Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đúng vai trò quyết định của nhân dântrong cuộc vận động cách mạng giành lại chính quyền cũng như trong chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.. B
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
-BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: NGHIỆP VỤ NGOẠI GIAO
ĐỀ TÀI:
TRONG THỜI KÌ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1946-1954)
Cán bộ giảng dạy :
Trang 2Tháng 11
Trang 3nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, am hiểu sâu sắc truyền thống kinh nghiệm đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc: “Cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc”, hay “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đúng vai trò quyết định của nhân dân
trong cuộc vận động cách mạng giành lại chính quyền cũng như trong chiến tranh giải phóng dân tộc,
bảo vệ Tổ quốc “Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”1 Bêncạnh đó dù ngoại giao có vai trò quan trọng nhưng Hồ Chí Minh cho rằng cần phài có sự liên kết chặtchẽ với các hoạt động chính trị, quân sự…Với đường lối đối ngoại độc lập, hòa bình, hữu nghị; vớiphương pháp và phong cách ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt, hoạt động đối ngoại của Đảng ta và Chủtịch Hồ Chí Minh trong những năm 1946-1954 đã góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc đấutranh bảo vệ chính quyền cách mạng, đưa con thuyền Việt Nam vượt mọi thác ghềnh, giành thắng lợihuy hoàng trong cuộc kháng chiến, xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Để tìm hiểu rõ hơn về những chính sách trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh cùng những kết
quả, thành tựu hay mặt hạn chế mà tư tưởng đem lại, nhóm em đã quyết định chọn đề tài “Tư tưởng
ngoại giao Hồ Chí Minh thời kì kháng chiến chống Pháp (1946-1954)”
Trang 42 Ý nghĩa thực tiễn
Ngày nay với việc thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh vào trong đường lối đối ngoại, các chínhsách ngoại giao đã giúp Việt Nam ngày càng phát triển hơn không những về mặt kinh tế mà còn về vănhóa, xã hội, chính trị, quân sự…Giúp Việt Nam gia nhập thêm vào các tổ chức hợp tác quốc tế, đaphương hóa các mối quan hệ với các nước trên thế giới, chủ động hội nhập kinh tế, là đối tác tin cậyvới bạn bè quốc tế Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được ắt hẳn cũng gặp phải không ít khókhăn và thách thức bởi tình hình thế giới luôn nảy sinh những vấn đề mới, không ngừng tiếp thu cáimới để phát triển Điều này dẫn đến việc nước ta không thể theo kịp guồng quay đổi mới này, gây ranhững ứ đọng, khủng hoảng trong chính sách phát triển đất nước Hay những vấn đề như chỉ hội nhậpkinh tế quốc tế để phát triển nhanh vượt bậc hay cả những lĩnh vực khác, phương thức tập hợp lựclượng, quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ hay hội nhập quốc tế…Có thể nói tư tưởngđối ngoại, phương pháp, phong cách nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh là một trong các nhân tố đảmbảo thắng lợi của chúng ta trong công tác đối ngoại Vì vậy, việc nghiên cứu toàn diện hơn về vấn đềnày có ý nghĩa thực tiễn, ý nghĩa lý luận hết sức quan trọng
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận để có thể đưa ra được những kết quả chính xácnhất cho mục tiêu nghiên cứu, luận nhằm giúp đề tài nhìn nhận được vấn đề vừa cụ thể, vừa toàn diện,đảm bảo được độ tin cậy của kết quả nghiên cứu
Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:
Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu là một trong những phương pháp chủ đạo của đề tài.Thông qua khai thác thông tin từ các nguồn tài liệu, các vấn đề cơ bản thuộc nội dung mục tiêu nghiêncứu sẽ được kiểm chứng và làm rõ
Nghiên cứu sử dụng các tài liệu, bài báo, nghiên cứu, các nguồn cơ sở trực tuyến về Tư tưởng
Hồ Chí Minh, lịch sử ngoại giao Việt Nam ở các thời kỳ
Bằng phương pháp này, đề tài đã phân tích, tổng hợp, chọn lọc các tài liệu tham khảo chuyênngành, luận văn, các đề tài nghiên cứu … để rút ra được những thông tin cần thiết có thể áp dụng cũngnhư các lý thuyết nền tảng để có thể thực hiện đề tài
Trang 54 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài lần này, Tư tưởng Hồ Chí Minh là đối tượng nghiên cứu
5 Mục tiêu chọn đề tài
Mục tiêu nghiên cứu đề tài mà nhóm đề ra là tìm hiểu rõ hơn về quá trình thực hiện ngoại giao
và cách thức ngoại giao của Hồ Chí Minh với các nhà lãnh đạo nước ngoài khác; hiểu rõ hơn về sựnghiệp và cuộc đời của Người; có thêm những hiểu biết sâu sắc về đường lối ngoại giao của Hồ ChíMinh với các thế lực thù địch trong và ngoài nước thời kỳ này, cùng với sự góp phần của ngoại giaođối với những chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta Qua đó, nhóm có thể rút ra được phương thức ngoạigiao vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa đấtnước hiện nay của nước ta
Trang 6NỘI DUNG PHẦN 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH
1.1 Đặc điểm hình thành tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh
Cuộc đời hoạt động cứu nước của Hồ Chí Minh là những năm tháng hoạt động cách mạng vàhoạt động quốc tế liên tục Bắt đầu đi tìm đường cứu nước là bắt đầu hoạt động quốc tế, đến khi vềnước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Người hoạt động ngoại giao không mệt mỏi cho đến lúc đi xa
Nghiên cứu quá trình hoạt động quốc tế và ngoại giao của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể nhận ranhững đặc điểm sau đây
