Hầu hết các quy trình cổ điển được đánh giá cao sự tự điều chỉnh và kết quả trong cấu trúc liên tục của các chất bay hơi, những quy trình khác phụ thuộc vào các mặt hạn chế của các thuộc
Trang 1MỤC LỤC
5.1.Tóm tắt lịch sử của Bioflavors ( chất thơm sinh học) 2
5.2 Oligo – Isoprenoids (terpen) 4
5.2.1 Sinh tổng hợp terpenoid ở prokaryote 9
5.2.2 Sinh tổng hợp terpenoid tự nhiên từ nấm 13
5.3 Hợp chất béo 16
5.3.1 Acid carboxylic 16
5.3.2 Sản phẩm Lipoxygenase 18
5.3.3 Carbonyls 21
5.3.4 Alkanols 27
5.3.5 Este 30
5.4 Chất thơm (Aromatic) 33
5.4.1 Vanillin 35
5.4.2 Cinnamate 38
5.4.3 Heterocycle 40
5.5 Sự giảm thiểu mùi lạ 46
Tài liệu tham khảo 48
Trang 2Chương 5: Các hợp chất thơm từ vi sinh vật Tổng hợp De Novo
De novo tổng hợp có nghĩa là sự tổng hợp mới các phân tử phức tạp từ những phân
tử phân tử đơn giản như là phân tử đường hay acid amin
Các hợp chất thơm truyền thống được lên men từ thực phẩm, ít nhất là trong giai
đoạn đầu tiên, từ một hệ vi sinh phức tạp mà tác động lên một chỉ một phần đã hiểu con
đường của các tiền chất hóa học của một cấu trúc thực phẩm phức tạp (cf chương 2) Hầu
hết các quy trình cổ điển được đánh giá cao sự tự điều chỉnh và kết quả trong cấu trúc liên
tục của các chất bay hơi, những quy trình khác phụ thuộc vào các mặt hạn chế của các
thuộc tính của chất xúc tác sinh học và các biến sản xuất với nguy cơ sắp xảy ra của sự
hình thành chất phi hương vị Sự phối hợp công nghệ sinh học trong hương liệu đòi hỏi
một vi sinh vật học xác định và môi trường dinh dưỡng không phải thực phẩm Chương
sau đây sẽ chủ yếu thảo luận về công tác tuyển chọn thực hiện với biến đổi, nhưng thường
không được tối ưu hóa môi trường để làm rõ phạm vi và chiều sâu của hướng nghiên cứu
hiện nay Từ một điểm áp dụng xem một phần nhỏ của chủ đề theo cấu trúc hóa học xác
định được cho là thích hợp hơn
5.1.Tóm tắt lịch sử của Bioflavors ( chất thơm sinh học)
Omelianski đã báo cáo mùi của vi sinh vật tự nhiên được giải phóng gắn liền với sự
tích tụ của sự ôi sản phẩm trao đổi chất như axit hữu cơ và rượu trong môi trường của
Mycobacterium tuberculosis và Pseudomonas aeruginosa
Môi trường nuôi cấy của vi khuẩn thường sản xuất các mùi cụ thể nhiều mức độ
khác nhau của cường độ và do đó cho phép chúng tôi nhận ra dễ dàng một số loài Thông
thường, các mùi khó chịu đáng chú ý ở những nơi mà môi trường đại chúng của vi khuẩn
được lưu giữ Mùi được sản xuất bởi các môi trường nuôi cấy có thể là một đặc tính
chung nhóm hay một đặc điểm cụ thể cá nhân Các vi khuẩn gây thối rữa điển hình có thể
là ví dụ, được công nhận bởi mùi riêng của chúng, trong khi môi trường của nấm men,
nấm mốc và xạ khuẩn được dễ nhận ra bởi hương thơm đặc biệt của chúng Môi trường
cổ của Erythrob, prodigiosus tạo ra một mùi đặc trưng của trimethylamine, B fitzianus,
mùi của mồ hôi (axit caproic ester), B odorificus, mùi phân thối, vv Điều này cũng đúng
đối với vi khuẩn gây bệnh: môi trường cũ của Mycob, bệnh lao phổi phát ra một mùi đặc
biệt, Ps pyocyanea, một mùi hơi ngọt, giống như của những bông hoa vôi cây, M
tetragenes và M pyogenes-mùi một phần giống như của keo, vv
Trang 3đặt tên là đúng "vi sinh vật hương thơm sản xuất", bao gồm những loài trong đó sản xuất
trong môi trường nuôi cấy một mùi hương thanh tao mạnh mẽ của cường độ khác nhau,
làm gợi lại một trong những mùi trái cây: dâu tây, dứa, táo, lê, dưa thơm, vv Đây cũng
thuộc về những vi sinh vật, trong đó cung cấp cho các "mùi đặc trưng" cho các sản phẩm
khác nhau được sử dụng cho thực phẩm và đồ uống như sữa, pho mát, bơ, rượu, vv Tên
của các loài thuộc nhóm này được hình thành tương ứng bằng cách thêm tính ngữ: cus
aromati-, aromafaciens, odorus, odoratus, esterifaciens, fragi, fragariae, nobilis, vv, và các
tác giả thường khác nhau mô tả các loài khác nhau dưới cùng tên Có trong ba tài liệu
khác nhau: Bact aromaticum- those of Beijerinck, Pammel và van der Leck, và ba Bact
odoratum-of Henrici, Burri và Weiss
Bên cạnh tiêu chí hóa học và hình thái, chất mùi được bắt nguồn bởi các vi sinh vật
được nuôi cấy đã phục vụ để phân loại các loài trong thế kỷ XIX Một nghiên cứu tổng
thể đầu tiên trong việc tạo ra hương thơm của vi sinh vật xuất hiện sớm nhất là vào năm
1923 (Omelianski) Các mô hình thường được trích dẫn của Pseudomonas aeruginosa,
một bệnh nhân có mùi hơi ngọt gây ra bởi 2-amino acetophenone, chứng tỏ giá trị chẩn
đoán liên quan đến hiển thị mùi (Mann, 1966) Các bác sĩ có kinh nghiệm chú ý đến mùi
của hơi thở, nước tiểu hoặc các cơ quan bị nhiễm bệnh Loài có sự nổi bật đặc tính mùi đã
