--- NGUYỄN VIỆT DUY NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG BÓN ĐẠM VÀ TƯỚI NƯỚC ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CHÈ TRONG VỤ ĐÔNG - XUÂN TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ K
Trang 1-
NGUYỄN VIỆT DUY
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG BÓN ĐẠM VÀ TƯỚI NƯỚC ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CHÈ TRONG VỤ ĐÔNG - XUÂN TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - 2016
Trang 2-
NGUYỄN VIỆT DUY
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG BÓN ĐẠM VÀ TƯỚI NƯỚC ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG CHÈ TRONG VỤ ĐÔNG - XUÂN TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số ngành: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Văn Điền
Thái Nguyên - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Việt Duy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận
được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS Trần Văn Điền đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ công nhân viên chức trong Ban giám hiệu, Khoa Nông học; Khoa Sau đại học - Trường Đại học Đại học nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo - Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên - Ban quản lý dự án và phát triển chè Thái Nguyên - Viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc - Trạm khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên - Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đồng Hỷ - Đảng ủy, UBND xã Hòa Bình đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã giúp đỡ động viên và khuyến khích tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Việt Duy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ vii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu 3
1.2.2 Các yêu cầu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Nhu cầu dinh dưỡng và vai trò của các yếu tố dinh dưỡng đối với cây chè 8
1.2.1 Nhu cầu dinh dưỡng 8
1.2.2 Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng 9
1.3 Nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước 12
1.3.1 Những nghiên cứu về cây chè trên thế giới 12
1.3.2 Những nghiên cứu về cây chè ở Việt Nam 17
Chương 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.4 Phương pháp nghiên cứu 25
Trang 62.4.1 Bố trí thí nghiệm 25
2.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi 27
2.5 Phương pháp diều tra và sử lý số liệu 32
Chương 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và tưới nước đến khả năng sinh trưởng và phát triển của chè trong vụ đông - xuân 33
3.2 Ảnh hưởng của đạm và nước tưới đến yếu tố cấu thành năng suất 42
3.3 Ảnh hưởng của đạm và nước tưới đến thành phần cơ giới búp chè 51
3.4 Ảnh hưởng của đạm và nước tưới đến một số chỉ tiêu chất lượng nguyên liệu chè 55
3.5 Ảnh hưởng của đạm và nước tới đến sâu bệnh hại chè 56
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
1 Kết luận 58
2 Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Tài liệu tiếng việt 60
Tài liệu tiến nước ngoài 62
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Từ viết tắt Viết đầy đủ
FAO : Tổ chức Nông nghiệp và lương thực Thế giới PTNT : Phát triển nông thôn
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến thời gian bật mầm sau đốn
của chè LDP1 34 Bảng 3.2 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến đợt sinh trưởng trung bình
của chè LDP1 36 Bảng 3.3 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến chiều cao cây chè LDP1 37 Bảng 3.4 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến độ rộng tán chè LDP1 39 Bảng 3.5 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến chiều dài búp trung bình
chè LDP1 40 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến mật độ búp chè LDP1 42 Bảng 3.7 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến khối lượng búp chè LDP1 44 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến khối lượng tươi của chè LDP1 46 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến năng suất thực thu của chè
LDP1 47 Bảng 3.10 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến độ dày tán chè LDP1 49 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến độ dày tầng lá chè LDP1 50 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến tỷ lệ búp có tôm LDP1 51 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến tỷ lệ búp mù xòe LDP1 52 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của đạm và nước tưới đến thành phần cơ giới búp 54 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của đạm và nước tưới đến một số chỉ tiêu chất lượng
nguyên liệu chè 55 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của đạm và nước tưới đến diễn biến sâu bệnh hại chè 56 Bảng 3.17 Hiệu quả kinh tế của mô hình thí nghiệm 57
Trang 9DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Trang
Hình 3.1 Động thái thời gian đợt sinh trưởng của chè LDP1 35
Hình 3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây chè LDP1 38
Hình 3.3 Động thái tăng trưởng độ rộng tán chè LDP1 giữa 2 lần đo 40
Hình 3.4 Chiều dài búp chè LDP1 qua các lứa 41
Hình 3.5 Mật độ búp chè qua các lứa 43
Hình 3.6 Khối lượng búp chè qua các lứa hái 45
Hình 3.7 Khối lượng tươi chè LDP1 theo lứa hái 47
Hình 3.8 Năng suất thực thu theo lứa hái 48
Hình 3.9 Tỷ lệ búp có tôm theo lứa 52
Hình 3.10 Tỷ lệ búp mù xòe theo lứa hái 53