1.1.1 Trên chặng đường dài đi tìm chân lý, Người đã đi qua rất nhiều nước khắp các châu lục Âu, Mỹ, Á, Phi.
Đó là các nước có nền văn hóa, trình độ phát triển và chế độ chính trị khác nhau Người học tậptiếng của các nước đó ngay cả tại những nước mà Người chỉ lưu hành lại thời gian ngắn như Đức, Ý,Thái Lan, Ngôn ngữ là công cụ để quan hệ quốc tế, để kết bạn, trước hết là để nghiên cứu Những bàiviết nghiên cứu của Người về những quốc gia này chứng tỏ sự hiểu biết đều dựa trên cơ sở nghiên cứu
có chiều sâu của Người Quá trình quan sát, nghiên cứu đã giúp Người hiểu thế giới, hiểu các nước lớn,các nước nghèo, từng bước hình thành nhân sinh quan và thế giới quan rộng lớn Quá trình tìm tòinghiên cứu dẫn Người đến việc viết báo và viết sách; viết để tố cáo chủ nghĩa thực dân, để tuyên truyềncách mạng Giáo sư Trần Thu Hà viết: " Có thể thấy ở Hồ Chí Minh một con ong thiêng liêng vĩ đạibiết tìm hút nhụy của các văn hóa Đông Tây, làm ra mật Việt Nam-Hồ Chí Minh."
1.1.2 Hoạt động quốc tế ở nước ngoài hơn ba mươi năm với nhiều cương vị khác nhau, Người có những tiếp xúc rộng rãi.
Thời kỳ đầu, với tư cách là người thanh niên yêu nước đi tìm tòi học hỏi, Người tiếp xúc vớitầng lớp lao động, dân nghèo, những người cùng cảnh ngộ Người cũng tiếp xúc với các tổ chức cáchmạng, các nhà cách mạng Người rất chú ý gặp gỡ các nhà trí thức, văn nghệ sĩ Tại Pháp, sau chiếntranh thế giới thứ nhất, Người hoạt động với tư cách nhà cách mạng yêu nước có xu hướng xã hội Ởđây, Người quen biết rất rộng rãi, đặc biệt là với các chính khách và trí thức có tên tuổi Từ đó, Người
đã phát triển và có thêm nhiều mối quan hệ quốc tế không chỉ ở Pháp mà còn ở Liên Xô, TrungQuốc,
Hơn ba mươi năm hoạt động quốc tế với nhiều cương vị khác nhau, tiếp xúc rộng rãi với mọigiới, đặc biệt là với các nhân vật quốc tế có kiến thức, trí tuệ tầm cỡ, Hồ Chí Minh đã vun đắp trí tuệ,bản lĩnh, phong cách để trở thành một nhà văn hóa lớn, một lãnh tụ cách mạng, một nhà ngoại giao lỗi
Trang 7mạng của Việt Nam, của nước Việt Nam chiến đấu vì độc lập tự do Nói ngoại giao là tìm bạn, liên kếtđồng minh thì Hồ Chí Minh bắt đầu ngoại giao từ rất sớm, ngay từ khi trở thành chiến sĩ cách mạng.
1.1.3 Một đặc điểm lớn trong hoạt động quốc tế và ngoại giao của Hồ Chí Minh là hầu như suót đời, Người luôn ở vị thế khó khăn, sự nghiệp Người theo đuổi – cách mạng Việt Nam – cũng luôn gian truân chống kẻ thù mạnh.
Hồ Chí Minh hoạt động quốc tế và làm ngạoi giao sáu mươi năm thì hơn ba mươi năm ở cương
vị chiến sĩ cách mạng và gần ba mươi năm là lãnh tụ cách mạng, lãnh đạo dân tộc và quốc gia Trongnhững năm hạot động ở Quốc tế Cộng sản, Người tìm chỗ dựa và phục tùng sự chỉ đạo của Quốc tế.Lúc này trong Quốc tế, trào lưu khuynh tả với các quan điểm đấu tranh giai cấp đè nặng Hồ Chí Minhrất khó khăn trong việc tranh thủ Quốc tế Cộng sản ủng hộ đường lối cách mạng giải phóng dân tộc màNgười tìm tòi Người thường bị phê phán là dân tộc chủ nghĩa Người gặp khó khăn lớn ngay cả vớiban lãnh đạo Đảng cộng sản Đông Dương
Từ năm 1934, sau vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, trở về Nga, Người phải trải quannhững năm tháng cam go cay đắng Hai thời kỳ sống ở Trung Quốc, phần lớn thời gian phải hoạt độngtrong vùng dưới quyền kiểm soát của Quốc dân Đảng Trung Hoa, phải luôn tính toán cách thức chechắn cho trong trào ở Hoa Nam
Thời kỳ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, mối quan tâm về quốc tế là tranh thủ sự ủng hộ
và công nhận của Đồng minh, giành thế hợp pháp cho mặt trận Việt Minh Vì mục đích ấy, hai lần vượtbiên, một lần bị cầm tù, một lần chỉ tranh thủ được sự công nhận và hợp tác nhỏ của lực lượng Đồngminh ở địa phương
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, hòa bình chỉ được một thời gian ngắn, Việt Nam bước vào cuộc khángchiến chống Mỹ Trên mặt trận ngoại giao, ngạoi giao non trẻ Việt Nam phải đối chọi với nền ngoạigiao nhà nghề của đế quốc hùng mạnh nhất
Từ sự nhiên nhận những đặc điểm hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể thấyđược sự hình thành và phát triển của tư tưởng nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh gắn liền với cuộc đời
hoạt động cách mạng của Người Và tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh là sản phẩm của tinh thần yêu nước mãnh liệt, bản lĩnh cách mạng kiên cường, trí tuệ uyên bác, kết tinh của truyền thống văn hóa và ngoại giao Việt Nam, hòa quyện với văn háo nhiều dân tộc phương Đông và phương Tây, cũng như kinh nghiệm ngoại giao thế giới cận đại, hiện đại phục vụ sự nghiệp cứu nước, bảo vệ đất nước của nhân dân Việt Nam.