được gán cho với các epithetons như aroma - ticus, esterifaciens, odorus, odoratus, jragi,
hoặc nobilis Omelianski được xem là hương thơm tạo nên như là một ‘đặc tính dễ thay
đổi’mà hương nhiều hơn hoặc ít hơn nhanh chóng mất đi trong quá trình 'nuôi cấy nhân
tạo' Họ đã đề nghị các hợp chất tự nhiên, ví dụ lá dâu tây để lấy lại dâu tây Trong khi
những ý kiến có lẽ đã được đề cập trước, sự quan sát chăm chú của tiền chất hương thực
vật glycosidic, họ cũng đã chuẩn bị nền tảng để tiếp tục sử dụng các thành phần môi
trường dinh dưỡng phức tạp với các hệ quả sinh hóa không lường của họ Omelianski
được nhận thấy một cách chính xác rằng những thay đổi của mùi của một môi trường vi
sinh vật có thể phát sinh từ các hiển thị phụ thuộc vào sự tập trung được truyền bởi một sự
bay hơi đơn lẻ, hoặc từ một sự thay đổi động lực của toàn bộ hồ sơ của các chất bay hơi
trong quá trình canh tác hàng loạt Sự cô lập của một loại nấm men giống như năm 1889
được mô tả Mùi Sachsia suaveoleus này có thể được gây ra bởi methylbutanols và một số
este của chúng Ban đầu được gọi là 'Weinbouquet Schimmelpilz', dòng này có thể là
giống hệt với một dòng Oidium suaveoleus hoặc Oospora suaveoleus , gần một thế kỷ sau
đó, báo cáo như là một mùi có nguồn gốc của trái cây (Hattori et al., 1974) Omelianskii
cũng được báo cáo là một trực khuẩn monotri chous được phân lập từ sữa và sản xuất một
mùi dâu tây Các este hoá học của vi khuẩn Pseudomonas frafi này đã được đánh giá đầy
đủ chỉ gần đây (Cormier et al., 1991; Raymond et al., 1991; cf Sect 5.3.5) Tiềm năng
vượt trội của nấm bậc cao đã được công nhận sớm (Badcock, 1939) Trong những năm
Trang 41940 dưới sự chỉ đạo của Birkinshaw khởi xướng một loạt các nghiên cứu về các chất
chuyển hóa dễ bay hơi của nấm bậc cao (Birkinshaw and Findlay, 1940; Birkinshaw and
Morgan, 1950) Nếu không có sự trợ giúp của phương pháp sắc ký khí, chất bay hơi của
Lentinus lepideus và Trametes suaveolens đã được xác định như là anisaldehyde và
methyl este của axit p-methoxy cinnamic, axit anisic, và acid cinnamic Các loài trong
Ceratocystis (Endoconidiophora tại thời điểm đó) đã hình thành methylpropyl acetate và
cấu trúc methylheptene Chất dễ bay hơi, terpenes được xác định đầu tiên trong loài
Ceratocystis vào khoảng trước năm 1960, về sau trong một số loài khác (Sprecher et al.,
1975; Drawert and Barton, 1978) Phổ duy nhất của các chất bay hơi của nhiều loài
Ceratocystis đã mê hoặc nhiều nhà nghiên cứu trên khắp thế giới (Collins and Morgan,
1962; Collins, 1976; Lanza et al., 1976) Các chất dễ bay hơi do vi khuẩn ít nhận được
quan tâm, trừ các trường hợp, nơi mà có vấn đề mùi lạ, ví dụ gây ra bởi geosmin trong
nguồn nước uống, đã cần được giải quyết (Gerber, 1968; Collins et al., 1971) Thực phẩm
liên quan các loài, chẳng hạn như Penicillium roqueforti (Gehrig and Knight, 1958) hoặc
loài Cadida (Okui et al., 1963) được nuôi cấy trên môi trường tối thiểu để nghiên cứu sự
hình thành acid béo dễ bay hơi phân hủy Các phần vi sinh của hương pho mát và hương
vị của nấm ăn đã được làm sáng tỏ trong các nghiên cứu kỹ (for example, Dwivedi and
Kinsella, 1974; Pyysalo, 1976)
Với sự ra đời của cặp phương pháp sắc kí khí và khối phổ thì số lượng công bố và
bằng sáng chế tăng lên đáng kể Tổng kết các kỹ thuật của các ý kiến năm 1980, Kempler
kết luận rằng "nhu cầu công nghiệp cho các hợp chất hương liệu cùng với việc
làmsáng tỏ con đường sinh tổng hợp có liên quan phức tạp chắc chắn sẽ dẫn đến các
ứng dụng của quá trình sinh học vi sinh ngày càng tăng để sản xuất hương trong những
năm tới (Kempler, 1983)
5.2 Oligo – Isoprenoids (terpen)
Cấu trúc của terpene bao gồm các monomer được gọi là isoprene Isoprenoid là tên
gọi khác của terpen
Chuỗi hở và vòng mono-và sesquiterpene (3 vòng isoprene) với mức độ khác nhau
của quá trình oxy hóa là những nguyên tắc hóa học và cảm quan của các loại dầu thiết yếu
nhất Mục đích thương mại monoterpene rất quan trọng, chẳng hạn như D-limonene
(giống cam quýt), citral (chanh), tinh dầu bạc hà (làm mát), carvone (cây phòng phong/
bạc hà) và -tecpineol (tử đinh hương) có nhiều trong các loại tinh dầu có sẵn và thường
Trang 5terpenoid bay hơi được giới hạn geosmin, một số các dẫn xuất borane, và
cadin-4-ene-l-ol (Gerber 1968; Ccadin-4-ene-l-ollins et al., 1971; Ger- ber, 1971) Nấm men như là một nguồn của
tecpen dễ bay hơi đã được đề cập trong phần 2.3.1 Chủng Kloeckera và Torulopsis là khả
năng hình thành một lượng thấp của limonene, linalool, -tecpineol, và -myrcene Free
farnesol như một trung tâm terpenoid trung gian cao hơn, đã xuất hiện thoát ra từ các tế