Trang 10MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết
Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis O.Kuntze Cây chè và các sản
phẩm của chè đã được các dân tộc trên thế giới biết đến và sử dụng từ lâu đời Chè là một thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu Uống chè đã trở thành tập tục và là nhu cầu văn hoá mang đậm bản sắc của các dân tộc Trong dân gian người dân sử dụng chè làm vị thuốc chữa tả lị, sỏi thận, đau dạ dày và trở thành thức uống giải khát phổ thông cho mọi tầng lớp nhân dân Ngày nay con người đã sản xuất nhiều loại chè có tác dụng giải nhiệt, an thần, chè lợi mật, chè chữa thận… Khoa học hiện đại đã đi sâu nghiên cứu bản chất cây chè và đã phát hiện ra hàng trăm hoạt chất quý trong chè Thành phần hoá học chủ yếu của
lá chè là Tanin chiếm 20 - 35%, cafein chiếm 2,5% Trong lá chè còn chứa nhiều loại vitamin A, B, K, PP, đặc biệt có rất nhiềuvitamin C Chính vì vậy chè có tác dụng tốt trong phòng và chữa bệnh đường ruột, chống nhiễm khuẩn (nhờ Tanin),
có tác dụng lợi tiểu (do Teofilin, Teobromin), kích thích tiêu hoá mỡ, chống béo phì, chống sâu răng, hôi miệng Chất Catechin trong chè còn có chức năng phòng ngừa phóng xạ, ung thư, phòng bệnh huyết áp cao, chống lão hoá
Thái Nguyên là tỉnh trung du và miền núi phía Bắc có diện tích đồi lớn,
điều kiện đất đai khí hậu phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè
Xưa nay, nói đến trà Việt, người ta nghĩ ngay đến trà Thái Nguyên Với diện tích trồng chè khoảng 18.500 ha, đứng thứ 2 cả nước (sau Lâm Đồng), Thái Nguyên nằm trong vùng chè lâu đời của Việt Nam, với sản phẩm chè có hương
vị đặc trưng mà không nơi nào khác có được Từ rất lâu, chè Thái Nguyên đã
được tôn vinh là "đệ nhất danh trà" của đất nước Cây chè được coi là cây kinh
tế mũi nhọn của tỉnh Thái Nguyên, tuy chưa thể giúp người dân làm giàu theo hướng đột phá nhưng là loại cây “xóa đói, giảm nghèo”, bởi nó có nhiều lợi thế như dễ chăm sóc, chi phí ban đầu không quá cao, thu hoạch lâu dài, giúp người dân ổn định đời sống
Trang 11Trong những năm vừa qua, tình hình sản xuất chè gặp không ít khó khăn
cả khâu sản xuất và tiêu thụ do thị trường tại những nước truyền thống có phần giảm sút, đã làm cho sản xuất chè có những thời điểm xuống thấp Mấy năm gần đây, thị trường xuất khẩu có những chuyển biến tích cực, bà con nông dân
có những cách nhìn đầy đủ hơn về cây chè, yên tâm hơn và có những thay đổi
về các biện pháp kỹ thuật thâm canh để sản xuất chè đông nhằm tăng hiệu quả kinh tế cho gia đình
Dựa vào quy luật sinh trưởng, phát triển của cây chè, cùng với các kết quả nghiên cứu của các Viện nghiên cứu, các nhà khoa học về cây chè cho thấy: nhiệt độ và lượng mưa trong năm có là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến khả năng ra búp của cây chè Vụ đông trong năm nếu được cung cấp đủ lượng đạm, tưới đủ nước, giữ ẩm cho chè thì cây chè vẫn cho búp bình thường Dựa vào đặc
điểm này nhiều nơi trên cả nước đã tiến hành thực hiện xây dựng nhiều mô hình
sản xuất chè qua đông khuyến cáo cho bà con nông dân phát triển trên diện rộng
và đã đạt được những kết quả tốt ngoài mong đợi Vụ đốn chè sẽ được chuyển sang tháng 4 năm sau (vào chu kỳ nghỉ sinh lý ngắn của cây chè)
Nhu cầu sử dụng chè của người dân ngày càng cao, đặc biệt là trong vụ
Đông - Xuân, xung quanh dịp tết nguyên đán, ngày lễ cổ truyền của dân tộc thì
nhu cầu sử dụng chè cao hơn rất nhiều Bên cạnh đó, ở các tháng vụ Đông - Xuân là thời điểm giá rét, mưa ít, sương muối nhiều làm cho cây chè sinh trưởng chậm, năng suất thấp gây ra hiện tượng giá chè xanh tăng đột ngột làm mất cân đối giữa cung và cầu trên thị trường
Xuất phát từ những thực trạng nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật để sản xuất chè qua đông tại huyện Đồng Hỷ là có
cơ sở khoa học và thực tiễn Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu
ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và tưới nước đến năng suất và chất
lượng chè trong vụ Đông - Xuân tại huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên ”
Trang 121.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc nghiên cứu liều lượng bón đạm và tưới nước dến năng suất và chất lượng chè đông, đề tài sẽ góp phần giải quyết sự mất cân đối giữa nhu cầu tiêu dùng cao về chè và sự giảm nhanh sản lượng chè trong vụ đông – xuân, tạo công ăn việc làm, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người làm chè
Đồng thời bước đầu xây dựng quy trình kỹ thuật bón phân cho chè qua đông
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Sản xuất chè vụ đông - xuân là quá trình áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng tốt trong cả vụ đông - xuân, khi nhiệt độ thấp, ít mưa Sản xuất chè đông - xuân có tác dụng rải vụ thu hoạch chè, tạo việc làm cho người làma chè trong các tháng vụ đông - xuân, tạo ra sản phẩm chất lượng tốt, có giá trị kinh tế cao, tăng thu nhập cho người làm chè
Theo nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện sinh thái đến sinh trưởng búp chè, các nhà khoa học Trung Quốc và Việt Nam đều cho rằng độ không sinh vật học của cây chè là 100C, tức là trong điều kiện nhiệt độ lớn hơn 100C, thì cây chè vẫn sinh trưởng búp Mặt khác sản lượng búp chè hàng tháng có quan hệ rất chặt với lượng mưa, những tháng có lượng mưa nhỏ hơn 50mm/tháng thì sản lượng chè chỉ đạt dưới 5% tổng sản lượng cả năm, những tháng có lượng mưa
