1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÀI THU HOẠCH bồi DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN MODULE 19, 20, 21, 22 cấp thcs

19 2,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 169,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GVCN lớp cần tận dụng những điều kiện đó để thu thập tất cả những thông tin của học sinh để xử lí theo hai phương án: - Với những ý kiến không hợp lí của học sinh thì GVCN giải thích, t

Trang 1

PHÒNG GD&ĐT PHÚ VANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trường THCS Vinh Thái Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN CỦA CÁ NHÂN

NĂM HỌC 2014-2015

I Thông tin cá nhân:

2 Ngày, tháng, năm sinh: Năm vào nghành giáo dục:

3 Trình độ chuyên môn:

5 Trình độ ngoại ngữ: Trình độ tin học:

6 Chức vụ:

- Căn cứ thông tư số 31/2011/TT-BGDĐT ngày 08 tháng 08 năm 2011 của

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành chương trình bồi dưỡng

thường xuyên giáo viên trung học cơ sở

- Căn cứ thông tư số 26/2012/TT-BGDĐT ngày 10 tháng 07 năm 2012 của

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành Quy chế bồi dưỡng thường

xuyên giáo viên mầm non, trung học cơ sở, phổ thông và giáo dục thường xuyên

- Căn cứ kế hoạch của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thừa Thiên Huế về công

tác Bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, trung học cơ sở, phổ thông và

giáo dục thường xuyên năm học 2014 - 2015

- Căn cứ kế hoạch của Phòng Giáo dục và Đào tạo Phú Vang về việc bồi

dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non, trung học cơ sở, phổ thông và giáo dục thường xuyên năm học 2014 - 2015

- Căn cứ kế hoạch của Trường THCS Phú Dương về việc bồi dưỡng thường

xuyên giáo viên năm học 2014 - 2015

- Căn cứ kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên của bản thân năm học

2014-2015, tôi xin báo cáo kết quả bồi dưỡng thường xuyên như sau:

NỘI DUNG 1: CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM

Phần 1: Nhận thức việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng.

A Chức năng, nhiệm vụ và quan hệ của người giáo viên chủ nhiệm:

I GVCN trước hết là người đại diện cho Hiệu trưởng quản lí toàn diện học sinh một lớp học:

Hiệu trưởng không thể quản lí trong lớp học, nắm vững từng học sinh (trừ trường hợp đặc biệt), Hiệu trưởng thường giao trách nhiệm cho GVCN quản lí toàn

Trang 2

diện một lớp học không chỉ là quản lí nhân sự như: Số lượng, tuổi tác, giới tính, hoàn cảnh gia đình, trình độ học sinh về học lực và đạo đức, mà điều quan trọng

là phải đưa ra dự báo, vạch được một kế hoạch giáo dục phù hợp với thực trạng để dẫn dắt học sinh thực hiện kế hoạch đó, khai thác hết những điều kiện khách quan, chủ quan trong và ngoài nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục

1 Quản lí toàn diện hoạt động giáo dục:

- Tiếp thu, nắm vững những đặc điểm của từng học sinh của lớp với tất cả các tiêu chí về nhân thân (họ tên, tuổi, giới tính, địa chỉ, hoàn cảnh gia đình, cha

mẹ, nghề nghiệp), đặc điểm của gia cảnh (về văn hóa, kinh tế, về tâm lí ) Cần đặc biệt quan tâm tới những đặc điểm của học sinh (về sức khoẻ, sở thích, học lực, đạo đức, quan hệ xã hội, bạn bè, tính tình )

- Đánh giá phân loại, xác định những mặt mạnh, mặt yếu của tập thể học sinh GVCN phải xác định được và phân loại học sinh lớp học theo mục tiêu giáo dục toàn diện như: Năng lực học tập, sự phát triển trí tuệ, khả năng học tập các môn