1.2 Những vấn đề tư tưởng, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh
1.2.1 Nội dung tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
Trang 81.2.1.1 Đặt lợi ích dân tộc lên trên hết Xử lý đúng quan hệ dân tộc và quốc tế
Tất cả các nhà cách mạng, các chiến sĩ yêu nước đều phấn đấu vì độc lập dân tộc và đều trântrọng lợi ích dân tộc Hồ Chí Minh, về đối nội, đã giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa dân tộc vớigiai cấp Điều này xuyên suốt từ “Đường Kách Mệnh” năm 1927, “Chính cương vắn tắt”, “Sách lượcvắn tắt” đầu năm 1930 đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 năm 1941
Cũng với tinh thần đó, về đối ngoại Người luôn nghiên cứu tìm tòi xử lý mối quan hệ giữa dântộc và quốc tế trên nguyên tắc đảm bảo lợi ích dân tộc mà nhưng mà vẫn gắn Việt Nam với thế giới,cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vàocách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam liên quan mật thiết với cách mạng Pháp nhưng không phụthuộc vào cách mạng Pháp Ngươi cũng rất từng dự đoán để có thể cách mạng Việt Nam thành côngtrước Cách mạng Pháp Từ khi tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp
và hoạt động của Quốc tế Cộng sản, người vẫn luôn nghiễn ngẫm con đường cách mạng của Việt Nam.Người luôn tuân thủ sự chỉ đạo và phân công của Quốc tế Cộng sản, coi cách mạng Việt Nam nằmtrong phạm trù cách mạng vô sản thế giới nhưng người luôn khẳng định cách mạng Việt Nam là giảiphóng dân tộc Khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, rồi tên Đảng Cộng Sản Việt Nam và cươnglĩnh đầu tiên hội nghị hợp nhất của Đảng đầu năm 1930 không được Quốc tế Cộng sản chấp nhậnngười vẫn kiên trì quan điểm của mình chờ đợi và đấu tranh suốt 15 cho đến khi đường lối cách mạnggiải phóng dân tộc chính thức trở thành đường lối của cách mạng Việt Nam
Từ khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh luôn gắn viện trợ giúp đỡ của quốc tế, của anh embầu bạn nhưng người luôn đề cao tinh thần tự lực, tự cường Người luôn đặt lợi ích của Việt Nam lêntrên hết nhưng Người luôn kiên quyết chống tư tưởng dân tộc vị kỷ, dân tộc hẹp hòi Thậm chí với cảnước thù địch Người cũng tính đến lợi ích của họ, ứng xử độ lượng
Trên chặng đường dài hoạt động quốc tế và ngoại giao Người gặp không ít khó khăn cản trở, cókhi rất nặng nề nhưng Người vẫn thản nhiên nín nhịn, vì lợi ích lớn, cốt “ biến việc lớn thành việcnhỏ”… Suy nghĩ của Người, trước hết và trên hết vẫn là lợi ích của dân tộc…
1.2.1.2 Tìm bạn Tìm đồng minh vận dụng đại đoàn kết trong quan hệ quốc tế tranh thủ ngay cả những người trong hàng ngũ đối phương
Từ lúc xuất dương bước chân vào con đường cứu nước, lúc mới hơn 20 tuổi, Hồ Chí Minh đãsớm tìm bạn và liên kết bạn bè lúc ở Mỹ (1912 – 1913) Người đã kết bạn trong các tổ chức chính trị ,
xã hội, không đơn thuần là bạn nghề nghiệp Tiếp đó đi bất cứ đâu, ở cương vị nào, Người cũng kếtbạn, tham gia các tổ chức gần gũi với mục đích của Người Có lẽ ở Pháp, Nga và Trung Quốc là những
Trang 9mà sau này trở thành những người bạn lớn của Người và của cách mạng Việt Nam, của nước Việt NamDân chủ Cộng hòa.
Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã tính việc tìm kiếm đồng minh Năm 1924, chỉ sau một thời gianngắn đến Nga, người đã nghĩ đến “Để có thể thắng lợi một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương…phải được nước Nga ủng hộ, các Xô viết sẽ cung cấp vũ khí, tiền bạc và các kỹ thuật viên, các binh sĩ,các thủy thủ bản xứ được đào tạo trước đó ở Mátxcơva… “ Người và Đảng ta kiên trì phấn đấu chomục tiêu này Sau cách mạng tháng Tám, trong tình thế từ phía bị bao vây, Người trăn trở “nhưng nếutình hình biến chuyển tới một điểm cao bắt buộc phải tìm kiếm cho được đồng minh, nếu như chẳngtìm được ai, nếu không thế thì Việt Nam sẽ phải đi tới một mình” Sau bốn năm chiến đấu trong phòngvay, mùa xuân 1950, thời cơ đến, Người đi nước cờ quyết định thiết lập quan hệ đồng minh với Liên
Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa tạo bước ngoặt cho kháng chiến chống thực dân pháp
Đi vào kháng chiến chống Mỹ, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, hàng ngũ đồng minh của Việt Nam càng
mở rộng, các nước dân tộc chủ nghĩa, các phong trào giải phóng, phong trào nhân dân thế giới rộng lớncho đến một số nước phát triển đều ủng hộ Việt Nam Hồ Chí Minh rất coi trọng phong trào nhân dân
Mỹ và gọi “Mặt trận số 1 chống Đế quốc Mỹ là Việt Nam Mặt trận số 2 ở ngay tại nước Mỹ” Hồ ChíMinh rất linh hoạt và khéo léo trong việc tìm đồng minh theo đúng phương châm “Làm cho nước mình
ít kẻ thủ và nhiều bạn đồng minh”
