Với mong muốn tìm hiểu các căn cứ mà doanh nghiệp ở Việt Nam sử dụng để lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán cung cấp các dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính và các dịch vụ khác, tác giả th
Trang 11
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây đã có sự biến đổi
mạnh mẽ về số lượng các công ty niêm yết Tính đến ngày 31/12/2015 cả nước có
660 doanh nghiệp được niêm yết trên hai sàn chứng khoán Hà Nội (HNX) và Thành
phố Hồ Chí Minh (HOSE) Kiểm toán độc lập có vai trò quan trọng thị trường chứng
khoán ở Việt Nam, là một trong các căn cứ quan trọng trong việc cung cấp thông tin
hỗ trợ các đối tượng sử dụng thông tin ra quyết định Với mong muốn tìm hiểu các căn
cứ mà doanh nghiệp ở Việt Nam sử dụng để lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán cung
cấp các dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính và các dịch vụ khác, tác giả thực hiện
nghiên cứu “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn doanh
nghiệp kiểm toán của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất , tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán
của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Thứ hai , xây dựng mô hình nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu về các nhân tố
ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán ; đánh giá mức độ ảnh
hưởng của từng yếu tố
Thứ ba , giúp người sử dụng thông tin nhận diện được thực tiễn lựa chọn doanh
nghiệp kiểm toán độc lập, đánh giá được độ tin cậy của thông tin tài chính làm cơ sở
cho việc ra các quyết định
Thứ tư , cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho các doanh nghiệp kiểm toán
độc lập về căn cứ lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán của các công ty, những mong
muốn và yêu cầu đối với dịch vụ kiểm toán mà doanh nghiệp kiểm toán cung cấp, giúp
các doanh nghiệp kiểm toán có cơ sở đề xuất các chính sách kinh doanh, quản lý chất
lượng dịch vụ kiểm toán, tìm cách cải thiện và đáp ứng như cầu, mong muốn của
khách hàng đối với dịch vụ kiểm toán
Thứ năm , đề xuất các kiến nghị với các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực kế
toán, kiểm toán trong việc đổi mới và hoàn thiện các chính sách quản lý vĩ mô nhằm
kiểm soát và giám sát thị trường dịch vụ kiểm toán tại Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu:
Câu hỏi nghiên cứu chung: “Những yếu tố nào ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn
2
doanh nghiệp kiểm toán?”
Câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
Câu hỏi 1: Quy mô công ty được kiểm toán có ảnh hưởng như thế nào tới quyết
định lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán?
Câu hỏi 2: Mức độ phức tạp trong hoạt động của công ty có ảnh hưởng tới
quyết định lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán như thể nào?
Câu hỏi 3: Tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài có ảnh hưởng ra sao đối
với quyết định lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán?
Câu hỏi 4: Tỷ lệ Nợ phải trả của công ty có ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa
chọn công ty kiểm toán?
Câu hỏi 5: Tỷ lệ lãi ròng có ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn doanh nghiệp
kiểm toán hay không?
Câu hỏi 6: Công ty niêm yết trên sàn chứng khoán HNX và công ty niêm yết
trên sàn chứng khoán HOSE có khác nhau trong lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán hay không?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận án nghiên cứu các yếu tố thuộc về đặc điểm của
doanh nghiệp như quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp, tính chất phức tạp trong hoạt động của doanh nghiệp, tỷ lệ Nợ phải trả trong tổng tài sản, tỷ lệ lãi ròng của doanh nghiệp, nơi doanh nghiệp niêm yết
Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu về các yếu tố có ảnh hưởng
tới quyết định lựa chọn công ty kiểm của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam mà có báo cáo tài chính năm phải được kiểm toán bởi các doanh nghiệp kiểm toán độc lập
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu và tổng quan các công trình nghiên cứu của các tác giả trong, ngoài nước nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán của các doanh nghiệp nước ngoài, xác định các yếu tố lựa chọn tương đồng với đặc điểm của Việt Nam
- Phỏng vấn sâu một số nhà quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam để nhận diện các căn cứ lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán của các doanh nghiệp, xây dựng mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán của các doanh nghiệp ở Việt Nam