50 - 100 mm/tháng sản lượng chè hàng tháng đạt từ 5 - 10% tổng sản lượng cả năm, những tháng có lượng mưa trên 100mm/tháng, sản lượng hàng tháng đạt trên 10% tổng sản lượng cả năm Như vậy trong các tháng vụ đông, vụ xuân ở vùng trung du và miền núi phía bắc nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất đều trên 100C thì yếu tố hạn chế năng suất chính là lượng mưa, nếu tưới đủ ẩm cây sẽ sinh trưởng búp và cho thu hoạch
Thực tế ở vùng trung du miền núi phía bắc cho thấy sản lượng chè các tháng vụ đông, vụ xuân giảm mạnh, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ chè tăng nhanh làm cho giá chè tăng mạnh có khi gấp 1.5 – 2 lần những tháng giữa vụ Một trong những khó khăn của sản xuất chè là sản lượng chè phân bố không đều giữa các tháng trong năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 7, 8, 9 (chiếm 40 - 50%) tổng sản lượng cả năm Sản xuất chè vụ đông – xuân sẽ rải vụ
Trang 14thu hoạch chè, rải vụ chế biến chè, tạo việc làm cho người làm chè vào các tháng vụ đông – xuân
Khi tiến hành sản xuất chè vụ đông, cần thay đổi thời gian đốn chè, chuyển
từ đốn theo truyền thống cũ là vào tháng 11, 12 trong năm sang đốn vào thời gian tháng 4 năm sau (vào chu kỳ nghỉ sinh lý ngắn của cây chè) để tăng thu nhập, rải
vụ chè, giải quyết việc làm cho người dân trong những tháng nông nhàn Tuy nhiên, vấn đề sản xuất chè qua đông chỉ áp dụng ở những nương chè có độ dốc vừa phải, gần nguồn nước tưới hoặc phải xây bể để dự trữ nước tưới cho chè Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế, trong đó cây chè vẫn là cây trồng mũi nhọn của tỉnh Hiện nay, vấn đề tăng thu nhập cho người nông dân được Tỉnh
uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh và các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm Bên cạnh đó việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất chè còn gặp nhiều khó khăn do trình độ của người dân chưa đồng đều, ngại thay đổi phương thức canh tác theo truyền thống cũ
* Điều kiện sinh thái của cây chè
- Điều kiện khí hậu:
+ Lượng mưa: Lượng mưa trung bình trong năm thích hợp cho sinh trưởng của cây chè trên thế giới là 1500- 2000 mm Ở nước ta lượng mưa trung bình các vùng trồng chè là 1750- 2500 mm/năm, phù hợp với sinh trưởng cây chè
Số ngày mưa ảnh hưởng rất lớn đến lao động hái chè, cũng như chế biến chè Mưa còn ảnh hưởng đến chất lượng chè, vụ đông- xuân chè có chất lượng cao, vụ hè thu chè có chất lượng thấp Mưa phùn, mưa xuân có lợi cho sinh trưởng của cây chè vì tăng độ ẩm không khí Mưa ít phân phối đều, xen kẽ vài ngày nắng thúc đẩy sinh trưởng của cây chè Độ ẩm không khí tương đối cần thiết cho cây chè là 80- 85%
Trang 15+ Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí có lợi cho sinh trưởng chè là: 22- 280 c, búp chè sinh trưởng chậm ở 15 - 180c, dưới 100c mọc rất chậm Nhiệt độ cao từ 300c chè sinh trưởng chậm, nhiệt độ 400c chè bị khô xém ở bộ phận non Ngược lại nhiệt độ ở - 40c vài ngày làm cho cây chè bị xém khô Ở Trung Quốc mùa đông phải che tán chè bằng các túp lều rơm để chống rét cho chè Biên độ, nhiệt độ ngày và đêm lớn có lợi cho chất lượng chè (Tây Nguyên, Sơn La), ở vùng thấp, biên độ nhiệt ngày và đêm nhỏ chất lượng chè kém hơn
+ Ánh sáng: Cây chè là một cây trung tính, trong giai đoạn cây con cây chè
ưa dóng râm, khi lớn lên ưa ánh sáng Ánh sáng tán xạ ở vùng núi cao có tác
dụng tốt đến phẩm chất chè hơn ánh sáng trực xạ Sương mù nhiều, ẩm ướt và nhiệt độ thấp ở núi cao là nơi sản xuất chè chất lượng cao trên thế giới
- Điều kiện đất đai:
Tiêu chuẩn chọn đất là tầng đất dày từ 60 - 100 cm, mực nước ngầm dưới
100 cm Đất phải chua, Độ chua pH là chỉ tiêu quyết định tới đời sống cây chè, với cây chè độ chua thích hợp nhất 4,5 - 5,5 Đất giàu mùn và chất dinh dưỡng, nhất là đối với đạm
Kết cấu đất: Đất kết cấu viên, hạt tơi xốp giữ nước nhiều, thấm nước nhanh
có lợi cho sự phát triển của bộ rễ và vi sinh vật trong đất
Thành phần cơ giới: Đất thị pha cát đến thịt nặng, có chế độ nước và không khí điều hòa thuận lợi cho hoạt động của các quá trình hóa học và vi sinh vật trong đất
Trang 16Qua cơ sở khoa học nêu trên và yêu cầu về điều kiện sinh thái của cây chè, tỉnh Thái Nguyên tương đối thích hợp cho sản xuất chè vụ Đông, thông qua các biện pháp tưới, làm đất giữ ẩm cho chè nhằm khắc phục yếu tố hạn chế lớn nhất
đến cây chè vụ Đông là mưa ít, nhờ vậy mà cây chè sinh trưởng búp thuận lợi
và cho thu hoạch sản lượng
* Sản xuất chè vụ đông- xuân
- Đốn chè: Đốn từ 15 đến 30 tháng 4 (đốn vào giai đoạn cây chè có chu kỳ nghỉ sinh lý ngắn)
- Tưới nước: Là biện pháp quyết định đối với sản xuất chè vụ đông - xuân Thời kỳ tưới: Bắt đầu tưới có hiệu quả khi lượng mưa giảm Ở Thái Nguyên có thể tưới vào cuối tháng 9 đầu tháng 10 trở đi, kết thúc tưới khi có mưa rào (tháng 4, tháng 5)
Lượng nước tưới: 600 - 700 m3/ha/tháng, chia làm 3- 4 lần/tháng tương
đương 7- 8 m3/sào/tháng/lần, tháng tưới 3- 4 lần) Lượng nước tưới, số lần tưới
phụ thuộc vào lượng mưa, mưa nhiều thì tưới ít và ngược lại Tháng 2, tháng 3 hàng năm khi ẩm độ không khí lớn cần tăng lượng nước tưới trong một lần và giảm số lần tưới/tháng nhằm hạn chế bệnh phồng lá
- Các biện pháp giữ ẩm: Dùng cuốc lật đất rộng 50- 60 cm giữa hai hàng chè vào tháng 9, tháng 10 khi bắt đầu tưới và tháng 4, tháng 5 sau đốn
Tủ giữ ẩm: Vật liệu tủ là rơm, rạ, guột, cỏ dại, cỏ lạc và các sản phẩm phụ của nông nghiệp như thân ngô, đỗ, cành lá già