1.2.2 Phong cách, nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh.
1.2.2.1 Chính Nghĩa dân tộc, thiện chí hòa bình, ý chí quyết thắng và thế tất Thắng là sức mạnh của ngoại giao Hồ Chí Minh
Ngoại giao Hồ Chí Minh trước hết dựa vào chính nghĩa dân tộc và thiện chí hòa bình để tấncông địch, tranh thủ bạn bè, xây dựng hậu phương quốc tế Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, HồChí Minh luôn nắm vững mục tiêu hòa bình, lấy thiện chí hòa bình làm vũ khí mạnh mẽ chống lại hànhđộng và tội ác chiến tranh của kẻ thù xâm lược Người không bỏ lỡ cơ hội nào để mưu tìm lại hòa bình.Mùa xuân năm 1946, Người chấp nhận một số điều khoản ngặt nghèo, ký hiệp định sơ bộ 6/3/1946 để
có hòa bình Mùa thu đó, dù vận nước gập ghềnh, Người vẫn đi Pháp và lưu tại đây hơn 4 tháng để tìmkiếm hòa bình Với Mỹ Người Luôn tỏ ý Việt Nam sẵn sàng rải thảm đỏ để Đế Quốc Mỹ rút và “hoantống họ một cách lịch sử” Đầu năm 1967 Việt Nam đòi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc để có thể bắtđầu nói chuyện Suốt thời gian tiến hành cuộc đàm phán Paris, Việt Nam đưa nhiều đề nghị hòa bìnhnhằm tìm kiếm giải pháp kết thúc chiến tranh Chính những đề nghị hợp lý và đầy thiện chí đưa ra giúpViệt Nam tranh thủ mạnh mẽ dư luận thế giới và tác động vào nội bộ nước Mỹ Các nước đế quốcthường dùng đe dọa và mua chuộc Chúng ta không dùng đe dọa và mua chuộc Ngoại giao Hồ Chí
Trang 10Minh dùng nhân tố gì để tiếng công, kiềm chế, răn đe đối phương Ngày 8 tháng 2 năm 1946, Phápchuẩn bị tiến quân ra Bắc, tiếp tướng pháp Salan, Hồ Chí Minh nói: “Máu sẽ chảy và sẽ rất là điều bấthạnh Dù cả thế giới chống lại chúng tôi thì chúng tôi cũng không thể chấp nhận trở thành những người
nô lệ” Ngoại giao Hồ Chí Minh tấn công đối phương bằng ý chí kiên cường và thế quyết thắng, tấtthắng Khi kháng chiến toàn quốc, Người gửi lời kêu gọi tới chính phủ và nhân dân Pháp: “Nước ViệtNam có thể bị tàn phá nhưng nước Việt Nam sẽ lại hùng mạnh hơn sau cuộc tàn phá đó còn nước Phápchắc chắn sẽ mất hết và sẽ biến khỏi cõi Á Châu ” Một cái nhìn sâu xa và chính xác! Việt Nam kiênquyết chống Mỹ xâm lược Mỹ mạnh hơn Việt Nam gấp bội nhưng Việt Nam biểu thị quyết đánh vàquyết thắng Mọi người đều thuộc câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh: “Chiến tranh có thể kéo dài 5năm 10 năm 20 năm hoặc lâu hơn nữa Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tànphá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập tự do…” Câu nói toát lên
ý chí quyết đánh, quyết thắng và tất thắng của nhân dân Việt Nam
Nhờ dựa trên thế mạnh chính nghĩa, thiện chí hòa bình và thế tất thắng của nhân dân ta mà tạicuộc đàm phán Paris, Việt Nam đã kiên trì mục tiêu, làm thất bại chính sách đàm phán trên thế mạnhcủa Mỹ, đưa đến thắng lợi của hiệp định Paris
đến hết cỡ là đỉnh điểm của nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh
Sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta trong thế kỉ 20 luôn ở trong tình thế khó khăn về đối nội vàđối ngoại Con đường cứu nước của Hồ Chí Minh cũng luôn gập ghềnh và chông gai Chính vào nhữngthời điểm khó khăn ấy, Hồ Chí Minh đi những nước cờ thần kỳ có ý nghĩa xoay chuyển tình thế
Một việc mà sách báo viết còn ít Tháng 8 năm 1942, Người đi làm ngoại giao lần đầu tiên với
tư cách nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam và bị bắt Đến tháng 10 năm 1943 được trả tự do nhưngchưa thể về nước nắm được ý đồ của Trương Phát Khuê – Tổng tư lệnh Đệ tứ chiến lhu của Tưởng -muốn lợi dụng Người để cải tổ đồng minh hội, tổ chức tay sai của chúng đang rệu rã và bất lực Ngườinhận lời tham gia Ban trù bị Đại hội cải tổ Với tư cách đó, người lái Đại hội Đại biểu cách mạng đồngminh thành Đại hội Đại biểu các tổ chức cách mạng hải ngoại, có nhiều đại biểu Việt Minh tham gia.Với một nước cờ nhỏ, người biến đại hội của tổ chức tay sai Tưởng thành nơi tập hợp mọi lực lượngcách mạng ở Hoa Nam, tạo thế hợp pháp cho các tổ chức đoàn thể của ta, tạo thuận lợi để ứng xử vớiquân Tưởng khi chúng thực hiện kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” Riêng với Người thì từ vị thế mộtngười mới ra tù người trở thành khách quý của Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu, có quan hệ với nhiềutướng lĩnh ở đây tạo điều kiện thuận lợi và an toàn để người về nước vào tháng 10 năm 1944