Trang 23
- Thu thập dữ liệu của 276 doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong 3 năm
2013, 2014, 2015 và thực hiện kiểm định mô hình nghiên cứu
6 Ý nghĩa của Luận án
Về mặt lý luận: nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa lại các lý thuyết
nghiên cứu về sự lựa chọn dịch vụ nói chung và dịch vụ kiểm toán độc lập nói riêng,
xây dựng được mô hình nghiên cứu với các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn
doanh nghiệp kiểm toán của các doanh nghiệp Việt Nam
Về mặt thực tiễn:
Thứ nhất, các nghiên cứu về kiểm toán có liên quan đến các nhân tố cơ bản tác
động đến quyết định lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán của các doanh nghiệp tại Việt
Nam chưa được các nhà nghiên cứu thực hiện
Thứ hai , Kết quả nghiên cứu chỉ ra những căn cứ lựa chọn doanh nghiệp kiểm
toán của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay một cách đầy đủ, có căn cứ khoa học
và luận giải rõ ràng dựa trên kết quả phỏng vấn sâu và dữ liệu của 276 doanh nghiệp
niêm yết trên thị trường chứng khoán trong năm 2015
Thứ ba , kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước về
lĩnh vực kế toán kiểm toán, các hiệp hội nghề nghiệp có một cái nhìn đầy đủ và rõ ràng
toàn cảnh bức tranh lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán của các doanh nghiệp Việt Nam,
qua đó đề ra các chính sách quản lý vĩ mô nhằm kiểm soát và giám sát thị trường dịch
vụ kiểm toán độc lập tại Việt Nam
Thứ tư , Kết quả nghiên cứu là cơ sở giúp các doanh nghiệp kiểm toán độc lập
đưa ra các chiến lược và chính sách kinh doanh phù hợp
Thứ năm , nghiên cứu thực hiện phân tích và đánh giá những điểm riêng khác
biệt trong mô hình sự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán của các doanh nghiệp Việt
Nam so với các nước có hoạt động kiểm toán phát triển trên thế giới với luận cứ khoa
học rõ ràng, đầy đủ
7 Kết cấu của Luận án: Luận án có kết cấu gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về lựa chọn doanh
nghiệp kiểm toán
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và khuyến nghị
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ
LỰA CHỌN DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN 1.1 Cơ sở lý thuyết về nhu cầu đối với dịch vụ kiểm toán
1.1.1 Lý thuyết hành vi mua
Theo Sheth et al (1991) khi người mua quyết định mua một sản phẩm, dịch vụ, sẽ
có năm giá trị tiêu dùng tác động đến hành vi mua, bao gồm giá trị chức năng, giá trị điều kiện, giá trị xã hội, giá trị tri thức và giá trị cảm xúc
Mô hình của Sheth hoàn toàn có thể được vận dụng vào mô tả sự lựa chọn đối với dịch vụ kiểm toán độc lập Theo đó, giá trị của dịch vụ kiểm toán độc lập thể hiện ở cả năm nội dung chính là giá trị chức năng và giá trị xã hội, giá trị điều kiện, giá trị tri thức và giá trị cảm xúc Giá trị chức năng của kiểm toán theo quan điểm của Sheth, thể hiện tính hữu ích của dịch vụ kiểm toán không chỉ đối với doanh nghiệp được kiểm toán mà còn hữu ích cả đối với các đối tượng sử dụng thông tin, các cơ quan quản lý nhà nước Giá trị xã hội của kiểm toán thể hiện qua việc lựa chọn các thương hiệu đúng đắn và phù hợp, mang lại tính minh bạch cho thông tin tài chính Giá trị điều kiện của kiểm toán được hiểu là độ hữu dụng nhận được từ một phương án lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán trong điều kiện có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ kiểm toán Giá trị điều kiện này có thể hiểu là những lợi ích khác mà các doanh nghiệp kiểm toán
có thể mang lại cho khách hàng ngoài dịch vụ chính là kiểm toán báo cáo tài chính Giá trị tri thức của kiểm toán theo quan điểm của tác giả, được thể hiện thông qua mong muốn về chất lượng dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính và các dịch vụ khác Còn giá trị cảm xúc của dịch vụ kiểm toán đó là sự hài lòng với nhà cung cấp dịch vụ, hài lòng với nhân viên, từ đó kích thích các nhà quản lý tiếp tục lựa chọn mua cho các lần tiếp sau Năm lợi ích hay giá trị của dịch vụ kiểm toán là căn cứ để các doanh nghiệp ra quyết định lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán
1.1.2 Vai trò của kiểm toán độc lập
Các nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra quyết định thuê kiểm toán với mục đích giảm các chi phí đại diện do sự bất cân xứng thông tin gia tăng trong môi trường nội
bộ Bất cân xứng về thông tin xảy ra theo bốn cấp độ:
Cấp độ thứ nhất là sự bất cân xứng giữa những người điều hành và những người đại diện cho các cổ đông – Hội đồng quản trị