Lượng tủ: 30 tấn/ha (1- 1,1 tấn/sào) Thời gian tủ vào tháng 9, tháng 10 khi
đất còn ẩm, sau khi cuốc lật đất hoặc vào tháng 4, tháng 5 sau đốn
- Bón phân: Phân hữu cơ bón 20- 30 tấn/ha (0,72- 1,08 tấn/sào) Tùy thuộc vào khả năng sinh trưởng của nương chè, khả năng cho năng suất của nương chè mà tính lượng phân vô cơ cho thích hợp
Trang 17- Phòng trừ sâu bệnh: Sản xuất chè vụ đông- xuân có lợi thế là nhiệt độ thấp, sâu hại, bệnh phát sinh phát triển chậm Vì vậy chỉ sử dụng thuốc khi xuất hiện sâu bệnh hại nặng
Lưu ý, phòng bệnh phồng lá: Tháng 2, tháng 3, ẩm độ không khí cao cần giảm số lần tưới, tăng lượng nước tưới trong một lần tưới, dọn cắt cành lá, cây che bóng giúp cho vườn chè thông thoáng
- Thu hoạch: Thu búp một tôm hai lá, các tháng sản xuất chè vụ đông - xuân (tháng 10 đến tháng 3 năm sau, không chừa lá thật, chỉ chừa lá cá và lá vảy
ốc) Các biện pháp kỹ thuật khác cần tiến hành như đối với những nương chè
bình thường
1.2 Nhu cầu dinh dưỡng và vai trò của các yếu tố dinh dưỡng đối với cây chè
1.2.1 Nhu cầu dinh dưỡng
Cây chè thích hợp trồng trên đất chua vừa đến ít chua, độ dày tầng đất càng sâu thì cây chè sinh trưởng, phát triển càng tốt và tuổi thọ của cây chè càng kéo dài So với các cây trồng khác thì cây chè có khả năng sống ở những nơi đất cằn cỗi, nghèo kiệt dinh dưỡng mà vẫn cho thu nhập Tuy nhiên muốn cây chè cho năng suất cao, chất lượng tốt có nhiệm kỳ kinh tế dài thì cần phải bón phân đầy đủ sao cho đất trồng chè cần phải đạt những yêu cầu sau:
có ở trong đất thì việc bón phân cho chè là một biện pháp có hiệu quả
Trang 18Phân bón có vai trò quan trọng đối sinh trưởng và năng suất chè Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho thấy: Hiệu quả của phân bón cho chè chiếm từ 50 – 60% tổng hiệu quả của các biện pháp nông học đối với năng suất chè
1.2.2 Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng
*Dinh dưỡng đạm đối với chè:
Cây chè là cây trồng thu hoạch lá nên đạm là chất dinh dưỡng quan trọng nhất Năng suất búp phụ thuộc chặt chẽ vào lượng bón N (Grice, 1982; Marwaha và Sharma, 1977; Sandanam và Rajasingham, 1987) [25, 26, 27]
Các thí nghiệm tại Trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy: Bón đạm làm tăng năng suất từ 2 – 2,5 lần so với đối chứng không bón [ 8 ]
Về phẩm chất: Các tài liệu Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đều cho rằng bón N không hợp lý (bón quá nhiều hoặc bón đơn độc) làm giảm phẩm chất chè, đặc biệt là sản xuất chè đen Bón quá nhiều N làm cho hàm lượng tanin, cafein giảm, protein tăng, hàm lượng ancaloit tăng, chè có vị đắng [ 8 ]
Theo dõi của Assam thấy rằng hiệu lực của đạm tăng đều đặn theo thời gian, hiệu suất 1 kg đạm của lần 1,2, 3, 4 lần lượt là 2, 4, 6, 8 kg chè khô Ở
Đông Phi cho thấy: Hiệu suất của 1 kg đạm là 4 – 8 kg chè khô, nếu hiệu suất
là < 4 kg chè khô/1 kg đạm thì đã xuất hiện một yếu tố nào khác là lân hay kali Theo M.L.Bziava (1973) liều lượng bón đạm tăng, sản lượng búp sẽ tăng, song để đạt được năng suất 10 tấn/ha thì bón 200 kg N là hiệu quả nhất [ 8].
* Dinh dưỡng kali đối với cây chè
Kali có trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân, cành và các
bộ phận đang sinh trưởng Nó tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây làm tăng khả năng hoạt động của các men, tăng sự tích lũy gluxit, các axitamin
và khả năng giữ nước của tế bào, nâng cao năng suất, chất lượng búp chè, làm
Trang 19tăng khả năng chống bệnh, chịu rét cho chè
Thiếu kali rìa lá có vết nâu, búp nhỏ, lá nhỏ, rụng lá nhiều Ở những nương chè mới trồng, phân bón kali thường có hiệu quả thấp vì trong đất hàm lượng kali còn cao (khoảng 20 – 25 mg K2O/100g đất) còn đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây [8].
Về chất lượng chè, kali lại ảnh hưởng rất rõ đến chất lượng chè, theo
theo thứ tự P, K, N và sau cùng là phân bón
Quy trình bón phân cho chè của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam năm
1988 quy định: Năng suất đạt 60 - 100 tạ/ha, bón 80 - 100 kg K2O/ha, năng suất > 100 tạ/ha bón 100 - 120 K2O/ha [8].
* Dinh dưỡng lân đối với cây chè
Theo Enden (1958), trong búp non của chè có 1,5% P205 Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quan trọng trong việc tích luỹ năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét và chống hạn cho chè Thiếu lân lá chè xanh thẫm và có vết nâu hai bên gân chính, búp nhỏ, năng suất thấp [ 8].
Các tài liệu nghiên cứu của Liên Xô, Việt Nam và nhiều nước khác cho thấy: Bón lân làm tăng năng suất chè rõ rệt, đặc biệt bón lân trên nền N, K Đất
mà thiếu N, K cũng làm giảm hiệu quả của phân lân đối với chè Điều đáng chú ý là bón lân có hiệu quả phải tương đối dài, thậm chí đến 20 – 25 năm sau Theo nghiên cứu của F.Hurisa (Liên Xô) thì hiệu quả trực tiếp của 3 năm bón lân và liều lượng 120 – 960 kg/ha trên nền N, K tăng sản lượng búp 5 – 30%
so với đối chứng chỉ bón N, K song hiệu quả tăng, sản lượng bình quân 21 năm về sau là 60 – 78% [ 8 ]
Trang 20Kết quả sơ bộ thí nghiệm 10 năm bón N,P,K cho chè của trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy: Trên cơ sở bón 100 N/ha, 50 P2O5/ha trong từng năm không có chênh lệch đáng kể về năng suất nhưng từ năm thứ 7 trở đi thì bội thu do phân bón là rất rõ rệt và chắc chắn, bình quân 10 năm 1 kg P2O5 làm tăng được 3,5 kg chè búp tươi [ 8].