để xây dựng kế hoạch phụ đạo, bồi dưỡng học sinh theo môn học Phân loại được đặc điểm nhân cách, thái độ, đạo đức học sinh, để có kế hoạch tác động cá thể hoá

và phối hợp trong giáo dục Phải phát hiện, nắm vững và phân loại được những học sinh có năng khiếu về các mặt hoạt động như thể dục thể thao (TDTT), văn nghệ, hoạt động xã hội để sử dụng cho các hoạt động của lớp Đặc biệt phải quan tâm tới những học sinh yếu về mọi mặt học tập, kĩ năng để có kế hoạch rèn luyện, bồi dưỡng

- Nắm vững gia cảnh, đặc điểm của các gia đình học sinh Nắm vững đặc điểm gia đình học sinh bao gồm: đời sống kinh tế, nghề nghiệp, trình độ văn hoá của bố mẹ học sinh, bầu tâm lí của gia đình, sự quan tâm của các thành viên, truyền thống, cách sinh hoạt, lối sống của các gia đình khả năng và thái độ của các bậc cha mẹ đối với các hoạt động giáo dục của nhà trường

a GVCN lớp là người đại diện quyền lợi, nguyện vọng chính đáng của tập thể học sinh, là “cầu nối” giữa lớp với Hiệu trưởng và các thầy cô giáo:

Đối với tập thể học sinh một lớp học, không có một giáo viên nào (kể cả Hiệu trưởng) lại có cơ hội, có điều kiện thiết lập quan hệ thân thiện, tự nhiên như GVCN lớp Với ưu thế của GVCN, nhiều người đã xây dựng được mối quan hệ vừa là thầy trò, vừa là anh em, bạn bè là chỗ dựa tinh thần, luôn được học sinh tin yêu, chia sẻ những băn khoăn thắc mắc, bộc lộ những nguyện vọng, khát khao GVCN lớp cần tận dụng những điều kiện đó để thu thập tất cả những thông tin của học sinh để xử lí theo hai phương án:

- Với những ý kiến không hợp lí của học sinh thì GVCN giải thích, thuyết phục bằng tình cảm, bằng sự đồng cảm của một nhà sư phạm có kinh nghiệm , các em sẽ dễ dàng được giải tỏa (không ít những học sinh đòi hỏi, thắc mắc, có những vướng mắc trong quan hệ, về học tập, công việc với bạn bè, thầy cô, cha

mẹ và quan hệ xã hội, nhiều khi không hợp lí)

Trang 3

- Nếu những phản ánh, nguyện vọng thấy cần phải đáp ứng thì GVCN bàn với các thầy cô khác, báo cáo Hiệu trưởng tìm biện pháp giải quyết cho có tình

có lí, tạo cơ hội cho học sinh, tập thể lớp có cơ hội phát triển

b GVCN lớp còn là “cầu nối” giữa nhà trường với gia đình và các tổ chức

xã hội, là người tổ chức phối hợp, liên kết các lực lượng trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục:

Việc xây dựng một môi trường giáo dục lành mạnh là trách nhiệm của tất cả mọi người, mọi thế hệ lớn tuổi, không chỉ là của GVCN Tuy nhiên, đối với môi trường giáo dục học sinh phổ thông, GVCN cần tự xác định phải có trách nhiệm, vì GVCN nắm vững mục tiêu, có năng lực tổ chức phối hợp các lực lượng xã hội và gia đình

Việc thực hiện liên kết giáo dục của GVCN có không ít khó khăn vì vậy cần tận dụng, tranh thủ sự hỗ trợ giúp đỡ của Hiệu trưởng vì cương vị của Hiệu trưởng mới đủ tư cách pháp nhân quản lí để liên hệ với các tổ chức xã hội ngoài nhà trường

II Vị trí vai trò của GVCN:

1 GVCN có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển học sinh của lớp chủ nhiệm:

- GVCN là thành viên của tập thể sư phạm và hội đồng sư phạm, là người thay mặt hiệu trưởng, hội đồng nhà trường và phụ huynh học sinh (PHHS) quản lý

và chịu trách nhiệm về chất lượng toàn diện học sinh lớp mình phụ trách, tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà trường ở lớp chủ nhiệm