bào trong S.fermentati, S rosei, và cả S.cerevisiae, nếu điều kiện nuôi cấy không ủng hộ
tăng trưởng đều đặn Citronellol sinh tổng hợp bởi Kluyveromyces lactis không phụ thuộc
vào tiền chất đặc biệt, nhưng đã bị kích thích bởi việc bổ sung L-asparagin (Drawert và
Barton, 1978) Điều này có vai trò được ưu tiên trong L-asparagin , trong khi đó, được
khẳng định đối với nhiều vi sinh vật khác Giống Ambrosiozyma, một sinh vật nấm men
giống với quy tắc phân loại, là ngoại lệ duy nhất cho quy tắc và sản xuất monoterpene phổ
biến, chẳng hạn như geraniol hoặc citronellol, trong mg L-1 mở rộng (Klingenberg and
Sprecher, 1985)
'Nấm luôn nhận được điểm nhấn không tốt’ (Wainwright, 1992), nhưng chúng hẳn
nhiên đến nay là các nhà sản xuất linh hoạt nhất trong terpenoid dễ bay hơi Điều này bao
gồm các dòng chính chuyển hóa các hợp chất geraniol, nerol và linalool và các chất tương
tự sesquiterpene họ farnesol và nerolidol (Hanssen và Abraham, 1987; Abraham và
Berger, 1994), cũng như các cấu trúc hiếm chưa được xác định trong bất kỳ nguồn thực
vật nào (Abraham và Arfmann, 1988; Hình 5.1) Nuôi cấy nấm cần phải thông khí Tùy
thuộc vào thời gian nuôi cấy và điều kiện nuôi cấy chung, linalool đã nhanh chóng chuyển
thành ete vòng, đó cũng đã được tìm thấy trong nhiều loại tinh dầu (Abraham và Berger,
1994; Hình 5.2.) Linalool thể hiện một ngưỡng phát hiện mùi rất thấp, và các oxit cyclic
được nghĩa vụ phải đóng góp cho mùi của tinh dầu do các sự dư thừa thường lớn của
chúng Tuy nhiên nghiên cứu tốt nhất và vượt trội trong sự đa dạng và số lượng
monoterpene sản xuất là các loài Ceratocystis (Sprecher et al, 1975; Collins, 1976; Lanza
et al, 1976) Các terpenoid phổ biến nhất được liệt kê trong Hình 5.3 Trong số các
tecpineol, -isomer và có ưu thế hơn acetate của nó Mặc dù tỷ lệ hấp thu của 2- 14
C-mevalonate là thấp, nó đã được kết luận rằng sự sinh tổng hợp theo con đường như sự
hình thành trong các thưc vật bậc cao (Lanza và Palmer, 1977) Năng suất thường thấp đã
được tăng lên thành công hơn bằng cách áp dụng một vật liệu hấp phụ polyme hơn bằng
cách thay đổi của môi trường lên men (Schindler, 1982) Các chất hấp phụ, XAD-2, được
chứa trong một bình bên ngoài, và canh trường bioreactor được luân chuyển qua lòng cố
định để tích lũy các chất bay hơi liên tục (cf chương 10 , 11) Khoảng 1.9 g L-1
trong chất chuyển hóa có mùi cuối cùng đã hồi phục được gần đến khối lượng khô có liên quan
đến số tinh dầu thực vật cần thiết Các kết quả trên có thể được tóm tắt như sau:
Trang 6- Ascomycetes (Ceratocystis) và một loạt các basidiomycetes sản xuất mono-và
sesquiterpene cả về chất lượng và số lượng gần với các nguồn thực vật
Hình 5.1 6- ((Z2) -butenyl) -3-methyl- -pyrone, một mỗi monoterpene liên hợp
tạo ra bởi nấm Fusarium solani (Abraham và Arfmann, 1988)
Trang 7Fig 5.2 Oxidation of genuine (microbial) linalool results in chemically formed
linalool Oxide
- Hình thành các tecpen dễ bay hơi chặt chẽ phụ thuộc vào các chủng (hay đột biến)
được sử dụng, và một chủng sản xuất phải được lựa chọn như bình thường trong
công nghệ sinh học
- Tối ưu hóa các môi trường dinh dưỡng (ví dụ L-asparagin vs nitrat) ảnh hưởng đến
chất lượng và số lượng sản phẩm nhiều hơn nuôi dưỡng mevalonate
- In situ loại bỏ các tecpen sẽ không tránh khỏi tiếp nhận bất cứ thứ gì giống như lợi
suất hấp dẫn về mặt kinh tế
Những trở ngại lớn đối với năng suất cao hơn và các ứng dụng công nghiệp được thể
hiện rõ: Hiện vẫn còn thiếu đáng kể kiến thức về quy chế sinh tổng hợp terpene trong
các vi sinh vật, nghiên cứu hopanoid đã tiết lộ rằng ngay cả những bước đầu tiên tổng
hợp isoprene trong vi khuẩn có thể không tiến hành theo lộ trình sách giáo khoa nói
chung Các aldehyde monoterpene mạnh hơn và xeton hiếm khi được tìm thấy Một số
khó khăn để tổng hợp các cấu trúc sesquiterpene, chẳng hạn như - copaene
(Abraham và Berger, 1994), -bisabolol (Gross et ai., 1989), eleganthol (Arnone et
al., 1993), hoặc những bộ xương drimene đã được xác định (Hanssen và Abraham,
1987; Abraham và Berger, 1994), nhưng các hợp chất hương vị và mùi thơm có cấu
trúc liên quan không được hình thành (Hình 5.4) Các hydrocacbon sesquiterpene
-gurjunene, (E) -caryophyllene, và một cadinene được phân lập từ các môi trường đất
ngập nước có chủng Aspergillus flavus (Zeringue et al., 1993) Bốn trong số tám
chủng tích lũy và phân hủy sesquiterpene và aflatoxin, trong khi các chủng
nonaflatoxigenic không sản xuất tecpen dễ bay hơi Mối tương quan này rõ ràng là