Kết quả nghiên cứu của Curxanop (1954) và T.C.Migaloblisvili (1966)
ở Liên Xô đã khẳng định bón phân lân trên nền N, K làm tăng Catechin trong
búp chè có lợi cho chất lượng chè
Trong đất nếu hàm lượng P2O5 là 30 – 32 mg/100g đất thì cây chè sinh trưởng bình thường, nếu là 10 – 12 mg/100g đất thì thiếu lân
Quy trình bón P2O5 của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam 1988 quy
định 5 năm bón P2O5 1 lần với liều lượng 100 kg/ha bón kết hợp với phân
chuồng sau khi đốn, bón sâu khoảng 20 – 30 cm [ 8 ]
* Phân bón hữu cơ cho chè
Đối với chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cung
cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như làm cho
đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm
tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật học trong đất, làm tăng các thành phần dinh dưỡng N, P, K và các nguyên tố vi lượng khác trong đất
Tuy vậy việc sử dụng phân hữu cơ cho chè ít được quan tâm, nhất là đối với vùng miền núi do địa hình khó vận chuyển, nguồn phân hữu cơ còn hạn chế, người dân không biết kỹ thuật chế biến phân xanh ủ phân hữu cơ tại chỗ Bón phân hữu cơ cho chè có hiệu quả và cần thiết nhất là khi cây chè còn nhỏ và khi gieo trồng Do đó khi gieo trồng chè nhất thiết phải bón đầy đủ lượng phân hữu
cơ hoặc trồng xen với các loại cây họ đậu làm tăng lượng chất hữu cơ cho đất Theo kết quả nghiên cứu của Viện chè Phú Hộ cho thấy việc bón phân hữu cơ kết hợp với vô cơ thì năng suất chè sẽ tăng 30 – 32% so với sử dụng riêng rẽ phân vô cơ [ 2].
Trang 21Theo quy trình bón phân hữu cơ cho chè của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam quy định: Đối với chè kinh doanh 3 năm bón một lần với lượng 20 – 30 tấn/ha kết hợp với phân lân [ 8 ]
Bón phân trả lại cho đất các chất dinh dưỡng mà cây đã lấy đi là rất quan trọng và cần thiết Muốn bón phân hiệu quả thì phải bón phân đúng nguyên tắc như: Bón theo tuổi và năng suất cây; Bón cân đối các yếu tố N, P, K, bón bổ sung phân trung lượng và vi lượng khi cần thiết; Bón đúng lúc và đúng cách,
đúng đối tượng, bón lót đầy đủ, bón thúc kịp thời; tùy theo điều kiện đất đai, khí
hậu mà quy định lượng phân, tỷ lệ bón cho thích hợp
1.3 Nghiên cứu chè trên thế giới và trong nước
1.3.1 Những nghiên cứu về cây chè trên thế giới
1.4.1.1 Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của cây chè
Chè là cây lâu năm, có hai chu kỳ phát triển là chu kỳ phát triển lớn và chu
kỳ phát triển nhỏ
Chu kỳ phát triển nhỏ là chu kỳ phát triển hàng năm của cây chè Hàng năm vào mùa đông, khi điều kiện tự nhiên không thuận lợi như nhiệt độ thấp, khô hạn… cây chè sinh trưởng và phát triển chậm dần và ngừng sinh trưởng khi nhiệt
độ thấp hơn 100C Cây chè sinh trưởng trở lại khi nhiệt độ và ẩm độ tăng dần
Chu kỳ phát triển lớn hay còn gọi là chu kỳ phát dục cá thể của cây, bao gồm cả đời sống cây chè, được tính từ khi ra hoa chè được thụ phấn, hình thành hạt, mọc thành cây, qua nhiều năm sinh trưởng phát triển đến khi già cỗi và chết Chu kỳ này thường kéo dài 30- 50 năm, có khi tới hàng trăm năm
Các tác giả đã chia chu kỳ phát triển của cây chè ra làm 5 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Giai đoạn phôi thai (giai đoạn hạt) được tính từ khi hoa được thụ phấn, hình thành hạt và quả chín
- Giai đoạn 2: Giai đoạn cây con tính từ khi hạt nảy mầm mọc thành cây cho đến khi cây ra hoa kết quả lần đầu tiên
Trang 22- Giai đoạn 3: Giai đoạn cây non được tính từ khi cây ra hoa đầu tiên cho tới khi cây có bộ khung ổn định (từ năm thứ 2 – 3 đến năm thứ 4 sau trồng)
- Giai đoạn 4: Giai đoạn chè lớn (giai đoạn kinh doanh sản xuất) thời kỳ này kéo dài 20- 30 năm có khi tới 50- 60 năm phụ thuộc vào điều kiện giống,
đất đai và điều kiện canh tác
- Giai đoạn 5: Giai đoạn chè già, giai đoạn này cây chè đã trải qua thời kỳ kinh doanh sản xuất, cây chè có biểu hiện già cỗi, năng xuất giảm nhanh chóng Căn cứ vào đặc điểm của từng giai đoạn người ta xây dựng các biện pháp
kỹ thuật khác nhau nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, phát huy hết tiềm năng của giống
Do đó việc đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển của các giống chè trong vùng sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng
- Nghiên cứu về sự hình thành các đợt sinh trưởng của cây chè M.A.Alidatde (1964) cho rằng: Khi trên búp chè có 5 lá thì ở nách các lá thứ nhất, thứ hai đã có những mầm nách; khi lá thứ 6 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách thứ ba, khi lá thứ 7 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách thứ tư…, ông cho rằng khi mầm chè qua đông hai lá đầu tiên bao bọc mầm chè là lá vảy
ốc, tiếp theo là lá cá Các mầm nách của lá thứ tư và lá thứ năm của đợt sinh
trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp của đợt sinh trưởng thứ hai (theo Djemukhatde- 1976) [2].
- Nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè của các tác giả K.E.Bakhơtatde (1971), KMDjemukhatde (1976) cho rằng: Sự sinh trưởng của búp chè phụ thuộc vào điều kiện khí hậu Ở những nước có mùa đông rõ rệt, búp chè sẽ ngừng sinh trưởng vào mùa đông và nó được phục hồi vào thời kỳ ấm lên Ngược lại ở những nước nhiệt đới (quần đảo Giava, Srilanca hay nam Ấn Độ) búp chè sinh trưởng liên tục, thời vụ thu hoạch búp chè kéo dài quanh năm [2]
Trang 23- Nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè trong điều kiện có đốn và không đốn Djemukhatde (1976) đã chỉ ra rằng: Trong điều kiện để giống không
đốn thì các mầm chè phân hóa trong vụ thu, vụ đông sẽ hình thành búp trong vụ
xuân Trong khi đó ở nương chè có đốn thì sự phân hóa mầm chè chủ yếu được tiến hành trong vụ xuân
Tác giả Djemukhatde còn cho thấy: Ở những nương chè hái búp, có đốn sự sinh trưởng bắt đầu muộn hơn một số ngày so với những nương chè để giống hoặc không đốn [ 2].