Cấp độ thứ hai là sự bất cân xứng về thông tin giữa các cổ đông và các thành viên hội đồng quản trị (người đại diện cho các cổ đông)
Trang 35
Cấp độ bất cân xứng về thông tin thứ ba xuất hiện khi các cổ đông của một
công ty muốn phát hành cổ phiếu ra công chúng, sự bất cân xứng về thông tin giữa
những người điều hành, chủ sở hữu và những nhà đầu tư tương lai là lớn nhất bởi vì
thực tế là giá cổ phiếu không phụ thuộc vào giá trị sổ sách của tài sản
Cấp độ thứ tư là sự bất cân xứng về thông tin giữa các bên hữu quan (Nhà
nước, ngân hàng, nhà cung cấp, người lao động…) và những người sở hữu và điều
hành công ty
Kinney and McDaniel (1989) rằng khi quy mô của một doanh nghiệp tăng lên,
khả năng kiểm soát các quy trình kinh doanh và kiểm soát doanh nghiệp của các nhà
quản lý giảm Thuê kiểm toán viên độc lập giúp khôi phục lại sự cân bằng trong nội bộ
doanh nghiệp vì kiểm toán giúp nâng cao hiệu quả trong các công ty được kiểm toán
và làm giảm sự phân tán của các phòng ban (Knechel et al., 2008)
Việc mở rộng quy mô doanh nghiệp ra quốc tế cũng có thể nảy sinh vấn đề như
tuân thủ quy định khác nhau về thuế ở các nước Lợi ích khác phát sinh từ một cuộc
kiểm toán bao gồm cải thiện hiệu quả hoạt động do kiểm toán viên đánh giá các quy
trình nội bộ, ngăn chặn các hành động phi pháp quản lý hoạt động, tăng tuân thủ các
quy định pháp lý
1.1.3 Giả thuyết quản lý về vai trò kiểm toán đối với hoạt động quản lý doanh
nghiệp
Giả thuyết này đề cập đến hoạt động kiểm toán của một tổ chức như là một
phương tiện để làm giảm chi phí phát sinh từ những xung đột về lợi ích giữa những
người chủ sở hữu và người quản lý (Jensen and Meckling, 1976), Watts and
Zimmerman, 1983)
Trong môi trường của một doanh nghiệp, DeFond (1992) xác định hai nhân tố
liên quan tới nhu cầu về giám sát bên ngoài của doanh nghiệp đó là (1) sự khác nhau
trong vai trò giữa người quản lý và chủ sở hữu, người sở hữu phải tôn trọng các hành
động của người quản lý và (2), khả năng quan sát không hoàn hảo của chủ sở hữu đối
với các hành động của các nhà quản lý
Hoàn thiện kiểm soát về quản lý nội bộ của doanh nghiệp cũng được coi là một lý
do giải thích cho các nhu cầu kiểm toán của doanh nghiệp
Công việc kiểm toán có thể cung cấp một số lợi ích nội bộ cho một công ty chẳng
hạn như cải thiện hiệu quả quá trình, tăng sự tuân thủ pháp luật và các quy định hoặc
giảm bất đối xứng thông tin nội bộ
Xu hướng quốc tế hóa theo định hướng toàn cầu hóa đang gia tăng, sự mở rộng
các mối quan hệ với các bên tham gia bên ngoài đã khiến cho sự phức tạp trong nội bộ
6 doanh nghiệp ngày càng tăng Kiểm toán viên sẽ giúp khôi phục lại sự cân bằng nội
bộ, nâng cao hiệu quả trong các doanh nghiệp được kiểm toán và giảm sự khác biệt trong các hoạt động, các bộ phận doanh nghiệp (Knechel et al., 2008)
1.1.4 Giả thuyết thông tin về vai trò cung cấp thông tin tài chính tin cậy của kiểm toán
Theo "Giả thuyết Thông tin", kiểm toán viên bên ngoài có thể nâng cao chất lượng thông tin được doanh nghiệp cung cấp, do đó nâng cao chất lượng của các thông tin tài chính cung cấp cho người sử dụng hỗ trợ người sử dụng thông tin trong việc ra các quyết định kinh tế
Giả thuyết về thông tin này có giá trị bao hàm cả việc các nhà quản lý doanh nghiệp muốn thay đổi doanh nghiệp kiểm toán hiện tại sang một doanh nghiệp kiểm toán khác với mong muốn trì hoãn việc công bố thông tin tài chính không tốt của doanh nghiệp
1.1.5 Giả thuyết bảo hiểm về vai trò bảo đảm độ tin cậy thông tin tài chính với người sử dụng thông tin
“Giả thuyết bảo hiểm” (Insurance Hypothesis) đề xuất rằng cuộc kiểm toán được coi là một chính sách bảo hiểm đối với nhà đầu tư Giả thuyết này cho rằng các doanh nghiệp kiểm toán hoạt động như một công ty bảo hiểm đối với các nhà đầu tư, với các ngân hàng, các nhà quản lý
Giả thuyết bảo hiểm cho thấy nhu cầu về kiểm toán được bắt nguồn từ trách nhiệm của các bên tham gia vào các hoạt động tài chính, liên quan đến công bố thông tin cho nhà đầu tư (Wallace, 1980) Bằng cách sử dụng một doanh nghiệp kiểm toán tham gia vào kiểm tra các hoạt động tài chính có thể giảm tổn thất dự kiến về tranh tụng của doanh nghiệp bằng cách chuyển một phần tổn thất dự kiến về các doanh nghiệp kiểm toán
1.2 Tổng quan nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán
Quá trình phỏng vấn sâu các nhà quản lý doanh nghiệp cho thấy, sự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán có thể chịu tác động từ 3 nhóm yếu tố:
Một là, các yếu tố thuộc về đặc điểm của các doanh nghiệp kiểm toán bao gồm chất lượng kiểm toán, danh tiếng, giá phí của doanh nghiệp kiểm toán