- Đối với HS và tập thể lớp, GVCN là nhà giáo dục và là người lãnh đạo gần gũi nhất, người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển, kiểm tra toàn diện mọi hoạt động và các mối quan hệ ứng xử thuộc phạm vi lớp mình phụ trách dựa trên đội ngũ tự quản

là cán bộ lớp, cán bộ Đội và tính tự giác của mọi HS trong lớp

- Trong quan hệ với các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường, GVCN là nhân vật trung tâm để hình thành, phát triển nhân cách học sinh và là cầu nối giữa gia đình, nhà trường và xã hội

2 Công việc của GVCN lớp với GVCN các lớp khác cùng khối:

Trong tổ chức nhân sự của nhà trường, những GVCN thuộc cùng một khối lớp được thiết lập thành một tổ chủ nhiệm khối lớp, có tổ trưởng phụ trách và sinh hoạt theo định kỳ hàng tháng, học kỳ và năm học, là thành viên thuộc tổ, mỗi GVCN cần thực hiện những công việc sau:

- Bàn bạc, thống nhất với những thành viên thuộc tổ về nội dung, kế hoạch, cách thức, tiến bộ các hoạt động chủ nhiệm tương ứng với những thời điểm cụ thể của kế hoạch năm học, trao đổi kế hoạch phối hợp với các khối chủ nhiệm khác trong trường

Trang 4

- Báo cáo hoạt động của lớp chủ nhiệm về các mặt giáo dục, đề xuất thỉnh cầu sự giúp đỡ, phối hợp của các lớp cùng khối đối với một số công việc nhằm tạo phong tráo, phát huy sức mạnh của cộng đồng khối lớp

3 Công việc của GVCN với các giáo viên bộ môn giảng dạy tại lớp chủ nhiệm:

- Nắm bắt số lượng cụ thể giáo viên bộ môn dạy lớp chủ nhiệm, lịch trình giảng dạy của mỗi người trong năm học

- Có hiểu biết cơ bản về tính cách năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, vai trò

và vị thế của mỗi người giáo viên trong trường, hoàn cảnh sống của họ

- Liên hệ mật thiết với giáo viên bộ môn để nắm bắt được tình hình học tập của mỗi học sinh đối với bộ môn họ giảng dạy về thái độ, trình độ nhận thức, kết quả học tập Nhờ những thông tin do giáo viên bộ môn cung cấp, GVCN có thể có được một bức tranh cụ thể, rõ nét hơn về mỗi học sinh, từ đó có được cách thức tác động, điều chỉnh, bổ sung phù hợp với đặc điểm phát triển nhân cách của đối tượng giáo dục

- Thông báo cho giáo viên bộ môn tình hình phấn đấu rèn luyện, những mặt mạnh và mặt yếu của tập thể lớp, những học sinh có năng lực học tập tốt, những học sinh có năng lực học tập yếu kém, những học sinh có phẩm chất đạo đức cần phải lưu tâm, uốn nắn

- Phối hợp với giáo viên bộ môn tổ chức các hoạt động ngoại khoá phục vụ hoạt động dạy học, đồng thời tạo cơ hội để tập thể lớp có được môi trường giao lưu

và tăng thêm khả năng nắm bắt tình hình thực tế xã hội cho mỗi học sinh

- Tổ chức học sinh trong lớp thăm hỏi, động viên các thầy, cô giáo hoặc các bạn có hoàn cảnh khó khăn

4 Giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh cần phải có mối liên hệ gắn

bó, mật thiết:

Để có mối liên hệ gắn bó, mật thiết với phụ huynh học sinh, người giáo viên chủ nhiệm cần phải:

- Liên lạc với phụ huynh ngay khi năm học bắt đầu, có nghĩa là khi tiếp nhận danh sách HS của lớp là tiếp nhận luôn danh sách cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng HS

- Có thể hình thành một bộ phận hồ sơ gửi cho mỗi phụ huynh học sinh để có thông tin như:

+ Tên họ, nghề nghiệp cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng

+ Địa chỉ gia đình

+ Số điện thoại để liên lạc khi cần thiết

+ Những đặc điểm cần chú ý khi giáo dục con em của mình mà gia đình thấy cần thiết đề nghị với GVCN

Trang 5

- Lập một danh sách số điện thoại chung của các gia đình HS gửi cho tất cả các GV của lớp