Trang 11Sau Cách mạng tháng Tám, thù trong giặc ngoài xâu xé Phản động Quốc dân Đàng và Đồngminh hội bị dựa vào thế lực Tưởng phá họa, âm mưu lật đổ, Pháp mở rộng chiến tranh ở miền Nam,chuẩn bị tiến ra Bắc Tình thế hiểm nghèo Dùng nước cờ gì đây? Người và Ban thường vụ TrungƯơng Đảng dũng cảm chấp nhận “giải pháp đau đớn”: Giải tán Đảng Cộng sản; đổi Quân đội quốc giathành Vệ quốc đoàn, rồi người lợi dụng vai trò tướng Tưởng, nhân nhượng với chúng một số ghế trongchính phủ và Quốc hội nhưng buộc chúng phải ủng hộ kháng chiến chống Pháp, ủng hộ Cuộc tổngtuyển cử, đình chỉ công kích lẫn nhau Nước cờ thần tình này, Bộ Tư lệnh Tưởng cũng đồng tình, pháitay sai Tưởng lùi bước; vị thế của chính phủ Trung Ương được đề cao, Pháp yên tâm đi vào thươnglượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ở đây Hồ Chí Minh đã vận dụng chính sách lược đến hết mức
để “ứng vạn biến”, nhưng vẫn giữ được nguyên tắc bảo vệ độc lập dân tộc và chính quyền cách mạng
Về sách lược ngoại giao, Hồ Chí Minh đã vận dụng thế nào? Như trên đã nói” trong đấu tranhvới kẻ thù, so sánh lực lượng thường không thuận cho ta Điều đó đòi hỏi phải luôn tính toán sách lượcmềm dẻo Lịch sử ngoại giao Việt Nam đã ghi lại nhiều sách lược Nghệ thuật ngoại giao và đàm phán
là nghệ thuật thỏa hiệp, mà thỏa hiệp là vận dụng sách lược Tính toán sách lược sao cho phù hợp vớithế trận và so sánh lực lượng, đối phương có thể chấp nhận được mà ta có thể bảo vệ được lợi ích cơbản Mỗi sách lược là một nước cờ nhằm vượt qua khó khăn, củng cố thế trận của ta, công phá thế trậnđối phương
lớn của ngoại giao Hồ Chí Minh
Thời kỳ sau cách mạng tháng Tám, thế nước còn chông chênh, thực lực còn có hạn Nước tachưa được quốc tế công nhận, Hồ Chí Minh vận dụng nhiều chính sách, biện pháp cả đối nội và đốingoại để đề cao vị trí quốc tế của Việt Nam Dân chủ Công hòa, tranh thủ sự công nhận của quốc tế, ítnhất là trên thực tế, tạo thuận lợi trong việc giao dịch với đồng minh và “vừa đánh vừa đàm” với Pháp
Với Tuyên ngôn độc lập, người khẳng định với thể giới chủ quyền của Việt Nam: Nước ViệtNam thực sự để trở thành một nước tự do, độc lập, khẳng định thế hợp pháp của Nhà nước Việt Nam,hình thành từ cuộc đấu tranh kiên cường của nhân dân Việt Nam, đứng bên cạnh Đồng minh, chốngphát xít Nhật
Sau này, đi vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, Người vẫn gắn đối nội và đối ngoại như vậy.Năm 1960, cách mạng miền Nam bước sang giai đoạn mới Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ươngquyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam Về đối nội, lập mặt trận đểđoàn kết rộng rãi nhân dân miền Nam chống Mỹ và tay sai Về đối ngoại, lập mặt trận có ý nghĩa lớnvới hiệp định Geneve, miền Nam Việt Nam là một thực thể Đảng lao động hoặc Mặt trận Tổ quốc
Trang 12không thể đứng ra công khai lãnh đạo cách mạng miền Nam, mặt trận giải phóng tiêu biểu cho quyền
tự quyết của nhân dân miền Nam đấu tranh chống Mỹ - Diệm phá hiệp định Gieneve để tiến tới hòabình thống nhất tổ quốc
Bài học gắn đối nội và đối ngoại này vẫn còn giá trị lớn trong cả tình hình hiện nay Trong thờiđại thông tin bùng nổ, bất kỳ một chính sách, một hoạt động đối nội nào của ta cũng đều được dư luậnthế giới quan tâm
Trang 13PHẦN 2: TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1946-1954)
2.1 Tình hình chung của quan hệ ngoại giao Việt Nam – Pháp trước năm 1946
2.1.1 Phương thức đối ngoại của ngoại giao Việt Nam trước năm 1946
2.1.1.1 Đối với các nước Đồng minh
Vấn đề quan hệ với Đồng minh, Đảng chủ trương lợi dụng sự mâu thuẫn của Trung Quốc – Mỹ
và Anh – Pháp, ký hiệp ước với các nước Đồng minh, để họ thừa nhận nên độc lập của dân tộc ta Đặtvấn đề tranh thủ cho Việt Nam có quyền cử đại biểu đi dự các hội nghị quốc tế Đảng chỉ rõ: “Ta cũngphải mềm dẻo dùng ngoại giao để tránh những sự việc xảy ra có hại đến công cuộc đánh Nhật chung”.2
