2002, “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đãđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trongmột năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, n
Trang 1Mục lục
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG 2
I Tổng quan về Ngân sách Nhà nước 2
1 Khái niệm 2
2 Đặc điểm 3
3 Thu- chi NSNN 3
II Quản lý ngân sách Nhà nước 4
1 Khái niệm quản lý Ngân sách 4
2 Đặc điểm của quản lý Ngân sách Nhà nước 4
3 Nguyên tác quản lý Ngân sách Nhà nước 4
4 Nội dung quản lý Ngân sách Nhà nước 5
5 Thực trạng quản lý Ngân sách ở Việt Nam 6
III CHU TRÌNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 7
1 Khái niệm 7
2 Quy trình ngân sách 8
3 So sánh quy trình ngân sách Việt Nam và Mỹ 15
IV Cân đối ngân sách nhà nước 20
1 Khái niệm cân đối Ngân sách Nhà nước 20
2 Vai trò của cân đối Ngân sách Nhà nước trong nền kinh tế thị trường 21
3 Tình hình cân đối Ngân sách của Việt Nam qua các năm 22
4 Giải pháp để đạt trạng thái cân đối Ngân sách và liên hệ Việt Nam 27
C KẾT LUẬN 32
Trang 2A MỞ ĐẦU
Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, nó phản ánhnhững mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sảnphẩm xã hội trong điều kiện còn tồn tại quan hệ hàng hoá - tiền tệ và được
sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của nhà nước Trong nềnkinh tế thị trường, ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính
để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu cùa Nhà nước, đồng thời là một trongnhững công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc quản lý và điều hành vĩ
mô nền kinh tế - xã hội Ngân sách nhà nước được tạo lập từ nhiều nguồnkhác nhau như: thuế, phí, lệ phí, các khoản đóng góp tự nguyện, viện trợtrong nước, viện trợ không hoàn lại của nước ngoài Ở Việt Nam, kể từ khinền kinh tế chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường, đặc biệt là trongbối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đã dần dần làm biến đổi cácyếu tố cấu thành của nền kinh tế, có yếu tố cũ mất đi, có yếu tố mới ra đời,
có yếu tố vẫn giữ nguyên hình thái cũ nhưng nội dung của nó đã bo hàmnhiều điều mới hoặc chỉ được biểu hiện trong những khoảng không gian vàthời gian nhất định Trong lĩnh vực tài chính-tiền tệ, ngân sách nhà nướcđược xem là một trong những mắt xích quan trọng của tiến trình đổi mới,lĩnh vực ngân sách nhà nước đã đạt được những thàng tựu đáng kể Cùng vớiviệc mở cửa kinh tế, khai thác quản lý tình hình thu – chi ngân sách là rấtquan trọng
Trang 32002, “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đãđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trongmột năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.”
NSNN bao gồm các khoản thu chi của Nhà nước nên quản lí NSNN là quản
lí việc thu chi ngân sách sao cho hiệu quả
NSNN bao gồm Ngân sách Trung ương (NSTW) và Ngân sách địa phương(NSĐP)
- NSTW là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chínhphủ và các cơ quan khác ở trung ương
- NSĐP bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân
Trang 42 Đặc điểm
NSNN là một khâu quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia, biểu hiện các mốiquan hệ kinh tế của Nhà nước với các chủ thể khác
Các quan hệ tài chính thuộc NSNN có những đặc điểm chung sau đây:
- Việc tạo lập và sử dụng NSNN luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước vàviệc thực hiện các chức năng của Nhà nước được Nhà nước tiến hànhtrên cơ sở những luật lệ nhất định
- NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và chứa đựng những lợi íchchung, lợi ích công cộng
- NSNN là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và được chia thànhnhiều quỹ nhỏ, có tác dụng riêng và chỉ sau đó NSNN mới được dung đểthực hiện các mục đích đã định trước Đây là nét riêng có của NSNN sovới các quỹ tiền tệ khác
- Hoạt động thu chi NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủyếu
3 Thu- chi NSNN
a Thu NSNN
- Khái niệm: Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình đểtập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ ngân sáchnhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước
- Phân loại:
+ Thông thường: cân đối và thâm hụt
+ Phạm vi: trong nước và nước ngoài
+ Tính chất: thường xuyên và không thường xuyên
+ Hình thức động viên: bắt buộc và tự nguyện
b Chi NSNN
- Khái niệm: Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ Ngân sách Nhànước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nước theo nhữngnguyên tắc nhất định, là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã
Trang 5được tập trung vào Ngân sách Nhà nước và đưa chúng đến mục đích sửdụng.