- Gửi thông báo cho cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng biết về kế hoạch Đại hội cha mẹ HS, kể cả nội dung và ngày giờ cụ thể Có thể gợi ý những vấn đề cần thảo luận cũng như những mối quan tâm đặc biệt về việc học tập của con em mình

5 Xây dựng, bảo quản và sử dụng có hiệu quả hồ sơ giáo dục và giảng dạy:

- Lập đủ hồ sơ để quản lý quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; bảo quản tốt các bài kiểm tra của học sinh

- Lưu trữ tốt hồ sơ giảng dạy bao gồm giáo án, các tư liệu, tài liệu tham khảo thiết thực liên quan đến giảng dạy các môn học được phân công dạy

- Sắp xếp hồ sơ một cách khoa học, đúng thực tế và có giá trị sử dụng cao

- Lưu trữ tất cả các bài làm của học sinh chậm phát triển và học sinh khuyết tật để báo cáo kết quả giáo dục vì sự tiến bộ của học sinh

6 GVCN phải có sự phối hợp với các lực lượng xã hội:

Tận dụng tiềm năng giáo dục trong trường và ngoài xã hội để đạt tới hiệu quả trong việc thực hiện giáo dục là một nhiệm vụ đặc trưng của người giáo viên chủ nhiệm lớp trong trường phổ thông Giải quyết tốt nhiệm vụ này cũng chính là thực hiện xã hội hoá giáo dục, một trong những giải pháp trọng yếu thực hiện chiến lược phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Phần 2: Việc vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được bồi dưỡng vào hoạt động nghề nghiệp thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục.

I Xây dụng kế hoạch chủ nhiệm lớp

1 Sự cần thiết xây dựng kế hoạch chủ nhiệm:

- GVCN là người thay thế Hiệu trưởng quản lý toàn diện tập thể học sinh một lớp học Muốn làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, GVCN phải xây dựng kế hoạch chủ nhiệm

- GVCN là người quyết định chất lượng cao các hoạt động giáo dục của lớp khi GVCN có sự định hướng, tư vấn, chia sẻ tâm tư tình cảm… kịp thời trong quá trình

tự rèn luyện HS

Nếu xây dựng được kế hoạch chủ nhiệm tốt:

- GVCN cùng với lớp xác định được rõ ràng định hướng tương lai cần đạt của lớp học

- Đề ra được các hoạt động ưu tiên và tập trung sức mạnh vào những ưu tiên này Từ đó xây dựng tổ, nhóm HS cùng tiến, lớp học thân thiện, xây dựng và nâng cao tinh thần hợp tác với các lực lượng giáo dục khác

2 Thế nào là kế hoạch công tác chủ nhiệm?

Trang 6

- Kế hoạch chủ nhiệm là chương trình hành động trong tương lai của lớp chủ nhiệm, nhằm xác định một cách chính xác lớp học của chúng ta muốn đi đến đâu và cần phải làm gì, làm như thế nào để đạt được điều đó

- Lập kế hoạch chủ nhiệm là lựa chọn một trong những phương án hành động cho toàn bộ hoặc từng bộ phận trong bộ máy quản lí để đạt được mục tiêu mong đợi trêm cơ sở khả năng hiện tại

3 Nội dung và yêu cầu của bản kế hoạch chủ nhiệm.

3.1 Đặc điểm môi trường lớp học

+ Đặc điểm chủ quan (khó khăn, thuận lợi)

+ Đặc điểm khách quan (cơ hội, thách thức)

Thuận lợi:

- Lớp của chúng ta có những điểm mạnh nào?

- Những thành công của lớp trong năm học vừa qua là gì?

- Chúng ta đã làm những công việc nào có kết quả mĩ mãn nhất ?

- Cá tính, nhân cách GVCN, cán bộ lớp, học sinh… có gì nổi trội?

Khó khăn

- Lớp của chúng ta có những điểm yếu nào?

- Những yếu tố nào dẫn đến thất bại của lớp trong năm học vừa qua?

- Chúng ta đã làm những công việc nào có kết quả kém nhất ?

- Những thất bại của lớp, của cá nhân được diễn ra theo con đường, chiều hướng nào? Có thể làm khác không?