Chính quyền Tưởng Giới Thạch đứng trong lực lượng Đồng minh, trước sau cũng sẽ đổ bộ vàoĐông Dương Hiểu rõ sâu sắc về bản chất và thực trạng của quân Tưởng nên Hồ Chí Minh nắm chắctuyên bố Chính phủ Trùng Khánh về ủng hộ Việt Nam giành độc lập Do đó, ngay từ những năm chiếntranh chưa kết thúc, trong quan hệ với Tưởng, từ chủ trương đến hoạt động cụ thể, Hồ Chí Minh vàĐảng ta luôn tỏ thái độ thân thiện, hợp tác Mặt trận Việt Minh không ở thế đối lập với quân Tưởng màtranh thủ được nhiều thiện cảm và ủng hộ của Tưởng, cũng như vẫn giữ được đường lối độc lập củamình
Thông qua các mối quan hệ với chính quyền Tưởng Giới Thạch, Hồ Chí Minh chủ động mởđường cho quan hệ của cách mạng Việt Nam với các nước Đồng Minh, trước hết là Mỹ, lúc này đang
có vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế
Sau chuyến đi Côn Minh đến Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh tiếp tục duy trì mối quan hệgiữa Việt Minh với Đồng minh qua nhóm sĩ quan Mỹ hoạt động tại căn cứ địa Việt Bắc Theo thỏathuận, phía Mỹ giúp Việt Minh một số thuốc men, vũ khí và giúp huấn luyện kĩ thuật quân sự, điện đài,
…Việt Minh giúp Đồng minh cứu các phi công Mỹ bị Nhật bắn rơi và thông báo về tình hình các hoạtđộng quân sự của Nhật ở Đông Dương
Đặt quan hệ với Mỹ, mục đích của Hồ Chí Minh lúc này là tranh thủ sự ủng hộ của Đồng minhđối với nền độc lập dân tộc của Việt Nam, hợp tác trong điều kiện có thể để đánh Nhật ở Đông Dương.Đồng thời thông qua Mỹ nói lên tiếng nói dân tộc Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, giành cho Việt Nammột vị trí trong quan hệ quốc tế
Trong khi tỏ thái độ thiện chí, sẵn sàng hợp tác vì cuộc đấu tranh chống phát xít, Hồ Chí Minhvẫn luôn căn cứ vào hành động thực tế của Mỹ để nhìn nhận thực chất chính sách của Mỹ đằng sau
Trang 14những lời tuyên bố Chính vì vậy, Người nhanh chóng phát hiện ra thái độ hai mặt của Mỹ đối với Pháp
về vấn đề Đông Dương
Trong mối quan hệ với Mỹ, với Đồng minh, quan điểm của Hồ Chí Minh hoàn toàn nhất quán.Trước sau, Người vẫn nhằm mục tiêu độc lập dân tộc Trong khả năng cho phép, Người tranh thủ đếntối đa những điều kiện thuận lợi và sự hỗ trợ bên ngoài Song bao giờ Người cũng cho rằng yếu tốquyết định vẫn là lực lượng của nhân dân ta Quan hệ với Mỹ lúc này không tiến triển được là do sựthay đổi của Mỹ trong thái độ đối với Pháp về Đông Dương Song những hoạt động của Hồ Chí Minh
đã gây được nhiều thiện cảm của các sĩ quan Mỹ có quan hệ trực tiếp với Người và Việt Minh Thiệncảm này còn giữ được cho đến sau khi ta giành chính quyền
Hồ Chí Minh cũng thông qua Mỹ để đặt vấn đề thương lượng với Pháp, tạo điều kiện thuận lợicho nền độc lập của Việt Nam
kẻ thù chủ yếu, phát xít Pháp là tay sai của phát xít Nhật, đề ra chủ trương vận động thành lập Mặt trậndân chủ chống Nhật ở Đông Dương
Thái độ của phe ta là không tán thành việc phái Đờ Gôn thành lập một chính phủ thuộc địa đểtiếp tục chính sách đế quốc của Pháp ở Đông Dương Nếu điều đó vẫn xảy ra thì Đảng vẫn phải lãnhđạo quần chúng đấu tranh để Chính phủ ấy thực hiện những chính sách tiến bộ (liên minh với Liên Xô,chống phát xít, ủng hộ Trung Quốc kháng chiến, thực hiện các quyền tự do dân chủ của nhân dân) Chủtrương liên minh với phái Đờ Gôn để thành lập Mặt trận dân chủ chống phát xít ở Đông Dương đãđược Mặt trận Việt Minh tích cực thực hiện, cả ở trong nước và hải ngoại
Báo chí của Đảng đã dành nhiều bài nói về chủ trương liên minh với Pháp để chống Nhật.Tháng 11/1944, một cuộc tiếp xúc bí mật giữa đại diện của ta với một số đại biểu người Pháp thuộcphái kháng chiến được tổ chức để bàn về việc lập Mặt trận dân chủ chống phát xít
Theo đúng như dự đoán của Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh, việc Nhật – Pháp đánh nhau đãdiễn ra Cuộc đảo chính kết thúc bằng sự thất bại nhanh chóng của Pháp Sau sự kiện này, Đảng ta đãkhông coi Pháp là kẻ thù trước mắt của cách mạng nữa Đảng chủ trương tán thành cuộc kháng chiến
Trang 15của nhân dân Pháp và nhắc lại khả năng hợp tác thành lập Mặt trận dân chủ chống Nhật ở ĐôngDương.