Trang 47 Hai là, nhóm yếu tố thuộc về đặc điểm của doanh nghiệp như quy mô, tính
phức tạp trong hoạt động của doanh nghiệp, tỷ lệ sở hữu, lợi nhuận của doanh
nghiệp…
Ba là, nhóm yếu tố khác như yếu tố về thể chế, văn hóa, trình độ, nhận thức của
các nhà quản lý doanh nghiệp
Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu của mình, tác giả chỉ đề cập đến ảnh
hưởng của hai nhóm yếu tố đến sự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán của doanh nghiệp
đó là nhóm yếu tố thuộc về doanh nghiệp kiểm toán và nhóm yếu tố thuộc về các công
ty được kiểm toán
1.2.1 Chất lượng kiểm toán và danh tiếng doanh nghiệp kiểm toán, giá phí
kiểm toán trong quá trình lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán
Klein and Leffler (1981) đã đưa ra định nghĩa về chất lượng: “Chất lượng đề
cập đến mức độ một số đặc tính mong muốn là tốt” DeAngelo (1981) cũng đã đưa ra
một định nghĩa ngắn gọn về chất lượng kiểm toán “Chất lượng dịch vụ kiểm toán được
định nghĩa là việc đánh giá doanh nghiệp kiểm toán trên 2 đặc khía cạnh: Thứ nhất:
Đó là việc doanh nghiệp kiểm toán có phát hiện ra những sai phạm của khách hàng
hay không? Thứ hai: là việc doanh nghiệp kiểm toán báo cáo những sai phạm này”
1.2.2 Nghiên cứu về tác động về sở hữu trong doanh nghiệp đối với sự lựa
chọn doanh nghiệp kiểm toán
Theo El Ghoul và cộng sự (2007), khi cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp gồm
nhiều cổ đông thì có sự sụt giảm trong nhu cầu về doanh nghiệp kiểm toán chất lượng
cao Điều này phù hợp với nghiên cứu của Laeven and Levine (2005) cho rằng khi
doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu kiểm soát, hoạt động giám sát nội bộ sẽ tốt hơn, và
do đó, theo Thornton and Moore (1993) doanh nghiệp ưu tiên thuê một doanh nghiệp
kiểm toán chất lượng thấp hơn
Các doanh nghiệp tìm kiếm tài chính ở nước ngoài hoặc các đối tác nước ngoài
có nhiều khả năng để thuê một doanh nghiệp kiểm toán quốc tế, bởi các doanh nghiệp
kiểm toán này có sự hiểu biết với hệ thống kế toán và chuẩn mực kế toán quốc tế
1.2.3 Nghiên cứu về ảnh hưởng các đặc điểm nội bộ của doanh nghiệp đối với
sự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán
Lennox (2005), với nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô doanh nghiệp và
nhu cầu doanh nghiệp kiểm toán có chất lượng cao, cho thấy một có mối quan hệ tích
cực giữa quy mô doanh nghiệp và sự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán chất lượng cao
8 Abdel- Khalik (1993) tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa nhu cầu cho kiểm toán viên bên ngoài và mức độ phức tạp trong tổ chức của doanh nghiệp
1.2.4 Nghiên cứu nhu cầu nợ của doanh nghiệp và sự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán
Reed và cộng sự (2000) dự đoán rằng các công ty lựa chọn một doanh nghiệp kiểm toán thuộc các công ty "Big Four" để giúp cho việc đàm phán nợ được nhiều hơn Titman and Trueman (1986) cho thấy các nhà quản lý của các công ty có tỷ lệ nợ nhiều nhất có nhiều khả năng lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán có chất lượng thấp Theo Jensen (1993), khoản nợ là một yếu tố có thể xác định được các chi phí vay nợ của doanh nghiệp rõ ràng, cụ thể hơn, có thể kiểm soát được các cuộc xung đột giữa lợi ích của các cổ đông và các nhà quản lý
1.2.5 Nghiên cứu về thay đổi doanh nghiệp kiểm toán
Nghiên cứu của Bagherpour (2004) về sự thay đổi doanh nghiệp kiểm toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Iran cho thấy, khi các công ty có sự thay đổi quyền sở hữu và thay đổi các thành viên trong hội đồng quản trị thì dẫn tới sự thay đổi doanh nghiệp kiểm toán Philip and Siegel (2008) cho rằng lý do mà các doanh nghiệp kiểm toán không tiếp tục thực hiện kiểm toán cho khách hàng nữa và buộc khách hàng của doanh nghiệp kiểm toán phải thay đổi doanh nghiệp kiểm toán xuất phát từ các lý do của khách hàng như kiểm soát nội bộ yếu kém, phát sinh các vấn
đề tranh chấp kiện tụng Stefaniak và cộng sự (2009) chỉ ra rằng chi phí kiểm toán cũng là một trong nhiều nguyên nhân chính dẫn đến việc thay đổi doanh nghiệp kiểm toán
Trang 59
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT
NGHIÊN CỨU 2.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu
2.2 Khung lý thuyết nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa
chọn doanh nghiệp kiểm toán
2.1.1 Quy định của pháp luật về kiểm toán báo cáo tài chính công ty đại
chúng
Pháp luật về chứng khoán (Quyết định số 89/2007/QĐ-BTC) quy định báo cáo