- Phân loại: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển
II Quản lý Ngân sách Nhà nước
1 Khái niệm quản lý ngân sách
Quản lý ngân sách Nhà nước là việc xây dựng kế hoạch tạo lập, sử dụng ngânsách Nhà nước tập trung các khoản thu, tổ chức và điều hòa vốn tiền mặt đảmbảo thực hiện chi tả tiền ngân sách Nhà nước
2 Đặc điểm của quản lý ngân sách Nhà nước
- Là hoạt động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện
- Thực hiện trong quá trình tổ chức thu, cấp phát, thanh toán các khoản chi và
kiểm soát các khoản chi
- Mục đích của quản lý NSNN là nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả
và sử dụng có hiệu quả ngân sách
3 Nguyên tác quản lý ngân sách nhà nước
Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ: Tất cả các khoản thu NSNN
đều được tập trung vào kho bạc nhà nước,và tất cả các khoản chi của NSNNqua hệ thống kho bạc nhà nước, được kho bạc nhà nước cấp phát, chi trả chocác đối tượng được thụ hưởng.Kho bạc nhà nước tiếp nhận, tập trung cáckhoản thu cho NSNN theo lệnh của người chuẩn thu và thực hiện chi trảtheo lệnh của cơ quan tài chính hoặc thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sáchhoặc người được ủy quyền chuẩn chi dưới hai hình thức lệnh chi tiền và cấpphát hạn mức kinh phí
Nguyên tắc công khai, minh bạch: Quản lý ngân sách đòi hỏi phải công
khai, minh bạch xuất phát từ đòi hỏi chính đáng của người dân với tư cách làngười nộp thuế cho Nhà nước Việc Nhà nước có đảm bảo trách nhiệm trướcdân về huy động và sử dụng các nguồn thu hay không phụ thuộc nhiều vàotính minh bạch của ngân sách Điều này cũng rất quan trọng đối với nhà tàitrợ Những nhà đầu tư cũng cần có sự minh bạch về ngân sách để có thể đưa
ra các quyết định đầu tư, cho vay
Nguyên tắc đảm bảo trách nhiệm: Với tư cách là người được nhân dân "uỷ
thác" trong việc sử dụng nguồn lực, Nhà nước phải đảm bảo trách nhiệmtrước nhân dân về toàn bộ quá trình quản lý ngân sách, về kết quả thu, chingân sách.Tính chịu trách nhiệm bao gồm chịu trách nhiệm có tính chất nội
bộ vàchịu trách nhiệm ra bên ngoài Điều này cũng được thể hiện rõ trong
Trang 6luật ngân sách của Việt Nam Quốc hội, Hội đồng nhân dân được bầu theonhiệm kỳ và chịu trách nhiệm giải trình trước toàn bộ cử tri về ngân sách.
Cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm giải trình trước cơ quan lập pháp
Nguyên tắc đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước: Đảm bảo cân đối ngân
sách từ một đòi hỏi có tính chất khách quan xuất phát từ vai trò nhà nướctrong can thiệp vào nền kinh tế thị trường với mục tiêu ổn định, hiệu quả vàcông bằng Thông thường, khi thực hiện ngân sách các khoản thu dự kiến sẽkhông đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Vì vậy, tính toán nhucầu chi sát với khả năng thu trong khi lập ngân sách là rất quan trọng Cáckhoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn thu
bù đắp
4.Nội dung quản lý Ngân sách Nhà nước
- Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước
- Phân cấp quản lý ngân sách
Phân cấp quản lý ngân sách là quá trình Nhà nước trung ương phân giaonhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho chính quyền địa phươngtrong hoạt động quản lý ngân sách
- Quản lý chu trình NSNN
Xây dụng kế hoạch tạo lập và sử dụng quỹ NSNN , lập và cụ thể hóa thu chiNSNN cả năm và theo định kì kế hoạch
- Quản lý thu chi NSNN
Tập trung các nguồn thu là việc sử dụng hệ thống pháp luật thu hiện hành,
các nghiệp vụ và kế hoạch thu được phân bổ để tạo lập quỹ NSNN, kể cảviệc thực hiện các nghiệp vụ này