không thể được giải thích bởi một nguồn gốc sinh học di truyền phổ biến Tương tự
như vậy, nhiều vi sinh vật được đánh giá cao về phổ giàu của các chất chuyển hóa thứ
cấp tạo ra geosmin norterpenoid (Hình 5.5) Rượu bậc ba này là một mùi trần tục tiềm
năng sản xuất bởi một loạt các Streptomycetes (Rezanka et al., 1994), Penicillia,
Basidiomycetes, và vi khuẩn lam (Pollak, 1994) Nano đo được cho mỗi lít làm cho
nước không uống được; các hợp chất là tuy nhiên, được coi là có giá trị trong màu đỏ
củ cải và whisky hương và nước hoa Với điều này trong sự chú ý , nỗ lực đã được
thực hiện để làm sáng tỏ sự sinh tổng hợp các geosmin bởi hoặc ức chế hoặc kích
thích sự hình thành của nó, nhưng một bước đột phá vẫn chưa đạt được (Boland et AI,
1993; Mattheis và Roberts, 1992)
Trang 8Hình 5.3 Terpenoids of Ceratocystis strains I=6-Methyl-5-hepten-2-o1 and
derivatives, R=OH/OAc/O, II=Geraniol/ Nero/ acetates, III=Citronello/ acetate,
N=E,E-famesol, V=E- Nerolidol, VI - IX= - -Terpineol
Hình 5.4 Drim-8 (12) dẫn xuất -ene với long diên hương thuộc tính cấu trúc liên quan
đến sesquiterpene phân lập từ các môi trường basidiomycete
Trang 9Hình 5.5 Geosmin, các thành phần ảnh hưởng của hương vị củ cải đỏ và
streptomycetes đất
5.2.1 Sinh tổng hợp terpenoid ở prokaryote
Ở prokaryote (vi khuẩn và vi khuẩn cổ) terpenoid là rất cần thiết và có vai trò quan
trọng trong việc tổng hợp vách và màng tế bào (bactoprenol, hopanoids), chuỗi chuyển
điện tử (ubiquinone, menaquinone) hoặc trong chuyển đổi năng lượng ánh sáng thành
năng lượng hóa học ( chlorophylls, bacteriochlorophylls, rhodopsins, carotenoids) và
trong nhiều quá trình khác Nhưng mặc dù cấu trúc và chức năng đáng chú ý của nó là
khác nhau nhưng chúng đều chuyển hóa từ một chất tiền thân giống nhau là isopentenyl
diphosphate (IPP) và dimethylallyl di phosphate (DMAPP), hai chất này là đồng phân của
nhau và có 2 con đường chính tạo ra 2 chất này trong tế bào là :1 Theo con đường
mevalonate (MVA), 2 Theo con đường 2-C- methyl-D-erythritol 4-phosphate (MEP)
a Con đường mevalonate (MVA)
Trong con đường này chỉ tạo ra một tiền chất ở tế bào động vật và nấm Trong tế
bào thực vật thì tạo ra IPP ở cytosolic, còn trong lục lạp thì tạo tiền chất của terpenoid
theo con đường MEP MVA trong sinh vật bậc cao là con đường chính Trong bước đầu
tiên của con đường này thì 3- hydroxyl- 3- methylglutaryl- CoA (HMG- CoA) được tạo ra
từ sự tụ lại liên tiếp của ba phân tử acetyi- CoA được xúc tác bởi enzyme acetoacetyl-
CoA thiolase (AACT) và HMG- CoA synthase (HMGS) Trong biến đổi đầu tiên, HMG-
CoA chuyển đổi thành MVA trong một phản ứng không thuận nghịch được xúc tác bởi
HMG- CoA reductase (HMGR) Sau đó, MVA được phospholate liên tiếp thành 5-
phosphomevalonate và 5- ddiphossphomevalonate và được decarboxylate tạo thành IPP
bởi enzyme mevalonate kinase (MVK), 5- phosphomevalonate kinase (PMVK) và 5-
điphóphomevalonate kinase decarboxylase (DPMD).Hoạt động của enzyme isomerase
IPP/DMAPP yêu cầu hình thành DMAPP từ IPP.( hình 1)
Trang 10Hình 1 Con đường MVA tổng hợp tiền chất terpenoid
Trong tế bào prokaryote, con đường MVA được tìm thấy ở vi khuẩn cổ và một vài
chủng vi khuẩn bao gồm xoắn khuẩn Borrelia burgdorferi và khuẩn cầu gram dương
Staphylococus aureus và Streptococus pneumonia.Trong các vi khuẩn chứa con đường
Trang 11MVA này thì một vài chủng Listeria monocytogenes và Streptomyces cũng chứa con
đường MEP
Mặc dù tất cả các chủng Streptomyces sử dụng con đường MEP cho tổng hợp tiền
chất terpenoid cần thiết , nhưng một vài loài có thể sử dụng MVA cho việc tạo ra các chất
chuyển hóa thứ cấp như kháng sinh
b Con đường 2-C- methyl-D-erythritol 4-phosphate (MEP)
Con đường MEP đã được mô tả kĩ ở Escherichia coli, một vi khuẩn điển hình, tương
tự hầu hết ở vi khuẩn, ngoại trừ những loài sử dụng con đường MVA Phản ứng đầu tiên
trong con đường MEP là sự hợp nhất của (hydroxyethyl)thiamine có nguồn gốc từ
pyruvate với nhóm aldehyde C1 của D- glyceraldehyde 3- phosphate để tạo ra 1- deoxy-
D- xylulose 5- phosphate (DXP) Phản ứng này được xúc tác bởi enzyme DXP synthase
(DXS) DXP có thể được sử dụng như là một tiền chất cho sự sản xuất của các cofactor
như pyridoxal phosphate (vitamin B6) và thiamine (vitamin B1) diphosphate Khi được
sử dụng trong việc sản xuất terpenoid một sự tái sắp xếp của nội phân tử và biến đổi DXP
thành MEP Trong bước đầu tiên của trao đổi trong con đường MEP thật ra là được xúc
tác bởi enzyme DXP reductoisomerase (DXR) Sau đó, enzyme MEP cytidily transferase
(MCT) và 4- (cytidine 5’- diphospho) 2- C- methyl- D- erythritol kinase (CMK) và 2- C-