- Nghiên cứu quan hệ giữa búp chè và năng suất, K.E.Bakhơtatde (1948) cho thấy: Tương quan giữa số lượng búp trên một đơn vị diện tích và năng suất
là tương quan chặt: r = 0,965 ± 0,004
- Nghiên cứu quan hệ giữa lá chè và năng suất chè, K.E.Bakhơtatde (1948)
đã đề ra các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như sau: màu sắc lá, kích
lá, cấu tạo giải phẫu lá …
- Cũng nghiên cứu về lá I.G Kerkatde (1980) cho rằng: Lá có màu vàng có lợi cho các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa, lá có màu cà phê sáng đặc trưng cho các chỉ tiêu sinh lý có hại
- Nghiên cứu về hình dạng lá chè dựa trên góc nghiêng của lá I.G Kerkatde còn cho rằng: Góc lá tối ưu cho cường độ quang hợp là 450
1.3.1.2 Những kết quả nghiên cứu về đốn chè
Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng đến sinh trưởng
phát triển của cây mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè Do vậy kỹ thuật đốn chè đã được nhiều nhà khoa học chú ý nghiên cứu
- Tác giả J.J.B.Deus (1931) cho rằng: Với kỹ thuật đốn chè cần chú trọng dạng hình đốn và thao tác đốn Để xác định dạng hình đốn cần hiểu kỹ hoạt
động sinh lý của cây chè Trong điều kiện sinh thái nhất định cần đặt kỹ thuật
Trang 24đốn chè trong mỗi hoạt động sinh lý hút nước, tổng hợp và vận chuyển nhựa
trong cây Tác giả còn cho rằng không thể cùng áp dụng một dạng đốn hay cùng một thời vụ đốn cho cây chè ở những vùng sinh thái khác nhau [10].
- Nghiên cứu ảnh hưởng của đốn đến cân bằng giữa các bộ phận trên mặt
đất và dưới mặt đất của cây chè các tác giả J.J.B.Deus (1931), Eden (1958) đều
cho rằng: Đốn chè là phá vỡ cân bằng giữa thân, lá và rễ, thúc đẩy hình thành một cân bằng mới sau đốn Nếu ta không tạo cho cây chè một cần bằng mới sau
đốn thì cây chè sẽ cho búp kém
- Các kết quả nghiên cứu về loại hình đốn cho thấy: Ở Liên Xô cũ, Trung Quốc trong điều kiện lạnh thường đốn dạng mâm xôi; ở các nước sứ nóng như
Ấn Độ, Srilanca, Châu Phi thường sử dụng dạng đốn xiên Ở Zaia khi đốn
người ta thường để lại một cành vượt giữ cho cây chè không bị chết [15].
1.3.1.3 Những kết quả nghiên cứu về giống chè
Chè là cây lâu năm, giống chè tốt có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sản xuất Do đó việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng vùng sản xuất đã được các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm
Năm 1905, Trạm nghiên cứu chè đầu tiên trên thế giới được thành lập trên
đảo Java Đến năm 1913 Cohen Stuart đã phân loại các nhóm chè dựa theo hình
thái và chọn theo 7 bước gồm: Nghiên cứu vật liệu cơ bản; chọn hạt; lựa chọn trong vườn ươm; nhân giống hữu tính và vô tính; chọn dòng; lựa chọn tiếp tục khi thu hái búp ở các dòng chọn lọc; thử nghiệm thế hệ sau như thân, cành, lá, búp, hoa và quả
Các nước phát triển chè mạnh đầu tư rất lớn cho việc chọn tạo giống mới:
Ấn Độ từ những năm 50 của thế kỷ trước đã thành công trong việc chọn tạo
ra 110 giống chè tốt trong đó có 102 giống nhân vô tính
Trung Quốc, từ những năm 50- 60 của thế kỷ trước các tác giả đã đi sâu nghiên cứu và đánh giá mối tương quan giữa các yếu tố hình thái của cây đối với sản lượng, chất lượng và tương quan giữa các chỉ tiêu đó đối với nhau, ngày
Trang 25nay đã xác định được 52 giống chè tốt, diện tích giống chè tốt chiếm 25% diện tích chè của cả nước
Nhật Bản, Ấn Độ, Srilanca và Trung Quốc đã lần lượt vận dụng kỹ thuật công nghệ sinh học cho chọn giống chè tốt, đồng thời triển khai dùng phôi non,
là cành non, phấn hoa của cây chè bồi dưỡng thành một cây chè hoàn chỉnh Hiện nay cả thế giới có trên 1000 giống chè mới, trong đó các nước sản xuất chè chủ yếu đã chọn lọc và phổ biến rộng được hơn 400 giống [ 24 ]
1.3.1.4 Những kết quả nghiên cứu về tưới nước cho chè
- Các tác giả C.F.Kozopkin (1950), G.V Lê bê dep (1954, 1957), N.X Petinop; F.A kuliep (1965, 1969, 1976 và 1978) bằng nghiên cứu của mình
đều cho rằng: Vùng cận nhiệt đới chỉ có thể trồng chè khi tưới nước đều đặn,
các tác giả trên đều cho rằng: Tưới nước cho chè đã làm tăng thời gian thu hoạch búp, làm tăng chất lượng chè nguyên liệu (tăng tỷ lệ búp có tôm, giảm
tỷ lệ búp mù xòe ) [7].
- Theo A.A Imanova (1959), K.B Talakvatze (1959), V.P Gvaxalia, RV Voronxova (1975) và nhiều tác giả khác thì tưới nước làm cho búp chè non, mềm và từ đó làm tăng chất lượng chè nguyên liệu [7].
- Theo M.K.Daraselia (1989) thì tưới nước đã làm thay đổi điều kiện quang hợp, thay đổi hoạt tính các men trong rễ chè, kể cả men polifenol oxydaza là men có mặt trong việc tạo ra tanin trong chè Cũng theo tác giả, hiện nay ở tây Grudia có khoảng 10% diện tích chè được tưới nước, trên 50% diện tích chè ở Adebaidan và 1/3 diện tích chè ở Krasnoda được tưới nước [7].
- M.Tamang (1978) cho biết ở Iran trong điều kiện lượng mưa từ khoảng 350
- 650mm thì hiệu quả của tưới nước cao hơn cả phân bón Tưới nước làm tăng sản lượng 35% trong khi đó bón phân chỉ làm tăng sản lượng 15% [7].