Tổ chức điều tiết nguồn thu cho từng cấp NSNN trên cơ sở kế hoạch đãđược phân bổ, đảm bảo nguồn kinh phí kịp thời các các cấp NSNN
Thực hiện chi trả, cấp phát cho các đối tượng, kiểm tra việc sử dụng kinh phítheo chế độ chi tiêu của NN
Trang 74 Thực trạng quản lý ngân sách ở Việt Nam
a Hệ thống NSNN lồng ghép dẫn đến nhiều hệ lụy trong quản lý điều hành và sử dụng NSNN
Hệ thống NSNN mang tính lồng ghép ở nhiều tầng nấc (NS cấp trên bao gồm cả
NS cấp dưới) nên thẩm quyền quyết định NSNN chồng chéo, không rõ ràng (Quốchội quyết định NSNN tức là quyết định cả NSTW và NSĐP, trong khi HĐND lạiquyết định NSĐP Đối với địa phương thì HĐND cấp trên quyết định NSĐP lạibao gồm cả NSĐP cấp dưới Tức là với một cấp NSĐP có nhiều cấp cùng quyếtđịnh NS, đối với NS cấp xã có đến 4 cấp cùng quyết định) Quy trình NS về dựtoán và quyết toán cũng vì vậy mà kéo dài về thời gian, phức tạp về quản lý (dựtoán NSNN được lập từ dưới lên và quyết định, giao dự toán lại từ trên xuống.Quyết toán NS được lập, phê chuẩn từ dưới lên)
b.Phạm vi NSNN không đầy đủ, rõ ràng
Phạm vi thu, chi NSNN được quy định khá đầy đủ và rõ ràng trong luật NSNN(luật ban hành năm 2002) Tuy nhiên vì nhiều lí do khác nhau, trong thực hiệnnhiều khoản thu, chi thuộc NSNN không được thể hiện đầy đủ vào NSNN như:
- Một số khoản thu từ phí, lệ phí và chi từ nguồn thu này (như phí sử dụng đường
bộ theo đầu phương tiện)
- Chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH từ nguồn phát hành trái phiếu chínhphủ
Do NSNN bị phản ánh sai lệch, không đầy đủ, rõ ràng và minh bạch nên việc quản
lý NSNN khó khăn, phức tạp Việc đánh giá và phân tích NSNN vì vậy nhiều khithiếu chính xác, không đúng với bản chất (như bội chi NSNN phải bao gồm cả chi
từ nguồn phát hành trái phiếu chính phủ Thu NSNN phải bao gồm cả nguồn thu
xổ số kiến thiết …) Cũng do NSNN phản ánh không đầy đủ nên một số khoản thu,chi đã “trốn” được sự quản lý chặt chẽ của luật NSNN
c NSNN vốn đã nhỏ bé về quy mô nhưng một số nguồn thu và nhiệm vụ chi lại phân tán và không được quản lý chặt chẽ do có nhiều quỹ tài chính nhà nước ngoài NS
Trong điều kiện NSNN còn hạn hẹp thì việc thành lập các quỹ tài chính nhà nướcngoài ngân sách nhằm huy động thêm các nguồn lực từ xã hội để thực hiện một sốmục tiêu, nhiệm vụ cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo… làcần thiết Thời gian vừa qua nhiều quỹ tài chính nhà nước ngoài NS đã được thànhlập, trong đó có những quỹ được thành lập theo quy định của các luật chuyên
Trang 8ngành Tuy nhiên điều đáng quan tâm là thay vì nguồn hình thành quỹ được đónggóp từ các đối tượng hưởng lợi hoặc của xã hội thì nhiều quỹ lại dựa vào nguồnNSNN là chủ yếu Có những nguồn thu, nhiệm vụ chi đang thuộc NSNN lại đượcchuyển thành nguồn thu, nhiệm vụ chi của quỹ (như quỹ bảo trì đường bộ) vànhiều quỹ được NSNN cấp vốn điều lệ và hỗ trợ hoạt động hàng năm (như quỹphát triển khoa học và công nghệ quốc gia, quỹ bảo vệ môi trường …) Có quỹkhông được NSNN hỗ trợ trực tiếp nhưng lại được tập trung một số nguồn thu củaNSNN để thực hiện hoạt động (như quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp
… )
d Phân cấp quản lý NS cho địa phương còn có mặt hạn chế, chưa phát huy được tính chủ động của chính quyền địa phương
- Địa phương được giao quyền tự chủ về NS nhưng một số khoản thu lại quy định
tỷ lệ phần trăm tối thiểu mà NS xã, thị trấn được hưởng (thuế chuyển quyền sửdụng đất, thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp …) đã gây khó khăn cho địaphương trong điều hành NS do không điều chuyển được NS từ nơi thừa sang nơithiếu Hoặc biên chế hành chính của địa phương lại do TW duyệt trong khi NSĐP