Có thể nói rằng chủ trương của Đảng cũng như chính sách của Mặt trận Việt Minh về liên minhchống Nhật là tích cực và thiện chí, có lợi cho cả hai bên Pháp – Việt Nhưng ý thức trông chờ ở Đồngminh và lập trường thực dân đã khiến Chính phủ Pháp không chú ý đúng mức đến khả năng này Trongthời gian Nhật – Pháp bắn nhau, Hồ Chí Minh đang ở Côn Minh Hồ Chí Minh nói rõ lập trường củaViệt Minh là chỉ chống Nhật, phía Pháp được gọi là “người trung lập”3
Việc chủ động gửi bản yêu cầu và đề xuất vấn đề nói chuyện với Pháp là hoạt động cụ thể đầutiên của Hồ Chí Minh để thực hiện chủ trương hợp tác với Pháp thông qua Mỹ
Người gửi Chính phủ Pháp một bản yêu cầu gồm 5 điểm, đòi hỏi phải công khai và đưa vào quychế của Đông Dương trong tương lai:
1 Thực hiện phổ thông đầu phiếu để bầu ra một Nghị viện quản lý đất nước do một Toàn quyền người Pháp làm chủ tịch cho đến khi Việt Nam hoàn toàn độc lập Toàn quyền sẽ lập một nội các hay đoàn cố vấn được Nghị viện chấp nhận.
2 Độc lập phải được ban bố cho đất nước trong vòng ít nhất là 5 năm, nhưng không được quá 10 năm.
3 Các nguồn lợi thiên nhiên của đất nước phải được trả lại cho nhân dân trong nước với một sự đền bù thích đáng.
4 Mọi quyền tự do mà Liên Hiệp Quốc đề ra được bảo đảm thi hành cho người Đông Dương.
5 Cấm chỉ việc buôn bán thuốc phiện 4
Trong bản yêu cầu, hai điểm đầu tiên nói về thể chế chính trị của Đông Dương Thể chế mà HồChí Minh yêu cầu có thể coi là chế độ tự trị để tiến tới độc lập hoàn toàn trong thời hạn 5 – 10 năm.Thể chế ấy có một điểm chung là còn chấp nhận Toàn quyền người Pháp Sở dĩ Hồ Chí Minh đưa rayêu cầu khiêm tốn như vậy là vì:
Lúc này nhiệm vụ trước mắt, quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam là tập trung lựclượng chống Nhật
Mặc dù cao trào kháng Nhật lên mạnh Mặt trận Việt Minh phát triển rộng rãi, song thựclực quân sự của ta còn rất nhỏ bé, thiếu thốn, nhiều hạn chế Việt Minh cũng chưa có vị trí nào trongquan hệ quốc tế
3 Sác lơ Phen, Sđd, tr 76-77
Trang 16 Chính phủ Pháp ngày càng thể hiện rõ quyết tâm khôi phục “chủ quyền” ở Đông Dương,
Mỹ tuy chưa công khai ủng hộ Pháp về vấn đề này, nhưng cũng không còn ngăn cản Pháp quyết liệtnhư trước Bên cạnh đó, Anh vẫn tiếp tục tích cực ủng hộ Pháp
Chính quyền Tưởng ngày càng bộc lộ chính sách chống cộng cũng như tham vọng đốivới Việt Nam Đồng thời các đảng phái tay sai của Tưởng lại bắt đầu lôi kéo Pháp
Trong hoàn cảnh ấy, bản yêu cầu mà Hồ Chí Minh gửi phía Pháp chính là nhằm tiếp tục thúcđẩy việc thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về hợp tác với Pháp để chống Nhật Mặt khác,điều đó còn nhằm lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp với Tưởng Để có được sự hợp tác giữa hai bên, cầnphải chấp nhận sự thỏa hiệp, nhân nhượng từ mỗi bên Đồng thời lại phải có những điểm chung đápứng yêu cầu, lập trường của cả hai bên Bản yêu cầu của Hồ Chí Minh đã thể hiện được tinh thần ấy.Việc chấp nhận chức danh Toàn quyền và đưa ra một thời hạn tự trị trước khi hoàn toàn độc lập trongbản yêu cầu này tương tự với việc yêu cầu đại diện Việt Minh ở hải ngoại đưa ra với lãnh sự Pháp tạiCôn Minh hồi tháng 4/1944 Tinh thần đó cũng phù hợp với quan điểm của những người đứng đầu củacác nước Đồng minh như Mỹ, Anh về trao trả độc lập cho các dân tộc chỉ khi họ đã “sẵn sàng”, đủtrình độ để tự quản lý đất nước
Trong hoàn cảnh quốc tế lúc ấy, yêu cầu mà Hồ Chí Minh đưa ra có thể có tác dụng thuyết phục,gây thiện cảm đối với nhiều phía Đối với Pháp, ở điểm này, việc làm của Hồ Chí Minh là một cố gắngngoại giao mở ra khả năng thực tế để đàm phán
Hồ Chí Minh đã theo dõi sát sao và kịp thời nắm bắt tin tức về sự chuyển biến mau lẹ của tìnhhình trong những ngày chiến tranh kết thúc Do đó Người đã có những ý kiến đúng đắn về việc triệutập Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng và Đại hội quốc dân để kịp thời quyết định vận mệnh của dântộc trong thời điểm thuận lợi nhất Nghị quyết về đối ngoại nói chung và ngoại giao nói riêng trong Hộinghị đại biểu toàn quốc của Đảng (13 – 15/8/1945) thể hiện tư tưởng, chỉ đạo sáng suốt của Hồ ChíMinh về những vấn đề này Nghị quyết không chỉ đề ra chủ trương cụ thể mà còn dự đoán những khảnăng phát triển của các mối quan hệ quốc tế trong thời gian tiếp theo