tài chính năm của công ty đại chúng là các tổ chức niêm yết, tổ chức phát hành chứng
khoán phải được kiểm toán bởi doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận
Chương VI Luật kiểm toán độc lập (năm 2011) đã quy định về kiểm toán báo
cáo tài chính báo cáo tài chính đơn vị có lợi ích công chúng, trong đó có công ty niêm
yết
2.2.2 Khung lý thuyết nghiên cứu về lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán của
các công ty niêm yết
Các nhóm yếu tố có ảnh hưởng đến lựa chọn công ty kiểm toán của các doanh
nghiệp ở Việt Nam bao gồm hai nhóm nhân tố:
Một là , các nhân tố liên quan đến doanh nghiệp được kiểm toán như quy mô
doanh nghiệp, tỷ lệ nợ, tỷ lệ lãi ròng, tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài, có
công ty con, nơi (sàn) doanh nghiệp niêm yết
Hai là , các nhân tố thuộc về doanh nghiệp kiểm toán như chất lượng, thương
hiệu của doanh nghiệp kiểm toán
Nghiên cứu tài liệu, tổng quan nghiên cứu
Phỏng vấn sâu các nhà quản
lý
Xây dựng mô hình nghiên cứu
và giả thuyết nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
và mẫu
Thu thập
dữ liệu, mã hóa dữ liệu
Kết luận Kiểm định
giả thuyết,
mô hình nghiên cứu
Chọn mẫu
Ý tưởng
nghiên
cứu
10
2.2.3 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
2.2.3.1 Quyết định chọn doanh nghiệp kiểm toán
Big Four là các doanh nghiệp kiểm toán có tổng doanh số lớn nhất 2.394 tỷ trong tổng số 2.847 tỷ của 10 công ty, chiếm 84,1% doanh thu của 10 công ty lớn nhất,
và cũng là 4 doanh nghiệp có tổng số lượng khách hàng, tổng số nhân viên nhiều nhất Đây là lý do tác giả chọn biến phụ thuộc là sự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán thuộc Big Four hay nhóm doanh nghiệp kiểm toán không phải là Big Four
2.2.3.2 Mức độ phức tạp trong hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng đến việc lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán
Sự phức tạp của doanh nghiệp được đo lường qua: Quy mô doanh nghiệp, doanh nghiệp có công ty con, tỷ lệ hàng tồn kho và nợ phải thu trong tổng tài sản Các nghiên cứu Abbott and Parker (2000), Piot (2001), Fan and Wong (2005), Kane and Velury (2005), Lennox (2005) cho thấy quy mô của doanh nghiệp được kiểm toán là một yếu
tố có ảnh hưởng tới sự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán có uy tín Quy mô doanh nghiệp là một biến xác định bởi logarit tự nhiên của tổng tài sản của một doanh nghiệp được đề cập trong tài liệu của các nhà nghiên cứu như Chow, 1982; DeFond, 1992;
Broye and Weill, 2008; Knechel et al (2008) Giả thuyết nghiên cứu:
H1 Quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến việc lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán chất lượng cao
Phù hợp với Knechel et al (2008), tác giả nghiên cứu sự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán chất lượng cao trong mối quan hệ với sự phức tạp bên trong của tổ chức Knechel et al (2008) cho rằng có một mối quan hệ giữa số lượng giao dịch thực hiện trong doanh nghiệp và tính phức tạp của nó, hay nói cách khác số lượng các giao dịch mua bán thể hiện tính phức tạp trong hoạt động của một doanh nghiệp, được đo lường qua chỉ tiêu Nợ phải thu và hàng tồn kho, hợp với Stice (1991) và Hay, Knechel and
Wong (2006) Giả thuyết nghiên cứu:
H2 : Tỷ lệ hàng tồn kho và nợ phải thu trên tổng tài sản có ảnh hưởng tích cực đến việc lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán chất lượng cao
Knechel (2004) sử dụng biến giả GROUP, sẽ nhận giá trị 1 khi một công ty có công ty con, và nhận giá trị 0 khi một công ty không có công ty con Theo nghiên cứu của Ge and Mc.Vay (2005) khi doanh nghiệp có quy mô lớn với nhiều công ty con thì thường nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp hơn và do đó sự kiểm soát của công ty mẹ với
Trang 611 công ty con sẽ yếu hơn Vì vậy cần có sự gia tăng giám sát với các công ty con thông
qua các doanh nghiệp kiểm toán chất lượng cao Giả thuyết nghiên cứu:
H3: Doanh nghiệp có công ty con thường có xu hướng lựa chọn các doanh
nghiệp kiểm toán chất lượng cao
2.2.3.3 Tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài với việc lựa chọn doanh
nghiệp kiểm toán
Các công ty tìm kiếm tài chính ở nước ngoài hoặc các đối tác nước ngoài có
nhiều khả năng để thuê một công ty kiểm toán quốc tế bởi tính chất toàn cầu của các
công ty kiểm toán này Các doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài cho
rằng các công ty kiểm toán quốc tế có sự am hiểu với hệ thống kế toán nước ngoài
hoặc chuẩn mực kế toán quốc tế Các công ty kiểm toán quốc tế sẽ đáng tin cậy hơn,
có thể giúp doanh nghiệp gia tăng thêm độ tin cậy cho các báo cáo tài chính trong mắt