Thời cơ

- Chủ trương sắp tới của Nhà nước.

- Chỉ thị năm học của Bộ

- Kế hoạch năm học (Sở, Phòng)

- Sự quan tâm của lãnh đạo địa phương…

- Phương pháp giảng dạy mới…

* Những thời cơ nêu trên sẽ đem lại những lợi thế gì cho trường, cho lớp chúng ta? Có giúp gì cho nhà trường hay không?

Thách thức

+ Quán net, games, karaoke…, nạn bạo lực học đường, giao thông xuống cấp… có ảnh hưởng không?

Lưu ý:

- Việc phân chia các yếu tố thành điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức không nhất thiết phải là một sự phân chia cứng nhắc, vì “cơ” có thể chuyển thành

Trang 7

“nguy” và ngược lại…Điều quan trọng là khi phân tích, cần chỉ ra được nguyên nhân khiến cho lớp học yếu, kém về một số chỉ tiêu cụ thể nào đó, để từ đó đưa ra giải pháp, tập trung ưu tiên giải quyết nhằm đạt được mục đích mong đợi

- Đề ra chỉ tiêu trong xây dựng kế hoạch nên vừa sức (nhất là chỉ tiêu về mặt học lực) để có thể đạt được Biết rằng chỉ tiêu phải có tính thách thức để cố gắng, nhưng cũng đừng đặt chỉ tiêu cao quá mà không thể đạt nổi

3.2 Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu và các danh hiệu phấn đấu

(Nguồn thông tin để xây dựng: Trên cơ sở phân tích đặc điểm môi trường lớp

và vận dụng nguyên tắc phân tích mục tiêu, phù hợp với đặc điểm môi trường hoạt động của lớp)

a) Yêu cầu đạt được về GD đạo đức, văn hoá, lao động hướng nghiệp và các mặt GD toàn diện khác

b) Các chỉ tiêu phấn đấu

c) Các danh hiệu phấn đấu

3.3 Các biện pháp chính

3.4 Những chuyên đề đi sâu để rút kinh nghiệm

3.5 Điều chỉnh kế hoạch

3.6 Kế hoạch tháng (tuần) (tháng 8 năm trước đến tháng 5 năm sau)(Dự kiến:

Nội dung-Phân công-Thời gian)

3.7 Kế hoạch Sơ kết học kì (HKI từ tháng 8 năm trước đến tháng 1 năm sau;

HK II từ tháng 1 đến tháng 5)(Dự kiến: Nội dung-Phân công-Thời gian)

3.8 Kế hoạch Tổng kết năm học (Dự kiến: Nội dung- Phân công- Thời gian) 3.9 Kế hoạch hoạt động hè (Dự kiến: Nội dung- Phân công- Thời gian)

II Vận dụng kĩ năng xây dựng kế hoạch chủ nhiệm vào công tác chủ nhiệm lớp.

Bản thân tôi đã tiến hành vận dụng xây dựng kế hoạch chủ nhiệm cụ thể, đầy đủ ở

sổ chủ nhiệm Trong quá trình thực hiện kế hoạch bản thân đã đúc rút kinh nghiệm

và có sự điều chỉnh một cách hợp lí, kịp thời

Phần 3: Tự nhận xét và đánh giá:

Qua một năm học tự bồi dưỡng, nghiên cứu vận dụng vào công tác chủ nhiệm, bản thân tôi nhận thấy rằng để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh, giáo viên chủ nhiệm cần phải lập kế hoạch chủ nhiệm cụ thể, khoa học, có chất lượng, phù hợp với điều kiện giáo dục ở địa phương cho mỗi năm học Và cần phải thực hiện theo đúng kế hoạch đã lập ra Mỗi tuần cần có sự đúc rút kinh nghiệm để từ đó có sự thay đổi và lên kế hoạch cho tuần sau một cách phù hợp hơn và có hiệu quả

- Tự xếp loại: Tốt

NỘI DUNG 2: BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ VÀ NHIỆM VỤ NĂM HỌC