methyl –D- erythritol 2,4- cyclodiphosphate (MEcPP) synthase (MDS) chuyển MEP
thành MEcPP, một hợp chất gần đây tìm thấy để tác động như một tín hiệu đi ngược trong
tế bào thực vật Một biến đổi mở của vòng MEcPP xúc tác bởi enzyme 4- hydroxyl-
3-methylbut -2- enyl diphosphate (HMBPP) synthase (HDS) hình thành con đường trung
gian tiếp theo, HMBPP Nó đã được chứng minh rằng trong sự thêm vào 1 chất trung gian
trong con đường MEP HMBPP là một phosphoantigen có tác động lớn, thuộc nhóm chất
hoạt động đặc trưng của tế bào T ở người Trong bước cuối cũng của con đường này,
enzyme HMBPP reductase (HDR) xúc tác đồng thời quá trình tạo thành IPP và DMAPP
theo tỷ lệ sấp xỉ 5:1 (hình 2)
Trang 12
Hình 2 Con đường MEP tổng hợp tiền chất của terpenoid ở vi sinh vật
Trang 13Con đường MEP không hiện diện trong vi khuẩn cổ, nấm và tế bào động vật (ngoại
lệ ở động vật nguyên sinh), nhưng nó được tìm thấy ở hầu hết vi khuẩn và trong lục lạp
Kết quả gần đây đã thiết lập sự tồn tại song song của một sự chuyển hóa thứ cấp
khác trong một số vi khuẩn quang tự dưỡng Rhodospirillum rubrum Trong trường hợp
này, DXP được tìm thấy đã tạo ra từ 5- methylthio- D- ribulose-1- phosphate (MTRP),
một chất trung gian của con đường thu hồi methionine Trong con đường chuyển hóa
song song này để sản xuất ra DXP, một RubisCO không điển hình giống protein (RLP)
isomerizes MTRP thành 1- methylthio- D- xylulose 5- phosphate (MTXP) và sau đó
enzyme MTXP methylsulfurylase (MMS) chuyển đổi MTXP thành DXP Bởi vì gen mã
hóa cho RLP và MMS (cũng như các enzyme khác yêu cầu tạo ra MTRP) được tìm thấy
trong vài nhóm của vi khuẩn
Terpenoid hiện diện trong sinh vật nhân sơ và chức năng của nó (hình 3)
Hình 3 Con đường chuyển hóa terpenoid được tìm thấy ở sinh vật nhân sơ
5.2.2 Sinh tổng hợp terpenoid tự nhiên từ nấm
Các terpenoid đa số được phân lập từ nguồn thực vật và vi sinh vật Ở nấm bậc cao
(Ascomycota và Basidiomycota) được biết đến để sản xuất các hợp chất terpenoid chuỗi
Trang 14trong tự nhên là rất tốt, bao gồm mycotoxin, antibiotic, antitumor, phytohormone Một vài
nghiên cứu ngoại lệ trong con đường sinh tổng hợp ở nấm đa số các gen và con đường
sinh tổng hợp có nhiệm vụ trong việc sinh tổng hợp một số lượng nhỏ các chất chuyển
hóa thứ cấp này chỉ được khám phá trong 5- 10 năm gần đây Ascomycota và
Basidiomycota sẽ là hai nhóm minh họa trong việc sản xuất terpenoid tự nhiên
Ngành Ascomycota (nấm túi) thống kê khoảng 60% các loài nấm đã được mô tả
Loài nấm này gồm nhiều loài nguy hiểm cho người, động vật, và mầm bệnh cho cây như
các loài Aspergillus, Fusarium, Trichoderma với phổ rộng và được biết đến lâu đời trong
công nghệ sinh học công nghiệp, một vài chủng đã được khám phá trong các chuyển hóa
thứ cấp của chúng
Ngành Basidiomycota - nấm đảm (bao gồm các loài nấm mốc hình thành quả thể)
chiếm khoảng 30% các loài nấm đã biết, một số loài trong ngành này đã được mô tả có
vai trò quan trọng trong sự phân hủy các nguồn nguyên liệu thực vật ( gỗ: nấm làm mục
hoặc nấm hoại sinh) hoặc các loài nấm cộng sinh với thực vật (mycorrhizal fungi) Các
loài trong basidiomyceteous rất lớn và đa dạng , một vài trong số đố đã được mô tả và
sinh tổng hơp các hợp chất tự nhiên đã được nghiên cứu kĩ
Nghiên cứu để giải mã con đường chuyển hóa thứ cấp ở mức độ phân tử và sinh
hóa đã được chú trọng kỹ trên Ascomycota (Aspergillus, Fusarium, Penicillum), chúng có
thể được nuôi cấy dễ dành với kỹ thuật trong phòng thí nghiệm Lượng lớn các loài nấm
còn lại chưa được khám phá ra Các chất tự nhiên mới mà trong con đường sinh tổng hợp
của nó tạo ra bao gồm isoprenoid có nguồn gốc từ chuyển hóa thứ cấp Đó là có sự tham
gia của Bacidiomycota, những loài nấm này thuộc loài khó tăng trưởng và không thể nuôi
cấy dưới điều kiện phòng thí nghiệm, ngoại trừ một số loài chịu trách nhiệm trong thao
tác di truyền Thật vậy, nấm lớn đã được sử dụng hàng thiên niên kỉ trong y học truyền
thống và được biết có chứa một loạt các chất có hoạt tính sinh học bao gồm các chất
kháng sinh, chất độc, kháng ung thư…
Tất cả các terpenoid được sản xuất từ nấm được chuyển hóa từ hợp chất 5C
isoprenyl diphosphate IPP và dimethylallyl diphosphate (DMAPP), nó được tổng hợp từ
acetyl- CoA thông qua con đường MVA như đã đề cập ở trên Con đường chuyển hóa
được minh họa ở hình 4
Trang 15Hình 4 Con đường Isoprenoid được sinh tổng hợp trong nấm
Các kí hiệu: ACAT: acetoacetyl – CoA thiolase, HMGS: 3- hydroxyl 3-
methylglutaryl CoA synthase, HMGR, 3- hydroxyl 3- methylglutaryl CoA reductase,