của người sử dụng thông tin này (Citrone and Manalis, 2000) Giả thuyết nghiên cứu:
H4: Tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài có ảnh hưởng tích cực đến
quyết định lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán chất lượng cao
2.2.3.4 Tỷ lệ nợ của doanh nghiệp trong tổng tài sản có ảnh hưởng đến việc lựa
chọn doanh nghiệp kiểm toán
Chow (1982), lý do làm cho chi phí của doanh nghiệp gia tăng đó là do việc gia
tăng tỷ lệ nợ trong cơ cấu vốn Knechel et al., 2008, sử dụng hệ số tổng nợ phải trả
trên tổng tài sản (DEBT_ASSET) như là một biến để đo tỷ lệ nợ trong một công ty
Một số nghiên cứu trước đây (ví dụ Sundgren, 1998; Broye and Weill, 2008), sử dụng
các định nghĩa khác nhau của đòn bẩy tài chính này, họ đã điều tra tác động của đòn
bẩy dựa vào sự lựa chọn một doanh nghiệp kiểm toán Giả thuyết nghiên cứu:
H5 : Tỷ lệ nợ phải trả của doanh nghiệp có ảnh hưởng tích cực với việc lựa
chọn doanh nghiệp kiểm toán chất lượng cao
2.2.3.5 Tỷ lệ lãi ròng có ảnh hưởng đến việc lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán
của doanh nghiệp
Johnson và Lys (1990) xác định ROA là một biến mà có thể liên quan đến việc lựa
chọn doanh nghiệp kiểm toán Phù hợp với lập luận này, Abbott và Parker (2000) đưa
ra giả thuyết rằng ROA có ảnh hưởng tích cực đến việc thúc đẩy ngành dịch vụ đặc
biệt, ngành kiểm toán Một lập luận khác cho rằng, khi các công ty có lợi nhuận cao thì
sẽ có khả năng chi trả được những khoản phí kiểm toán cao hơn Các nhà nghiên cứu
đã tìm thấy mối tương quan tích cực, nhưng không đáng kể giữa ROA và việc lựa
chọn các doanh nghiệp kiểm toán Giả thuyết nghiên cứu:
12
H6: Các doanh nghiệp có Tỷ lệ lãi ròng trên tổng tài sản (ROA) cao có xu hướng không lựa chọn các doanh nghiệp kiểm toán chất lượng cao
Sự khác biệt lớn về quy mô của các doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn HNX và HOSE có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán của các công ty niêm yết Đây là lý do tác giả đưa thêm biến HOSE vào mô hình để đánh giá xem có
sự khác biệt của các doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn chứng khoán với sự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán hay không Biến HOSE nhận giá trị bằng 0 khi doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE và nhận giá trị là 1 khi doanh nghiệp được chọn niêm yết trên sàn HNX
Giả thuyết nghiên cứu:
H7: Có sự khác biệt trong việc lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán giữa các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HNX và HOSE
Mô hình nghiên cứu:
AUDCHOICE = β0 + β1SIZE + β2INVREC + β3GROUP + β4FORSHA + β5 DEB_ASSETS + β6 ROA + β7 HOSE + Ui
2.3 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp lấy mẫu
n =
1 +
Trong đó: N: Là số lượng tổng thể, n: Cỡ mẫu, e: là sai số tiêu chuẩn Theo đó, nếu tổng thể doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn HNX và HOSE là 698 doanh nghiệp, độ chính xác 95%, sai số tiêu chuẩn là +-5% thì số lượng mẫu cần chọn là: 255 doanh nghiệp Trong quá trình lấy mẫu, số lượng mẫu được gia tăng lên 276 doanh nghiệp bởi doanh nghiệp được chọn theo tỷ lệ của từng ngành để phục vụ phân tích đảm bảo tính khách quan cho các nhóm ngành khác nhau
2.3.2 Tổng hợp và phân tích dữ liệu
AUDCHOICE là biến định tính nhận hai giá trị 0,1 (=1 Nếu doanh nghiệp chọn một trong các công ty Big4 ; =0 nếu các doanh nghiệp không chọn các doanh nghiệp kiểm toán thuộc Big4) Tác giả sử dụng hồi quy Binary Logistic trong SPSS20 để kiểm định mô hình nghiên cứu.
Trang 713
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kết quả phỏng vấn các nhà quản lý doanh nghiệp về lý do chọn doanh
nghiệp kiểm toán của doanh nghiệp
Trong số 28 doanh nghiệp đã và đang được kiểm toán thì có 10 doanh nghiệp
chọn doanh nghiệp kiểm toán Big4 (chiếm tỷ lệ 35,7%), 18 doanh nghiệp không lựa
chọn các doanh nghiệp kiểm toán Big4 mà lựa chọn các doanh nghiệp kiểm toán trong
nước (chiếm tỷ lệ 65,3% trong số mẫu khảo sát)
Kết quả phỏng vấn về lý do và căn cứ lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán:
1 Lựa chọn dựa trên danh tiếng doanh nghiệp kiểm toán và chất lượng kiểm toán:
28/28 công ty đều cho rằng chất lượng là ưu tiên hàng đầu khi doanh nghiệp lựa
chọn doanh nghiệp kiểm toán
2 Tiêu chí Giá phí/số tiền sẵn sàng chi trả cho một hợp đồng kiểm toán
14/28 doanh nghiệp: tiêu chí ưu tiên trong lựa chọn công ty kiểm là chất lượng
kiểm toán và danh tiếng các doanh nghiệp kiểm toán ví như Big4 8/28 doanh nghiệp