Trang 8

Bản thân tôi đã được học tập các Nghị quyết Hội nghị TW 8, Hội nghị TW 9 ; Nắm được tình hình thời sự trong nước, ngoài nước và tình hình phát triển – kế hoạch của Huyện Phú Vang qua đợt học chính trị đầu năm học vào ngày 20, 21 tháng 8 năm 2014, và qua các phương tiện truyền thông đại chúng Tôi đã làm bài thu hoạch vào cuối đợt bồi dưỡng

Bản thân đã nắm được và thực hiện đúng nhiệm vụ năm học theo bản phương hướng hoạt động và nhiệm vụ năm học của nhà trường

- Tự xếp loại: Tốt

NỘI DUNG 3: TĂNG CƯỜNG SỬ DỤNG TBDH VÀ ỨNG DỤNG CNTT TRONG DẠY HỌC.

I DẠY HỌC VỚI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN (THCS 19)

Phần 1: Nhận thức việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng.

1.Tìm hiểu khái niệm CNTT:

CNTT đuợc định nghĩa như sau: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỉ thuật hiện đại – chủ yếu là kỉ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chúc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vục hoạt động của con người và xã hội

CNTT đuợc phát triển trên nền tảng phát triển của các công nghệ điện tử - Tin học-Viễn thông và tự động hoá”

2 Các nguyên tắc khi ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Để việc ứng dụng CNTT trong dạy học đạt hiệu quả mong muốn, người

GV cần đảm bảo thực hiện các nguyên tắc cơ bản sau:

- Việc lựa chọn khả năng và mức độ ứng dụng CNTT trong mỗi bài học phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung và hình thức của bài học đó

- Việc ứng dụng CNTT trong mỗi bài học cần xác định rõ: sử dụng CNTT nhằm mục đích gì, giải quyết ván đề gì, nội dung gì trong bài học

- Đảm bảo cho tất cả HS trong lớp cùng có cơ hội đuợc tiếp cận với CNTT trong quá trình học tập

- Đảm bảo kết hợp giữa ứng dụng CNTT với các PPDH khác, đặc biệt chú ý kết

hợp với các PPDH tích cực

3 Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.

Với các tính năng đa dạng và phong phú, CNTT cỏ thể vận dụng để nâng cao hiệu quả các khâu của quá trình dạy học:

- Ứng dụng CNTT trong tìm kiếm, khai thác tư liệu phục vụ cho dạy học

- Ứng dụng CNTT trong soạn giáo án, thiết kế bài giảng và thực hiện giảng bài trên lớp

Trang 9

- Ứng dụng CNTT trong quản lí lớp học (quản lí HS, điểm, kết quả đánh giá, xếp loại HS, )

- Ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá

- Ứng dụng CNTT để dạy học trên trường học trực tuyến

- Ứng dụng CNTT để quản lý Tổ, thảo luận,trao đổi chuyên môn trong tổ, nhóm chuyên môn

Cụ thể:

a) Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học.

Ngày nay, việc đổi mới phương pháp dạy học trong trường học đang rất được ngành giáo dục và xã hội quan tâm Với mục tiêu dạy học tích cực – lấy học sinh làm trung tâm của hoạt động dạy và học để có thể phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, tạo cho học sinh hứng thú trong học tập Người giáo viên cần phải bồi dưỡng cho học sinh kĩ năng nhận biết bản chất vấn đề, có năng lực tư duy độc lập và vận dụng sáng tạo kiến thức đã học vào thực tiễn Để đạt mục tiêu trên, giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực Một trong những công cụ hữu ích hỗ trợ cho giáo viên, đó chính là ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy học bởi những lí do sau:

- Trong thời đại ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì việc ứng dụng CNTT vào dạy học là phù hợp với quy luật và là một việc làm cần thiết, đem lại hiệu quả thiết thực

- Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Công nghệ thông tin đã góp phần hiện đại hóa các phương tiện dạy học, các phần mềm dạy học đã giúp giáo viên tạo bài giảng phù hợp nhu cầu của học sinh, giúp học sinh có nhiều phương pháp tiếp thu kiến thức Đặc biệt, nó sẽ giúp cho giáo viên tạo ra một lớp học mang tính tương tác hai chiều: giáo viên – học sinh