MK: mevalonate kinase, PMK: phosphomevalonate kinase, MDD: mevalonate
diphosphate decarboxylase, IDI: isopentenyl diphosphate isomerase, GPS, FPS,
Trang 16GGPS: geranyl-, farnesyl, geranyl geranyl diphosphate synthase, PT: prenyl
transferase, TPS: terpene synthase, TPC: terpene cyclase, OSC: oxidosqualene
synthase
5.3 Hợp chất béo
5.3.1 Acid carboxylic
Acid cacboncylic là một chuỗi trung bình, mùi bơ thay đổi khi tăng chiều dài
chuỗi, methyl hóa nhánh đặc trưng như axit 3-methylbutanoic có ngưỡng mùi thấp hơn và
có nguồn gốc từ các tiền chất axit amin Độ bão hòa tùy thuộc vào cấu hình chuỗi liên kết
đôi, thay đổi thuộc tính mùi hăng, cay, và tăng chiều dài chuỗi để tạo độ béo và mỡ Axit
béo tự do không chỉ đem lại các mùi thơm của lipit thực phẩm như pho mát, mà còn làm
nổi bật hương vị thức uống trái cây và lên men
Sản xuất axit axetic loãng, sự khởi đầu của công nghệ sinh học rắn hiện đại phụ thuộc
vào sự cố định tế bào của Acetobacter aceti Tế bào cố định là tế bào có sự chuyển động
trong không gian tế bào bị giới hạn, sự giới hạn tế bòa có được bằng đưa nó vào 1 phase
cách ly với phase dung dịch tự do Phase chứa tế bào thường không tan trong nước, là
polymer cao phân tử nước
Vi khuẩn lên men giấm (vi khuẩn acid acetic) là giống Acetobacter với đặc tính chuyển
đổi rượu ethylic (C2H5OH) thành acid acetic (CH3CO2H) bởi quá trình oxy hóa Thực
chất quá trình lên men Acid Acetic là quá trình oxy hóa không hoàn toàn Ethanol thành
Acid Acetic dưới tác dụng của vi khuẩn Quá trình lên men giấm cơ bản là quá trình hai
giai đoạn với giai đoạn đầu tiên là chuyển đổi kỵ khí các loại đường lên men thành
ethanol bằng nấm men, sử dụng loài Saccharomyces, và thứ hai là quá trình oxy hóa hiếu
khí ethanol do vi khuẩn, thường loài Acetobacter (Horiuchi et al., 2000) Vi khuẩn giấm,
còn gọi là vi khuẩn acid acetic, là thành viên của chi Acetobacter với đặc điểm chuyển đổi
ethyl alcohol, C2H5OH thành acid acetic , nấm men Saccharomyces cerevisiae được sử
dụng để chuyển đổi glucose thành rượu ethylic Lên men acetic là bước tiếp theo của quá
trình lên men, trong đó các phân tử rượu được oxy hóa thành acid acetic do tác động của
vi khuẩn Acetobacter aceti tạo hương vị dấm đặc trưng Vi khuẩn sử dụng chất nền
ethanol để chuyển hóa thành sản phẩm trung gian acetaldehyde và cuối cùng thành acid
acetic
Trang 17Phương trình tổng quát:
Cố định (bằng cách ngậm) của Propionibacterium cho sản xuất axit Propanoic đã
được đề cập trong chương 2 Nhóm vi khuẩn propionic (giống Propionibacterium) được
sử dụng trong giai đoạn ủ chín một số loại phomat như Gruỳere, Jarlsberg, Grevé,
Emmenthal, Maasdam… Chúng lên men lactose hoặc chuyển hóa acid lactic thành acid
propionic, CO2 và một số sản phẩm phụ khác Mục đích sử dụng i h ẩn propionic là
tạo nên những lỗ hổng trong cấu trúc một số phomat cứng và góp phần hình thành nên
hương vị đặc trưng cho sản phẩm Phương trình lên men tổng quát như sau:
Trang 185.3.2 Sản phẩm Lipoxygenase
Lipoxygenase một enzyme xúc tác các quá trình oxy hóa của axit béo không no
để tạo thành một peroxide của các axit Chúng xuất hiện rộng rãi trong thực vật, nấm, một
số sinh vật nhân sơ (vi khuẩn lam và proteobacteria) và động vật, nhưng không có trong
côn trùng và vi khuẩn cổ
Lipoxygenases (EC 1.13.11.12) ở nấm xúc tác cho sự peroxy của axit linoleic và
linolenic thành 10-monohydroperoxides
(R)-1-octen-3-ol là kết quả hình thành từ enzyme phân chia linolinic, thường tồn
tại trong quả thể của nấm bậc cao Hai enzyme lipoxygenases (EC 1.13.11.12) và
hydroperoxydase lyase liên quan đến sự hình thành (R)-1-octen-3-ol và
10-oxo-8(E)-decenoic
Hợp chất bay hơi trong hương thơm nấm được sinh ra bởi hoạt động của
hydroperoxide lase và các bước tiếp tiếp theo enzym trong tế bào nấm bị hư hỏng Một
Trang 19vài đề nghị đã được làm về cơ chế phản ứng phân mảnh, nhưng hơn nữa thực hiện toàn bộ
chuỗi Biến động hương thơm nấm được tạo ra bởi các hoạt động của một lyase
hydroperoxide và các phản ứng tiếp theo
Các phản ứng tạo ra mùi hương trong nấm
Một số gợi ý đã được thực hiện liên quan đến các cơ chế của phản ứng phân mảnh,
nhưng công việc tiếp theo là cần thiết hoàn thành đầy đủ toàn bộ chuỗi phản ứng Những
tấn công vật lý hay sinh học làm tổn hại đến sự toàn vẹn của các tế bào nấm bắt đầu phản
ứng bởi màng lipoxygenase và bề mặt của nó Một nghiên cứu toàn diện gần đây đã xác
nhận vai trò tác động trong tám carbonyls (Buchbauer et al., 1993) Lấy mẫu trong môi
trường, chưng cất hơi nước, và chiết dung môi được so sánh để cô lập các hợp chất hương