cho rằng khi các doanh nghiệp kiểm toán có chất lượng tương đương nhau thì sẽ lựa
chọn các doanh nghiệp kiểm toán có giá phí ưu đãi hơn 1/28 nhà quản lý cho rằng
“Giá phí kiểm toán là yếu tố quan trọng để lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán, nếu giá
phí quá cao thì công ty không thể đáp ứng được, các bên sẽ cân nhắc để quyết định
giá phí phù hợp 1/28 nhà quản lý cho rằng các doanh nghiệp trong nước có giá cả
cạnh tranh, chất lượng khá tốt 1/28 nhà quản lý thì không quan tâm đến giá phí và
công ty nào kiểm toán
3/28 nhà quản lý cho rằng các doanh nghiệp kiểm toán thường đưa ra mức phí
phù hợp với điều kiện, quy mô của doanh nghiệp và thị trường, các doanh nghiệp
trong nước mức phí thường rẻ hơn
3 Tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài:
Cả 5/5 nhà quản lý doanh nghiệp có sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài cho
rằng khi doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn hoặc đầu tư vào
doanh nghiệp thì họ đều muốn báo cáo tài chính của doanh nghiệp được kiểm toán bởi
các doanh nghiệp kiểm toán Big4
4 Tính phức tạp trong hoạt động của doanh nghiệp
(1) Quy mô doanh nghiệp với việc lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán
14 24/28 nhà quản lý cho rằng công ty có quy mô lớn thì thường có xu hướng lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán lớn 4/28 nhà quản lý cho rằng vì là công ty Nhỏ và vừa nên không có ý định mời doanh nghiệp kiểm toán thuộc Big4 kiểm toán
(2) Doanh nghiệp có công ty con
24/28 nhà quản lý được hỏi cho rằng một công ty có công ty con có thể có ảnh
hưởng đến việc lựa chọn công ty kiểm toán 4/28 nhà quản lý công ty cho rằng có thể doanh nghiệp sẽ không thuê các doanh nghiệp kiểm toán lớn để kiểm toán toàn bộ với các công ty con vì chi phí kiểm toán có thể là một trở ngại
(3) Tỷ lệ hàng tồn kho và nợ phải thu trong tổng tài sản
26/28 nhà quản lý được phỏng vấn cho rằng tỷ lệ hàng tồn kho và nợ phải thu trong tổng tài sản không có liên quan/không ảnh hưởng đến quyết định chọn doanh nghiệp kiểm toán của công ty 2/28 nhà quản lý không có ý kiến về vấn đề này
5 Nợ phải trả:
27/28 nhà quản lý cho rằng nhiều doanh nghiệp có xu hướng báo cáo nợ phải trả thấp hơn thực tế nhưng sẽ chưa chắc coi Nợ phải trả là căn cứ để lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán
6) Lợi nhuận của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến chọn doanh nghiệp kiểm toán hay không?
19/28 nhà quản lý cho rằng không căn cứ vào việc doanh nghiệp có lãi hay không để chọn công ty kiểm toán 2/28 nhà quản lý cho rằng nếu doanh nghiệp báo lỗ nhưng các nhà đầu tư yêu cầu báo cáo tài chính phải được kiểm toán bởi các doanh nghiệp kiểm toán lớn thì các nhà quản trị doanh nghiệp không có lý do gì để thoái thác việc này được 7/28 nhà quản lý cho rằng nếu doanh nghiệp lỗ thì có lẽ sẽ không chọn các doanh nghiệp kiểm toán có giá phí cao như Big4 được
7 Ảnh hưởng của mức độ phức tạp trong hoạt động của doanh nghiệp tới lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán
24/28 doanh nghiệp cho rằng mức độ phức tạp trong hoạt động của công ty tỷ lệ thuận với quy mô của doanh nghiệp nên có thể ảnh hưởng đến lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán 4/28 nhà quản lý doanh nghiệp cho rằng các doanh nghiệp có nhiều công ty con thì tương ứng với quy mô lớn nên có thể sẵn sàng thuê doanh nghiệp kiểm toán lớn kiểm toán
8 Về mức độ hài lòng với doanh nghiệp kiểm toán:
Trang 815 28/28 doanh nghiệp đều hài lòng với dịch vụ kiểm toán mà các doanh nghiệp
kiểm toán cung cấp 10/28 doanh nghiệp được các doanh nghiệp kiểm toán lớn như
Big4 kiểm toán thì rất hài lòng với dịch vụ mà các công ty này cung cấp
9 Các yêu cầu khác đối với kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán
28/28 doanh nghiệp đều cho rằng đội ngũ nhân viên kiểm toán thực hiện kiểm
toán phải thực sự chuyên nghiệp, hiểu khách hàng, làm việc nghiêm túc, có khả năng
tư vấn cho khách hàng trong các vấn đề về tài chính, kiểm soát nội bộ, tham gia tư vấn
cho các công ty về chính sách thuế
4/28 doanh nghiệp cho rằng thời gian phát hành báo cáo kiểm toán còn chậm,
có thể do các nguyên nhân khách quan như chờ kết quả thư xác nhận nhưng điều đó
làm ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp 1/28 doanh nghiệp yêu cầu các doanh
nghiệp kiểm toán bảo mật thông tin của khách hàng
3.2 Kết quả kiểm định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn doanh
nghiệp kiểm toán
3.2.1 Thống kê mô tả
Bảng 3.1: Số lượng và tỷ lệ doanh nghiệp kiểm toán được chọn
AUDCHOICE
Frequency Percent Valid Percent Cumulative