Do đó, ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp học sinh tiếp nhận thông tin bài học hiệu quả hơn và sẽ biến những thông tin đó thành kiến thức của mình Đồng thời,

nó cũng phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, khai thác nhiều giác quan của người học để lĩnh hội tri thức

- Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học cũng giúp giáo viên bố trí thời gian giảng dạy hợp lý, có thời gian đầu tư cho quá trình dẫn dắt, tạo tình huống có vấn đề để kích thích tư duy sáng tạo và kiểm tra đánh giá học sinh Học sinh có thể

dễ dàng hình dung và có khái niệm chính xác về các hình ảnh, sự vật, hiện tượng khi tiếp xúc với chúng bằng những hình ảnh trực quan (hình ảnh, đoạn phim…)

b) Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học:

Trong năm học vừa qua bản thân đã không ngừng học tập, tự nghiên cứu và đã:

+ Vận dụng công nghệ thông tin vào dạy học một cách khá thành thạo

+ Nắm rõ vai trò, tính chất, đặc điểm, tác động, ứng dụng CNTT trong dạy học

Trang 10

+ Hiểu khá rõ đặc điểm của từng phần mềm (word, Excel, MinMap…), để khai thác và sử dụng trong dạy học

+ Bản thân đã cân nhắc và lựa chọn kĩ các tiết dạy có hoặc không sử dụng

công nghệ thông tin sao cho phát huy được một cách tối đa hiệu quả và đảm bảo mục tiêu bài học

+ Đúc rút được nhiều kinh nghiệm khi ứng dụng CNTT trong dạy học: Không lạm dụng các hiệu ứng trình chiếu phức tạp, nhiều hiệu ứng trình chiếu khác nhau trong một slide Cùng với các hiệu ứng, giáo viên cũng nên chọn những hình nền đơn giản, sáng và phù hợp với bài dạy để thể hiện nội dung một cách rõ ràng Lựa chọn các câu chữ ngắn gọn, súc tích và tường minh, thể hiện rõ nội dung để chiếu lên màn hình Tránh ôm đồm, lạm dụng các tư liệu vào bài giảng, biến tiết học thành buổi xem tranh ảnh, phim tư liệu, không khai thác được kiến thức qua kênh hình, nên hiệu quả và mục tiêu dạy học không đạt được

4 Tác động tích cực của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

- Mở rộng khả năng tìm kiếm và khai thác thông tin cho người dạy và người học: Thông qua việc tra cứu, tìm kiếm thông tin trong các phần mềm và trên các trang web, GV THCS có thể khai thác thông tin hoặc khai thác tranh ảnh, âm thanh, video clip để bổ sung cho bài dạy; HS THCS có thể chủ động tìm kiếm thông tin

mở rộng hoặc các bài tập, bài thực hành cho các kiến thức đã được truyền thụ trên lớp học

- Nâng cao hiệu quả truyền đạt và lĩnh hội tri thức: GV THCS có thể ứng dụng CNTT để soạn giáo án điện tử, trình chiếu trên lớp học trong các giờ lên lớp Thông qua giáo án điện tử, kiến thức có thể biểu dìến dưới dạng kênh chữ, kênh hình, qua đó tạo hứng thú cho người học, kích thích người học chủ động, tích cực trong việc lĩnh hội tri thức

- Tăng cường việc giao lưu, trao đổi thông tin giữa người dạy và người học: Thông qua việc ứng dụng CNTT, GV THCS có thể tạo nhiều cơ hội để người học bộc lộ những quan điểm, suy nghĩ của bản thân về các kiến thức trong bài học cũng như cách truyền thụ kiến thức của người dạy Người dạy dễ dàng tiếp nhận được thông tin phân hồi từ người học và người học được rèn luyện các kỹ năng trao đổi, thảo luận, thuyết trình

- Sử dụng CNTT để trao đổi thông tin, quản lý, hoạt đông chuyên môn của Tổ, Nhóm chuyên môn

- Sử dụng CNTT dạy học trên trường học trực tuyến

- Nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm tra, đánh giá

Ngày đăng: 28/08/2017, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w