- Các tác giả Narendex Kjain, Ks Krihan Magr (Ấn Độ) trong tham luận
Trang 26của mình ở hội nghị chè thế giới tại Bắc Kinh 7/1996 đã cho rằng hiệu quả của tưới nước phụ thuộc vào lượng mưa, kỹ thuật canh tác… Tưới nước cho chè có hiệu qủa trong thời kỳ khô hạn [ 7 ]
1.3.1.5 Những kết quả nghiên cứu về lượng phân cho chè
Về phẩm chất, nhiều tài liệu ở nước ngoài như Nhật Bản, Ấn Độ, Srilanca đều cho rằng bón đạm không hợp lý, bón quá nhiều hoặc bón đơn độc
đều làm giảm chất lượng chè (đặc biệt là đối với nguyên liệu dùng để chế biến
chè đen) Những công trình nghiên cứu của Liên Xô (cũ) cho thấy liều lượng
đạm 300kg/ha thì hàm lượng tanin, cafein và chất hòa tan trong búp chè đều
cao, có lợi cho phẩm chất, song nếu vượt quá giới hạn trên thì phẩm chất chè giảm thấp Khi bón nhiều đạm hàm lượng protein ở trong lá tăng lên Protein kết họp với tanin thành các hợp chất không tan vì thế lượng tanin trong chè bị giảm đi Mặt khác khi bón nhiều đạm, hàm lượng ancaloit trong chè tăng lên làm cho chè có vị đắng [ 13 ]
1.3.2 Những nghiên cứu về cây chè ở Việt Nam
1.3.2.1 Cơ sở khoa học của sản xuất chè đông
Ở Việt Nam, do điều kiện khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều nên cây chè có khả
năng sinh trưởng quanh năm Tuy nhiên, do lượng mưa phân bố không đều, cho nên ở hầu hết các vùng trồng chè như Thái Nguyên, Phú Thọ, Yên Bái Sản lượng chè phân bố không đều giữa các tháng trong năm, tập trung chủ yếu vào các tháng vụ hè thu (chiếm trên 70% tổng sản lượng cả năm) Ở các tháng vụ
đông, xuân thường khô hạn, nhiệt độ thấp, sản lượng chè thấp, thậm chí có
tháng không cho thu hoạch
Kết quả nghiên cứu nhiều năm ở Phú Hộ (Phú Thọ) cho thấy: Trong các tháng có lượng mưa trên 100 mm, thu hoạch búp chè đạt trên 10% sản lượng chè cả năm, Các tháng có lượng mưa dưới 50 mm thu hoạch búp chè đạt dưới 5
% tổng sản lượng cả năm [ 15 ]
Trang 27Qua kết quả nghiên cứu ở Thái Nguyên cũng cho thấy, sản lượng chè giữa các tháng trong năm cũng không đồng đều, phụ thuộc nhiều vào sự phân bố lượng mưa giữa các tháng trong năm Ở các tháng vụ đông xuân (Tháng 10 - tháng 3) do nhiệt độ thấp, lượng mưa thấp sản lượng chè chỉ đạt 21,17% Trong khi đó ở 6 tháng vụ hè thu (tháng 4 đến tháng 9) nhiệt độ cao, mưa nhiều sản lượng chè đạt tới 78,83 % tổng sản lượng cả năm [ 7 ]
Những kết quả ở Thái Nguyên cho thấy: Tưới nước hoặc kết hợp giữa tưới nước và tủ giữ ẩm, cây chè sinh trưởng tốt và cho thu hoạch búp ngay trong các tháng vụ đông, xuân, làm tăng năng suất trong vụ đông, xuân và tăng hiệu quả kinh tế trong năm so với sản xuất chè chính vụ hiện nay, chất lượng chè ngon,
đặc biệt là hiệu quả kinh tế tăng rõ rệt Cũng theo các kết quả nghiên cứu của
các nhà khoa học khi tưới nước kết hợp tủ gốc có thể tăng năng suất chè vụ
đông từ 20,4 - 125,1 % Tăng hiệu quả kinh tế từ 30 - 50 %
Khi tiến hành sản xuất chè vụ đông, cần thay đổi thời gian đốn chè, chuyển
từ đốn theo truyền thống cũ là vào tháng 11, 12 trong năm sang đốn vào thời gian tháng 4 năm sau (vào chu kỳ nghỉ sinh lý ngắn của cây chè) để tăng thu nhập, rải
vụ chè, giải quyết việc làm cho người dân trong những tháng nông nhàn Tuy nhiên, vấn đề sản xuất chè qua đông chỉ áp dụng ở những nương chè có độ dốc vừa phải, gần nguồn nước tưới hoặc phải xây bể để dự trữ nước tưới cho chè
1.3.2.2 Những nghiên cứu và ứng dụng về giữ ẩm, tưới nước cho chè đông
Theo tác giả Hà Ngọc Ngô (1977) [ 14 ], thì tưới nước cho chè ở Việt Nam lần đầu tiên được nghiên cứu vào những năm 1960- 1961 tại trại thí nghiệm chè Phú Hộ dưới sự chỉ đạo của giáo sư Fridland trên chè 4 tuổi ở độ dốc 110 Kết quả cho thấy tưới nước đã làm tăng sản lượng chè tư 13- 38% và cho bội thu cao trong các tháng vụ đông
Năm 1973 tại xã Tiên Phú (Phú Thọ) đã tiến hành tưới phun mưa cho chè
8 tuổi, kết quả cho thấy: Chè được tưới nước thì cho búp nhiều, sinh trưởng
Trang 28nhanh, chất lượng búp tốt, trọng lượng búp cao, hàm lượng tanin hòa tan đều tăng (Hà Ngọc Hô, 1977) [ 14 ]
Trại thí nghiệm chè Phú Hộ (1969- 1970), tưới chè trung du gieo hạt 1, 6,
9 ngày tuổi trên đất feralit phiến thạch vàng đỏ, thời vụ tưới quanh năm và tưới
định kỳ 5- 10 ngày, tưới theo 65,75 và 85% sức chứa ẩm tối đa đồng ruộng Kết
quả đạt năng suất 105; 113,7; 115,5% so với đối chứng không tưới Tưới định
kỳ hiệu quả cao nhất là khoảng cách 15 ngày giữa 2 lần tưới [ 16 ]
Kết quả ngiên cứu của PGS.TS Lê Tất Khương (1997) cho thấy: Các công thức được tủ giữ ẩm, tưới nước hoặc kết hợp giữa tủ và tưới đã tăng tỷ lệ búp có tôm từ 3,7- 18,7% và tăng tỷ lệ chè loại A, B lên từ 5,0- 17,3%, tăng hàm lượng tanin từ 0,7- 2,1% và làm tăng hàm lượng chất hòa tan từ 1,0- 1,5% [ 8 ]
Cũng theo nghiên cứu của PGS.TS Lê Tất Khương (1997) cho thấy : Đốn chè vào tháng 12, ở các công thức có tủ và tưới nước đã làm tăng năng suất chè