thơm từ Agaricus campestris, A bisporus, Lepiota procera, Armillaria mellea, Boletus
edulis, và cibarius Cantharellus Các lipoxygenase bắt nguồn carbonyls không chỉ được
xác định trong 'mô' nhỏ, mà còn trong trong khoảng trống ở trên quả thể còn nguyên vẹn
cơ quan Các sản phẩm thứ hai của hydroperoxide lyase, 1o-oxo- (E8) axit -decenoic
(Hình 5.6), kích thích tăng trưởng và kéo dài thân nấm trong A bisporus (Mau et al.,
1992) Điều này đồng ý với sự tham gia dự kiến của sản phẩm lipoxygenase trong việc
bảo vệ hệ thống hóa học (phần 1.5) Các acid tương tự cũng đã được đề nghị ở quả thể
Axit béo 2-hydroxy khác thường đã được tích lũy trong nấm men (Kaneshiro et,
1993), và các acid béo hydroxy và methyl thay thế khác nhau trong Basidiomycetes
(Dembitsky et al., 1993) Trong khi các axit hydroxy không mùi như vậy có thể bị phân
hủy bởi các hoạt động của vi sinh vật lạ, sản phẩm tách bởi sự dễ bay hơi Axit jasmonic
và các dẫn xuất ở vi sinh vật có thể bắt nguồn từ thực vật, ví dụ như từ các axit béo tiền
thân mười tám carbon qua (Z9, Ell, ZI5) -13- axit hydroperoxyoctadecatrienoic (Vick và
Zimmermann, 1984) Một hydroperoxycyclase cung cấp trong một prostaglandin tổng
Trang 20hợp một axit cacboxylic cyclopentanoyl , sau khi 3 lần oxy hóa, sản lượng các axit tiền
thân của mùi methyl epijasmonate (Hình 5.7) Một số hợp chất jasmonoid điều tiết cây
tăng trưởng và già yếu Theo sự tìm thấy của tiền chất phổ biến không mới lạ jasmonate
đã được tìm thấy trong nhiều nguồn thực vật
Hình 5.7: methyl jasmonate Stereoisomer: IS, 2S, và, 2R không mùi; IR, 2R yếu; IR, 2S
mạnh, ngưỡng 3 Ilg L-i
Trang 21Sự hình thành các hợp chất của Jasmonic
Hai chất (+)-7-iso-jasminic acid và (-)-jasmonic acid là thành phần quan trọng của
jasmonic Chúng được tìm thấy trong thực vật bật thấp Các methyl este của axit
epijasmonic góp phần vào hương vị quý giá của dầu jasmin,dầu vỏ chanh và hương trà
đen Các dẫn xuất và hợp chất của axit jasmonic được phân lập từ dịch lọc nuôi cấy của
một chủng đột biến Gibberella fujikuroi và từ một chủng Botryodiplodia (syn
Lasiodiplodia) theobromae (Miersch et ai., 1993) Các chức năng sinh thái học của axit
jasmonic ở môi trường nuôi cấy của vi sinh vật vẫn chưa được biết (cf chương 1, Bảng
1.2)
5.3.3 Carbonyls
Carbonyl là các hợp chất hữu cơ trong phân tử có chứa nhóm carbonyl C=O Nhóm này
gọi là nhóm oxo, do đó hợp chất carbonyl còn gọi là hợp chất oxo
Trong số các keton (là một hợp chất hữu cơ, trong đó nhóm cacbonyl C=O liên kết trực
tiếp với 2 gốc hydrocarbon Công thức tổng quát R-CO-R'), 2-alkanones có số cacbon lẻ
(từ 5C-11C) , cùng với các axit béo tự do và 2-alkanols, xác định mùi thơm phô mai chín
của Penicillium và đã nhận được nhiều sự chú ý
Trang 22Con đường hình thành hợp chất mùi hương từ chất béo trong phomai
- Chất béo trong phomai là thành phần quan trọng để tạo mùi hương Trong các con
đường kể trên, phân giải lipit và biến đổi các acid béo là con đường quan trọng tạo nên
mùi vị của phomai Phân giải lipit, sự thủy phân acid béo tự do từ triglyceride, xúc tác bởi
lipase tạo ra acid béo và glycerol Từ glycerol qua chu trình β-ketoacids để tạo methyl
ketones là một sản phẩm mùi hương trongphomai
Trang 23Kết quả sinh học từ một chu trình oxydase, nơi ester 3-ketoacyl-CoA dư thừa được
tích lũy Một phần của khối này không được xử lý hơn nữa để acetyl-CoA và
acyl-CoA(Acyl-CoA là một nhóm các coenzyme tham gia vào quá trình chuyển hóa của axit
béo) Các hợp chất trải qua quá trình oxy hóa beta , tạo thành một hoặc nhiều phân tử
acetyl-CoA Điều này, đến lượt nó, đi vào chu trình acid citric , cuối cùng hình thành một
số phân tử ATP Axit béo + CoA + ATP ⇌ acyl-CoA + AMP + PP i nhưng sự tự thủy
phân tiếp theo là phản ứng khử carboxyl Đối với sản xuất hương phomai xanh,
conidiospores hoặc nấm sợi Penicillium cố định và liên lạc với các nguồn chất thải từ sữa
có bổ sung dầu dừa hoặc chuỗi axit béo tự do trung bình Các loài nấm mốc thuộc giống
Penicill m như P camemberti, P roq eforti…được sử dụng trong giai đoạn ủ chín một
số loại phomat bán mềm Nhóm vi sinh vật này có khả năng sinh tổng hợp enzyme
protease và lipase ngoại bào, xúc tác chuyển hóa protein và lipid trong khối đông tạo nên
mùi vị đặc trưng cho sản phẩm Bào tử nấm sợi sẽ phát triển thành những khuẩn ty mọc
theo chều dọc các mao quản hình thành do quá trình xăm khối đông Sự sinh trưởng của
hệ sợi nấm k m theo sự thoát hơi nước ra môi trường có ảnh hưởng đôi chút tới cấu trúc
và hình dạng phomat thành phẩm Các enzyme lipase do sợi nấm tổng hợp xúc tác thủy