Tinh thần cơ bản của chính sách đối ngoại của Hồ Chí Minh thể hiện trong Nghị quyết là “Thânthiện với các nước coi trọng nên độc lập của Việt Nam” Chủ trương này sẽ mở ra khả năng rộng lớncho Việt Nam tương lai trong quan hệ quốc tế Trong hoàn cảnh cụ thể lúc đó, quan điểm thêm bạn bớtthù, sách lược phân hóa kẻ thù, tranh thủ đồng minh vẫn tiếp tục được Người vận dụng
Nghị quyết khẳng định sự cần thiết phải lợi dụng mâu thuẫn giữa Anh – Pháp và Mỹ - Tưởng vềvấn đề Đông Dương Đảng ta chủ trương tránh trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng
Trang 17minh kéo vào nước ta, đồng thời cũng chỉ ra thái độ cần thiết của ta đối với Đồng minh là tránh xungđột, giao thiệp thân thiện.
Như vậy, trước khi giành chính quyền, khi Pháp chưa có hành động cụ thể dùng vũ lực xâmlược Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chủ trương quan hệ với Pháp cũng gần giống như với các lực lượngĐồng minh sẽ vào nước ta Để chống lại âm mưu Pháp quay lại thống trị nước ta, Người đã chủ trươngkhông đối đầu ngay với Pháp, mà giải quyết bằng phương pháp hòa bình, kết hợp áp lực ngoại giao từphía các lực lượng tiến bộ, dân chủ, có vai trò quan trọng (Liên Xô, Mỹ) với áp lực chính trị của nhândân ta để phản đối Pháp xâm lược
Nhìn chung, phương thức đối ngoại của ngoại giao Việt Nam thời kỳ này tập trung vào nhiệm
vụ cách mạng là giành độc lập, ủng hộ Liên Xô và các lực lượng dân chủ, chống phát xít; ý thức về xâydựng mối quan hệ thân thiện, hòa bình, hữu nghị với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập giữa các dântộc luôn được củng cố
Cách giải quyết mối quan hệ với Pháp thời gian này đã thể hiện những tinh thần cơ bản ấy, Hồ
Chí Minh và Đảng ta phân biệt rõ những người Pháp theo phát xít với những người Pháp chống phát xít để có thái độ thích hợp Khi thực dân Pháp không còn vai trò thống trị ở Đông Dương, Hồ Chí Minh
và Đảng ta đã chủ động đặt vấn đề hợp tác với Pháp chống phát xít Nhật và giải quyết mối quan hệgiữa hai bên bằng trao đổi, thương lượng Vì những lý do thuộc phía Pháp, chủ trương đó chưa thựchiện được Tuy nhiên, nó đã tạo ra những cơ sở nhất định cho mối quan hệ Việt – Pháp ở giai đoạn sau
2.1.2 Bản tuyên ngôn độc lập thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà
2.1.2.1 Nội dung bản tuyên ngôn độc lập
Bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam được Hồ Chí Minh soạn thảo, và đọc trước công chúngtại vườn hoa Ba Đình (nay là quảng trường Ba Đình) ngày 2 tháng 9 năm 1945 Đây được nhiều ngườixem là bản tuyên ngôn độc lập thứ ba của lịch sử Việt Nam, sau bài thơ thần Nam Quốc Sơn Hà của LýThường Kiệt ở thế kỷ X và Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi viết năm 1428
Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp từ giữa thế kỷ 19 Trong Chiến tranh thế giớithứ hai, Đế quốc Nhật Bản đã thay Pháp chiếm đóng Việt Nam từ năm 1940 Khi Nhật Bản đầu hàngquân Đồng Minh giữa năm 1945, Việt Nam có cơ hội lớn lấy lại độc lập
Sáng ngày 26 tháng 8 năm 1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Trong số cácquyết định của cuộc họp này, Thường vụ nhất trí chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở
Hà Nội để Chính phủ Lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bốquyền độc lập và thiết lập chính thể Dân chủ Cộng hòa
Trang 18Ngày 30 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh mời một số người đến góp ý cho bản Tuyên ngôn độclập do Người soạn thảo Ngày 31 tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh bổ sung thêm cho dự thảo Tuyênngôn độc lập Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập trong cuộc mít tinhtrước hàng chục vạn quần chúng, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủCộng hòa.
Nội dung bản tuyên ngôn gồm ba phần:
Phần 1: Cơ sở pháp lý của bản tuyên ngôn
Phần 2: Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn
Phần 3: Lời tuyên bố độc lập
Toàn văn bản tuyên ngôn:
“Hỡi đồng bào cả nước,
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta
xơ xác, tiêu điều Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Trang 19Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng
đã bán nước ta hai lần cho Nhật.
Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần
100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.