có nhiệm vụ đảm bảo NS cho bộ máy này
Trang 9III Chu trình Ngân sách Nhà nước
Bước 2: Xét duyệt và tổng hợp dự toán ngân sách nhà nước
Bước 3: Trình và quyết định dự toán ngân sách tại Quốc hội
2.1 Lập dự toán ngân sách nhà nước.
2.1.1 Khái niệm
Trang 10Lập dự toán ngân sách nhà nước là quá trình xây dựng và quyết định dự toánthu, chi ngân sách của nhà nước trong thời hạn một năm
Đây là khâu quan trọng của quá trình ngân sách, tạo tiền đề, cơ sở cho các khâutiếp theo Nếu việc lập dự toán ngân sách nhà nước được tiến hành trên cơ sở cóđầy đủ căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn, bảo đảm đúng tiến độ, thờigian quy định thì việc tổ chức thực hiện và quyết toán ngân sách nhà nước sẽ cóchất lượng hiệu quả hơn
Ngược lại nếu quá trình lập dự toán ngân sách nhà nước không được thực hiệntốt thì không những việc thực hiện ngân sách nhà nước thiếu minh bạch, kémhiệu quả mà còn làm cho quá trình quyết toán ngân sách nhà nước gặp nhiềukhó khăn, phức tạp
Chính vì vậy việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật trong hoạt động lập dự toánngân sách nhất thiết phải được đặt trong mối quan hệ thống nhất, biện chứngvới các giai đoạn sau của toàn bộ quá trình ngân sách
2.1.2 Nội dung
Quá trình lập dự toán ngân sách nhằm 3 mục tiêu chính:
+ Đảm bảo ngân sách phù hợp với các chính sách phù hợp với các chính sáchkinh tế vĩ mô và giới hạn về nguồn lực
+ Phân bổ nguồn lực phù hợp với chính sách chính Phủ
+ Tạo điều kiện để quản lý quá trình hoạt động của các cơ quan hành chínhViệc dự toán ngân sách gồm 2 quy trình
- Quy trình từ trên xuống
Trang 11- Quy trình từ cơ sở lên
Bao gồm việc các ngành và địa phương hoạch định và dự trù kinh phí chochương trình chi tiêu của mình trong kỳ ngân sách và trong khuôn khổ hạnmức chi tiêu đã được phân bổ
Nhược điểm : Mang tính chất 1 chiều cấp trên không bao giờ đáp ứng đủ,
Ns nhỏ lẻ , không có tính chiến lược tổng thể
Ưu điểm: Phát huy tính tự chủ về Ngân sách
Sơ đồ minh họa cho lập ngân sách tử dưới lên
UBND cấp xã Chính Phủ
Trang 12MTEF ( Khung chi tiêu trung hạn)
- Khái niệm: Là một quy trình soạn lập và xây dựng kế hoạch Ngân sách minhbạch , trong đó đề ra giới hạn nguồn lực trung hạn , được phân bổ từ trênxuống nhằm đảm bảo kỷ luật tài khóa tổng thể và đòi hỏi xây dựng dự toánchi từ dưới lên , thống nhất với với các chính sách chi tiêu theo các ưu tiênchiến lược
- Về bản chất, MTEF là một phương pháp soạn lập ngân sách nhà nước(NSNN), trong đó kinh phí phân bổ cho các hoạt động của Chính phủ phảiphù hợp với những ưu tiên chiến lược của mỗi quốc gia, nhằm đạt được cácmục tiêu đề ra cho khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm, theo phương thức cuốnchiếu
- MTEF có những ưu điểm sau đây:
+ Một là, phân bổ hiệu quả các nguồn lực công MTEF tạo điều kiện sửdụng ngân sách một cách hợp lý trong phạm vi trần chi tiêu, phân bổ hiệuquả nguồn lực tài chính công phù hợp với các chính sách và ưu tiên chiếnlược của Chính phủ trong một không gian tài khóa nhiều năm Từ đó, tăngtính hiệu quả trong quản lý ngân sách về mặt kỹ thuật, đặc biệt là hiệu quảcủa chi phí đầu tư và chi tiêu
+ Hai là, tăng cường kỷ luật tài khóa Lập ngân sách theo MTEF góp phầntăng cường kỷ luật tài khóa tổng thể thông qua việc ước tính nguồn lực khả
VPUB Cấp Huyện
CQCN cấp huyện
Đảng , đoàn thể cấp huyện
NS Địa Phương
VPUB cấp tỉnh
CQCN cấp tỉnh
Đảng, đoàn thể cấp tỉnh
Trang 13dụng trong trung hạn, qua đó xác định mức trần chi tiêu cho từng ngành, lĩnhvực Do đó, chính sách tài khóa theo MTEF có thể khắc phục được nhữngtồn tại, hạn chế của chính sách tài khóa truyền thống hay lập ngân sách hàngnăm 3
+ Ba là, MTEF góp phần tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệmgiải trình trong quản lý và sử dụng NSNN
+ Bốn là, MTEF góp phần phân tích, đánh giá và cải thiện những vấn đề tồntại trong việc huy động và phân bổ nguồn lực, điều chỉnh chính sách chiếnlược ưu tiên và những mất cân đối giữa nguồn lực và đề xuất chi tiêu côngcủa các ngành, các lĩnh vực, qua đó xác định rõ nhu cầu chi tiêu công.MTEF giúp cho việc lập kế hoạch và thực hiện chính sách tài khóa thuận lợihơn và có sự gắn kết tốt hơn với các mục tiêu tài khóa trung hạn 4 , gắn kết
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với việc phân bổ nguồn lực NSNN thựchiện các nhiệm vụ của các bộ chi tiêu ngân sách
Ở nước ta, giai đoạn lập dự toán ngân sách nhà nước có thời gian khoảng 6tháng, thường bắt đầu vào cuối tháng 5 và kết thúc vào trước ngày 31 tháng
12 hàng năm, khi toàn bộ dự toán ngân sách và dự án phân bổ ngân sách ởcác cấp ngân sách đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và phân bổ
Ở nước ta, quá trình lập dự toán ngân sách nhà nước được tiến hành theotrình tự, thủ tục khá chặt chẽ, cụ thể gồm các bước sau: Hướng dẫn lập dựtoán ngân sách và thông báo số kiểm tra lập dự toán ngân sách hàng năm;Lập và xét duyệt, tổng hợp dự toán ngân sách nhà nước; Quyết định, phân
bổ và giao dự toán ngân sách nhà nước
Hàng năm, trước ngày 31 tháng 5, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyếtđịnh hoặc chỉ thỉ về việc lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toánngân sách nhà nước năm sau
Theo dự toán NSNN vừa được Quốc hội thông qua, Ngày 11/11/2015
- Tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 1.014.500 tỷ đồng; nếu tính cả4.700 tỷ đồng thu chuyển nguồn ngân sách địa phương từ năm 2015 sang năm
2016 thì tổng số thu ngân sách nhà nước là 1.019.200 tỷ đồng
- Tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước là 1.273.200 tỷ đồng
Trang 14- Mức bội chi ngân sách năm 2016 dự kiến là 254.000 tỷ đồng, tương đương4,95% GDP.