phân triacylglycerid thành glycerol và các acid béo Tiếp theo một số acid béo có thể bị
phân giải (quá trình β-oxy hóa) và tạo ra methylketon và các sản phẩm phụ như ester và
rượu Trong số những methylketon được tìm thấy trong phomat vân xanh, chiếm hàm
lượng cao nhất là heptanone, ngoài ra còn có nonanone, pentanone và
2-undecanone Quá trình thủy phân lipid và protein trong giai đoạn ủ chín luôn được theo
dõi và điều khiển để đạt mức độ phân giải nhất định Nếu không, chúng sẽ làm thay đổi
cấu trúc, mùi vị, làm giảm giá trị dinh dưỡng và mức độ an toàn của phomat thành phẩm
Hệ thống liên tục và fed-batch với các sản phẩm tích hợp phục hồi phản ánh tình
trạng tiên tiến nghiên cứu trong lĩnh vực này (van der Schaft et ai., 1992a) Vi khuẩn,
chẳng hạn như Aureobasidium (Fukui và Yagi, 1991), nấm men, và các loại nấm bậc cao
sản xuất 2-alkanones, nhưng chỉ Penicillium được sử dụng trong công nghiệp Một nghiên
cứu so sánh trong mười chủng P camemberti trong môi trường liên quan đến phômai,
phát phổ tương tự như các chất bay hơi, nhưng sự khác biệt về số lượng đáng kể (Jollivet
et ai., 1993) Chủng này tốt nhất sản xuất hơn 50 mg 2-alkanonesxL-1 sau 4 ngày ủ Hơn
60% chuyển đổi các thêm tiền thân axit béo được báo cáo Sau 14 ngày ủ hàm lượng các
2 alkanones và tổng số chất dễ bay hơi đã giảm Chuyển đổi 2-alkanols và tiếp tục ketone
hydroxy không bay hơi và diol có thể là lý do Cách khác tạo 2-alkanones, chẳng hạn như
quá trình oxy hóa ankan hoặc chuyển đổi CoA-độc lập của béo axit đang được thảo luận
và làm cho toàn quá trình trao đổi chất nhiều khó khăn hơn
Trang 24
Chỉ hợp chất hương vị quan trọng diketone là carbohydrate 2,3-butandione Có sẵn như
là một sản phẩm phụ của quá trình nuôi cấy sản xuất, các quy trình sinh học phối hợp hơn
nữa đã được trình bày (phần 2.5) Yếu tố rất quan trọng là cung cấp citrate, hoạt độ của
nước, và cố định enzyme Cải thiện chủng bởi đột biến hoặc kỹ thuật di truyền được đề
cập trong chương 8
Alkanals ( hay gọi là andehit) béo thường là các các hợp chất có giá trị mùi trái
cây, chua cay và có đặc trưng chất béo Thông qua sản phẩm trung gian của quá trình oxy
hóa của nó, andehit tuân theo các con đường khác nhau: quá trình oxy hóa của rượu ban
đầu , sự khử axit béo tương ứng, phản ứng aldolase, hoặc bởi một Strecker
decarboxylation tương tự của 2-keto axit Aldehyde trong phomai được tạo ra từ các acid
amin bằng con đường chuyển hóa acid amin, sau đó hình thành các hợp chất trung gian
bằng cách decarbonxylat Các andehyde mạch nhánh 2-methylpropanal, 2-methybutanal
và 3-methylbutanal tạo ra muid mạch nha cho các sản phẩm, nếu ở nồng độ thấp có thể
chuyển sang mùi trái cây.Acetaldehyde, trong pha loãng trong chanh và hương vị sữa
chua, là một ví dụ tốt cho cấu trúc phân tử đơn giản, tính quan trọng trong thương mại đã
trở thành một hợp chất mục tiêu công nghệ sinh học Nhu cầu thị trường đã kích thích
nghiên cứu của một nhóm người Canada để chuyển đổi (sinh học) ethanol với chủng
Candida utilis thích nghi hoặc tế bào Pichia pastoris cố định bằng alginate (Armstrong et
al., 1993)( tìm về quy trình này) Đột biến cao khi sục khí của Zymomonas mobilis có
thể sản xuất acetaldehyde từ glucose Một chuỗi dài aldehyde hình thành hoạt tính của
enzyme đã được ghi nhận ở các loại tảo xanh Ulva Pertusa (Kajiwara et al., 1993) Các
sản phẩm có hương vị rong biển là (ZS, ZII, ZI4) –heptadecatrienal và những loại khác
Nguồn gốc từ các axit béo không bão hòa là một lần nữa rõ ràng Không có như vậy hoạt
động này vẫn chưa được phát hiện trong các tế bào vi sinh vật
Aldehyt chuỗi nhánh, như butanal 3-methyl, 2-metyl butanal và propanal 2-methyl,
là những hợp chất hương vị mạnh Trong nhiều sản phẩm thực phẩm, andehit, như vậy là
hợp chất quan trọng, hương vị Một quá trình quan trọng dẫn đến sự hình thành của các
hợp chất như 3-metyl butanal là phi enzym, nhiệt gây ra, Strecker suy thoái của các nhóm
amin với việc giảm các gốc thuốc đường (Strecker 1862 ) Kể từ khi thực phẩm trong quá
trình sản xuất của họ trong nhiều trường hợp phải chịu một số loại xử lý nhiệt và protein
và carbohydrate thường hiện nay, các điều kiện cho sự hình thành của các aldehyd chuỗi
nhánh được ưa chuộng Ngoài hình hóa, andehit chuỗi nhánh được hình thành trong quá
trình lên men của nhiều loại thực phẩm Mặc dù 3-metyl butanal và các chuỗi ngắn khác,
nhánh aldehyde là các hợp chất hương vị quan trọng trong nhiều loại thực phẩm, các
tuyến đường chuyển đổi sinh hóa đã được nghiên cứu chủ yếu trong các sản phẩm sữa lên
men và chuyển đổi hóa học chủ yếu là liên quan đến phản ứng Strecker (Maillard)