Percent
Valid
16
3.2.2 Kiểm tra mối liên hệ giữa các biến định tính
Bảng 3.4 Kiểm định Chi-Square cho mối liên hệ giữa các biến định tính
Chi-Square Tests
Value df Asymp Sig
(2-sided)
Exact Sig
(2-sided)
Exact Sig (1-sided)
Continuity Correctionb 41.218 1 000
Linear-by-Linear Association 42.155 1 000
a 0 cells (0.0%) have expected count less than 5 The minimum expected count is 117.49
b Computed only for a 2x2 table
3.2.3 Phân tích tương quan giữa các biến độc lập
Bảng 3.5: Tương quan giữa các biến
Correlations
AUDCHOICE HOSE GROUP FORSHA ROA INVREC DEBT_A
SSET SIZE
INVREC -.071* 094** 029 -.084* -.185** 1 DEBT_ASSET -.029 025 118** -.179** -.338** 412** 1 SIZE 456** -.571** 453** 333** -.005 -.044 270** 1
** Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed)
* Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed)
Trang 917
3.2.4 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập
Bảng 3.6 Kết quả phân tích hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập
Coefficientsa
Model
Unstandardized Coefficients
Standardized Coefficients
t Sig
Collinearity Statistics
B Std
1
(Constant) -3.387 302 -11.223 000
GROUP -.061 031 -.068 -1.980 048 735 1.360
DEBT_AS
a Dependent Variable: AUDCHOICE
Khoảng cách Cook là một biện pháp khác được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng
của một quan sát Khoảng cách Cook trong bảng (Cook's Distance) có giá trị rất nhỏ
(0.004) và nằm trong khoảng (0;1) nên có thể thấy trong mẫu chọn không có giá trị
quan sát nào bất thường Điều này không làm ảnh hưởng đến các dự đoán và kết quả
chạy mô hình Kết quả được thể hiện trong bảng 3.7
18
Bảng 3.7 Kết quả kiểm định Leverage và khoảng cách Cook
Residuals Statisticsa
Minimum Maximum Mean Std Deviation N
Standard Error of
Stud Deleted Residual -2.239 2.684 001 1.002 828
a Dependent Variable: AUDCHOICE
3.2.5 Phân tích mô hình hồi quy
Bảng 3.8 Kết quả kiểm tra đối với các hệ số β
Omnibus Tests of Model Coefficients
Step 1
Bảng 3.10 Kết quả kiểm định sự phù hợp của mô hình
Model Summary
Step -2 Log likelihood Cox & Snell R Square Nagelkerke R Square
a Estimation terminated at iteration number 6 because parameter estimates changed by less than 001
Bảng 3.11 Kết qủa dự đoán sự lựa chọn doanh nghiệp kiểm toán
Trang 1019
Classification Tablea
Observed
Predicted AUDCHOICE Percentage
Correct Non_Big4 Big4
Step 1
AUDCHOICE
a The cut value is 500
Bảng 3.12: Kết quả kiểm định mô hình Variables in the Equation
Step 1a
a Variable(s) entered on step 1: HOSE, GROUP, FORSHA, ROA, INVREC,
DEBT_ASSET, SIZE
Trái với dự đoán ban đầu, đặc điểm GROUP có ảnh hưởng tiêu cực đến việc lựa
chọn doanh nghiệp kiểm toán chất lượng cao Hay nói cách khác, doanh nghiệp ở Việt
20 Nam có công ty con thường không có xu hướng thuê doanh nghiệp kiểm toán Big4 thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính cho cả công ty mẹ và công ty con
Biến FORSHA (tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài) có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu Theo đó, các doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu
tư nước ngoài trong cơ cấu vốn càng cao thì càng có xu hướng lựa chọn các doanh nghiệp kiểm toán chất lượng cao như Big4
Biến INVREC (tỷ lệ Nợ phải thu và hàng tồn kho trong tổng tài sản) không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu Điều này trái với các nghiên cứu của một số tác giả như Knechel et al (2008)
Biến DEBT_ASSET (Tỷ lệ nợ phải trả chia cho tổng tài sản) có ảnh hưởng tiêu cực đến việc lựa chọn công ty kiểm toán Big4 Điều này hoàn toàn khác biệt so với các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu như Blackwell, Noland và Wind (1998); Pitman và Fortin (2004), Maxwell (2005), Causholli và Knechel (2007) cho thấy việc một doanh nghiệp yêu cầu hỗ trợ tài chính từ bên ngoài có ảnh hưởng tích cực đến việc thuê một doanh nghiệp kiểm toán Big4
Biến kiểm soát ROA được đo lường bằng tỷ lệ lãi/lỗ trên tổng tài sản không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu, trái với dự đoán ban đầu khi cho rằng các doanh nghiệp có lợi nhuận cao thì thường có xu hướng lựa chọn các doanh nghiệp kiểm toán chất lượng cao Điều này là không phù hợp với nghiên cứu trước đó (ví dụ như El Ghoul và cộng sự, 2008)
Thống kê mô tả và kết quả hồi quy đều cho thấy các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán HOSE có tỷ lệ chọn doanh nghiệp kiểm toán Big4 cao hơn tỷ lệ chọn Big4 của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HNX
=−27.012− 0.679 +2.197 +.041
− 1.674 !"_ " + 0.517 + %