2.2 Thực hiện dự toán Ngân sách nhà nước
2.2.1 Khái niệm
Chấp hành ngân sách là việc thực hiện hiện các quyết định phân bổ ngân sách
đã được phê chuẩn Tuy nhiên châp hành ngân sách không chỉ đơn thuần làtuân thủ ngân sách ban đầu mà phải có sự thích nghi với những thay ổi trongchính sách và được thực hiện một cách hiệu quả
2.2.2 Nội dung
Muốn đảm bảo tiêu chuẩn hiệu quả phân bổ và hiệu quả hoạt đọng , quá trìnhthực hiện ngân sách phải tôn trọng các nguyên tắc sau
+ Ngân quỹ phải được giải ngân kịp thời , đúng lúc
+ Việc thực hiện ngân sách và kế hoạch tiền mặt phải được xây dựng từ trướccưn cứ theo dự toán ngân sách và những cam kết hiện có, tránh trường hợpthiếu tiền mặt dẫn đến việc cấp ngân sách lúc nhỏ giọt , lúc cấp tập
+ Việc điều chinh ngân sách phải được giám sát chặt chẽ
+ Việc hoán đổi giữa các mục chi có lý do chính đáng và không được làm thayđổi mục chi ưu tiên của Chính Phủ.Nguyên tắc hoán chuyển phải được xấydựng sao cho vừa đảm bảo tính linh hoạt trong quản lý vừa kiểm sót được cácmục chi tiêu chính
+ Khuyến khích tăng cường kiểm soát nội bộ đối với việc thực hiện ngân sách
đẻ tránh sự can thiệp quá sâu của các cơ quan trung ương trong việc quản lýNgân sách Tuy nhiên nếu như vậy thì phải có hệ thống giám sát và kiểm soátrất hữu hiệu
+ Có thể cho phép chuyển phần Ngân sách chưa dùng hết sang năm sau , ít nhất
là đối với chi tiêu đàu tư nhưng phải có giám sát chặt chẽ
Trang 152.3 Trình và quyết định dự toán ngân sách tại Quốc hội.
2.3.1 Khái niệm
Quyết toán NSNN là khâu cuối cùng trong một chu trình ngân sách nhằmtổng kết, đánh giá việc thực hiện ngân sách cũng như các chính sách ngânsách của năm ngân sách đã qua Với hàm nghĩa đó, quyết toán NSNN trởthành một khâu quan trọng, là nhiệm vụ của nhiều cơ quan, đơn vị từ đơn vị
sử dụng ngân sách, các cấp ngân sách đến các cơ quan quản lý ngân sách, cơquan kiểm tra kiểm soát ngân sách cho đến cơ quan quyền lực tối cao củamỗi quốc gia là Quốc hội (hay Nghị viện)
2.3.2 Nội dung
Có thể nói rằng, từ trước đến nay vấn đề quyết toán NSNN ít được quan tâmnhất Điều này xuất phát từ quan niệm cho rằng, xem xét quyết toán NSNNchỉ là xem xét lại các vấn đề ngân sách đã diễn ra, vấn đề đã trở thành quákhứ (thậm chí thời gian đã qua tương đối lâu) Nếu như các tranh luận mangtính chính trị thường diễn ra khá gay gắt khi xem xét quyết định dự toánngân sách thì xu hướng ngược lại là ít thấy cuộc tranh luận nào căng thẳngkhi xem xét, phê chuẩn quyết toán NSNN Tuy một thực tế là hầu như luậtpháp của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng lại đề cao vai trò củaquyết toán NSNN Đại đa số các nước đều quy định quyết toán NSNN phảiđược cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Quốc hội hay nghị viện) xemxét phê chuẩn Và điều này đã khẳng định rằng, quyết toán NSNN cũng làvấn đề quan trọng của mỗi quốc gia, cần được nghiên cứu, xem xét kỹlưỡng
Quyết định dự toán ngân sách nhà nước là công việc thuộc thẩm quyền của
hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm Quốc hội và hội đồng nhândân các cấp Theo pháp luật hiện hành, Quốc hội quyết định dự toán ngânsách nhà nước và dự án phân bổ ngân sách trung ương do Chính phủ trìnhcòn hội đồng nhân dân các cấp quyết định dự toán ngân sách và phương ánphân bổ ngân sách cấp mình, địa phương mình trên cơ sở những định hướnglớn được Quốc hội quyết định
Trang 16Xét về khía cạnh nội dung, quyết định dự toán ngân sách nhà nước chính làviệc cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành xem xét, đánh giá, thẩmđịnh và biểu quyết thông qua bản dự toán ngân sách nhà nước.
