ngày 23/01/2017
Năm 2014 tuy có nhiều biến động về kinh tế, chính trị trên thế giới vàtrong nước nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanhnghiệp nên nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt được những kết quả khả quan, đặc biệt
là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong năm 2014, tính từ 1/1/2014đến 15/12/2014:
Trang 15- Về số dự án và số vốn đăng ký, theo số liệu của Hệ thống thông tin về Đầu tưnước ngoài, cả nước ta có 1588 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp giấychứng nhận đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 15,64 tỷ USD, tăng 9,6% so vớicùng kỳ năm 2013 Ngoài ra, có 594 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốnđăng ký tăng thêm là 4,58 tỷ USD, bằng 62,4% so với cùng kỳ năm 2013.
Tính chung cả cấp mới và tăng vốn, trong năm 2014, các nhà đầu tư nướcngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 20,23 tỷ USD, bằng 93,5% so với cùng kỳ
2013 và tăng 19% so với kế hoạch năm 2014 (17 tỷ USD)
- Về quy mô dự án, các dự án quy mô lớn trong năm 2014 còn chiếm tỷ lệ nhỏ Cảnăm 2014 chỉ thu hút được 4 dự án có quy mô vốn trên 1 tỷ USD, 22 dự án trên
100 triệu USD, 24 dự án trên 50 triệu USD, 157 dự án trên 10 triệu USD Còn lạicác dự án dưới 10 triệu USD (chiếm 87% tổng dự án cấp mới năm 2014) Quy môvốn trung bình của dự án ĐTNN trong năm 2014 khoảng 9,8 triệu USD, thấp hơn
so với quy mô vốn bình quân dự án ĐTNN nói chung là 14 triệu USD
Đáng chú ý là 4 dự án có quy mô vốn đầu tư trên 1 tỷ USD:
+ Công ty TNHH Samsung Electronics tại Thái Nguyên, sản xuất lắp rápgia công các sản phẩm điện, điện tử, vốn đăng ký: 3 tỷ USD
+ Công ty TNHH điện tử Samsung CE Complex tại thành phố Hồ ChíMinh, nghiên cứu sản xuất thiết bị điện tử công nghệ cao, các phần mềm tiên tiến,vốn đăng ký: 1,4 tỷ USD
+ Công ty TNHH Dewan International tại Khánh Hòa, xây dựng, phát triểnkhu vực biển chính của Nha Trang, vốn đăng ký: 1,25 tỷ USD
+ Công ty TNHH Samsung Display tại Bắc Ninh, sản xuất, lắp ráp, giacông các sản phẩm màn hình smartphone, máy tính bảng, vốn đăng ký: 1 tỷ USD
Với 4 dự án lớn có quy mô vốn đăng ký trên 1 tỷ USD là dấu hiệu khôngthực sự khả quan cho việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Tuy