Về hình thức, quyết định dự toán ngân sách là việc cơ quan có thẩm quyềnban hành nghị quyết thông qua bản dự toán ngân sách và phương án phân bổngân sách do Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp soạn thảo và trình trong
kỳ họp quốc hội và kỳ họp hội đồng nhân dân
Kết quả của việc quyết định dự toán ngân sách nhà nước chính là việc tạo ratính pháp lý cho kế hoạch tài chính năm Đó chính là sự thừa nhận giá trịpháp lý của bản dự toán ngân sách nhà nước bằng nghị quyết của cơ quanquyền lực để trên cơ sở pháp lý đó cho phép cơ quan quản lý nhà nước thihành trên thực tế Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước ngày 18tháng 10 đối với các báo cáo của Chính phủ về dự toán ngân sách nhà nước,phương án phân bổ ngân sách trung ương theo những nội dung sau: đánh giátình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm hiện hành, việc thực hiện cácgiải pháp tài chính - ngân sách theo nghị quyết của Quốc hội, những giảipháp bổ sung để thực hi
ện ngân sách nhà nước năm hiện hành; mục tiêu, nhiệm vụ dự toán ngânsách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương và các giải phápthực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm sau
Thông thường, để có thể thực thi, cần phải trải qua một chu trình ngân sách(Budget Process) để một ngân sách từ dự toán trở thành hiện thực
3 So sánh quy trình ngân sách Việt Nam và Mỹ
3.1 Chu trình Ngân sách ở Mỹ
Chu trình ngân sách ở Mỹ để thông qua một ngân sách tự định tiến hành quanăm bước như sau:
Bước 1: Tổng thống trình dự thảo ngân sách
Tổng thống trình một dự thảo ngân sách lên Quốc hội vào tháng 2 hằng năm chonăm tài khóa tiếp theo, sẽ bắt đầu vào ngày 1 tháng 10 Ví dụ, Tổng thống Obama
đã trình dự thảo ngân sách của mình cho năm tài khóa 2013 vào tháng 2 năm 2012.Năm tài khóa 2013 bắt đầu vào ngày 1, tháng 10 năm 2012, và kết thúc vào ngày
Trang 17Dự thảo ngân sách của tổng thống chỉ là một đề xuất Quốc hội sau đó sẽ xem xét
dự thảo này, và thông qua các luật phân bổ của riêng mình, chỉ sau khi tổng thống
đã ký các dự luật phân bổ ngân sách quốc gia cho năm tài khóa mới
Bước 2: Hạ viện và Thượng viện thông qua các nghị quyết ngân sách của riêngmình
Một khi dự thảo ngân sách của tổng thống đã được trình lên, Quốc hội bắt đầunhững tháng dài để xem xét lại dự thảo này Sau khi tổng thống trình dự thảo ngânsách, và các nhà làm luật đã xem xét cẩn thận, Ủy ban Hạ viện về ngân sách và Ủyban Thượng viện về ngân sách sẽ soạn cho riêng mình một nghị quyết ngân sách.Một nghị quyết ngân sách không phải là một văn bản bắt buộc, nhưng nó giốngnhư một kế hoạch chi tiêu Nó cung cấp khuôn khổ để Quốc hội ra quyết định ngânsách về chi tiêu và thuế Nghị quyết này còn quy định giới hạn chi tiêu hằng nămtổng thể của các cơ quan liên bang, nhưng không quy định mức các mức cụ thể chitiêu cho các chương trình riêng biệt Sau khi Hạ và Thượng viện thông qua nghịquyết ngân sách của riêng mình, một ủy ban chung sẽ được thành lập để rà soát vàthống nhất các điểm khác biệt giữa hai nghị quyết, sau đó sẽ trình lại Hạ vàThượng viện để bỏ phiếu cho nghị quyết ngân sách chung đã được sửa chữa
Bước 3: Các tiểu ủy ban Hạ viện và Thượng viện sửa các dự luật phân bổ
Các ủy ban phân bổ của cả Hạ và Thượng viện đều có trách nhiệm quyết địnhchính xác mức chi tiêu thẩm quyền cho tất cả các chương trình chi tiêu tự quyết.Các ủy ban phân bổ này sẽ chia thành các tiểu ủy ban nhỏ hơn, để rà xét dự thảongân sách trình bởi tổng thống liên quan đến các cơ quan liên bang thuộc thẩmquyền khu vực pháp lý của họ (Các tiểu ủy ban phụ trách các khu vực khác nhaucủa chính quyền liên quan, ví dụ sẽ có tiểu ủy ban phụ trách xem xét chi tiêu quốcphòng, tiểu ủy ban xem xét chi tiêu dành cho năng lượng và nước.) Sau khi cáctiểu ủy ban xem xét dự thảo của tổng thống, Quốc hội sẽ tiến hành các buổi điềutrần và chất vấn các lãnh đạo liên quan đến các cơ quan liên bang mà ngân sách sẽrót tiền cho chúng