vụ đông và xuân từ 10,4- 125,1% và đã làm tăng mức thu- chi từ 5,3- 67,5% so với không tủ, không tưới nước [ 8 ]
Năm 1970- 1971 kết quả nghiên cứu ở Phú Hộ cho thấy, trên nền phân bón
100 kg N + 50 kg K20, bón ép xanh 13 tấn lá chè đốn cuối năm + lá muồng dùi
Năm 1988 Viện nghiên cứu chè Phú Hộ bón phân Komix 3.000 kg/ha cho chè trung du năng suất chè tăng 13,4- 16,9%; đối với chè PH1 tăng 5,0- 6,0%
tỷ lệ búp chè A, B; đồi chè có bộ lá xanh đậm, lá dày, tán dày, mật độ búp tăng
1.3.2.3 Những kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của chè
- Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979), búp chè hoạt động sinh trưởng theo một quy luật nhất định và hình thành nên các đợt sinh trưởng theo thứ tự thời gian [ 6 ]
- Cũng theo Nguyễn Ngọc Kính và Trần Thị Lư, trong một năm nếu để chè sinh trưởng tự nhiên thì cây chè có từ 3- 5 đợt sinh trưởng, gọi là đợt sinh
Trang 29trưởng tự nhiên Nếu hái búp liên tục thì một năm có 6- 7 đợt sinh trưởng, gọi là sinh trưởng nhân tạo hay còn gọi là sinh trưởng trong điều kiện thu hái búp Thời gian hình thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, tuổi cây chè, đất đai, khí hậu và điều kiện canh tác
- Nghiên cứu về sinh trưởng búp chè và sản lượng các tác giả Nguyễn Ngọc Kính [6], Nguyễn Văn Toàn (1994) [22] cho rằng sản lượng cây chè có hai yếu tố quyết định: Số lượng búp trên cây và khối lượng búp, trong đó số búp trên cây có tương quan thuận chặt với sản lượng, còn yếu tố khối lượng
có tương quan không chặt với sản lượng, số búp trên cây là yếu tố nhạy cảm còn khối lượng búp là yếu tố ổn định và vì thế số búp trên cây có ý nghĩa lớn
đối với sản lượng
- Nghiên cứu về cấu trúc lá chè, các tác giả Trịnh Văn Loan, Nguyễn Văn Toàn (1994) cho rằng: Các giống chè có sản lượng cao thường có góc lá 40- 600, khoảng cách giữa hai lá lớn Các tác giả cũng cho rằng khoảng cách giữa hai lá có tương quan thuận với sản lượng và số lượng búp trên cây (r = 0,624 + 0,034) [ 23 ]
- Nghiên cứu về kích thước lá chè, các tác giả Trịnh Văn Loan, Nguyễn Văn Toàn (1994) còn cho thấy: Các giống khác nhau có kích thước lá khác nhau Vềquan hệ giữa diện tích lá chè và sản lượng chè các tác giả cho rằng; trong khoảng diện tích lá từ 6 cm2- 36 cm2 khi diện tích lá tăng thì sản lượng chè cũng tăng, ở trên khoảng 36 cm2 khi diện tích lá tăng thì sản lượng chè có
xu hướng giảm [ 23].
Nghiên cứu hệ số diện tích lá và quan hệ giữa hệ số diện tích lá với năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất, tác giả Đỗ Văn Ngọc (1991) cho rằng:
Hệ số diện tích lá có quan hệ thuận với mật độ búp từ tháng 5 đến tháng 12 Hệ
số tương quan giữa hệ số diện tích lá và khối lượng rễ là 0,934; tác giả còn cho rằng hệ số diện tích lá có tương quan thuận, chặt với năng suất [ 10].
Theo Nguyễn Ngọc Kính, Nguyễn Văn Toàn (1994) thì đặc điểm của cây
Trang 30chè có sản lượng cao ít nhất phải có hệ số diện tích lá lớn (tạo ra số búp nhiều)
và có kích thước lá lớn (tạo ra khối lượng búp lớn) [22].
1.3.2.4 Những kết quả nghiên cứu về đất trồng chè
Cây rất cần đất vì đất là giá thể cho cây bám rễ để sinh sống Đất là kho chứa thức ăn, nước cho cây hút hàng ngày, trong đất có đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng (đạm, lân, kali) là thức ăn cây lấy từ đất Các nguyên tố trung lượng, vi lượng như Mg, Ca, Mo… cây cần rất ít nhưng không thể thiếu
được Nếu thiếu những nguyên tố này mặc dù đủ đạm, lân, kali thì cây vẫn bị
bệnh mà chết, hoặc phát triển còi cọc không cho thu hoạch mà các nguyên tố này cũng được cung cấp từ đất
Từ những năm 60 của thế kỷ trước, các cơ quan ngiên cứu như: Vụ quản lý ruộng đất, Viện nông hóa thổ nhưỡng đã tập trung vào nghiên cứu các biện pháp
kỹ thuật chống sói mòn đất, bảo vệ đất dốc (Nguyễn Trọng Hà – 1962, Bùi Quang Toản - 1965, Bùi Ngạnh, Nguyễn Xuân Cát - 1970, 1980, Chu Đình Hoàng -1976, Nguyễn Văn Tiễn -1988, Thái Phiên với chương trình IBSRAM -
1990 - 1999, Nguyễn Thế Đặng -1991 - 2000 ) [ 3].
Theo Nguyễn Xuân Cự (2005) đất Việt Nam khá nghèo chất hữu cơ, các chất mùn trong đất có tính di động cao do axit mùn ở dạng tự do chiếm ưu thế trong thành phần chất mùn đất Hàm lượng mùn liên kết với sắt nhôm và phân khoáng đất thường có giá trị lớn hơn so liên kết với canxi
Theo Đặng Văn Minh (2005), Cacbon hữu cơ và đạm là yếu tố quan trọng trong đất, dễ bị thay đổi trong quá trình canh tác Sự thay đổi đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đất và khả năng cung cấp chất dinh dưỡng đặc biệt là khả năng hấp phụ cation, khả năng giữ ẩm, kết cấu đất [ 9].
Cũng theo tác giả Đặng Văn Minh (2005), kali và lưu huỳnh là những yếu
tố dinh dưỡng cần thiết của cây trồng Trong quá trình canh tác, ngoài việc sử dụng bởi cây trồng, các yếu tố này thường bị rửa trôi và xói mòn Nghiên cứu
Trang 31này đã định lượng được sự thay đổi về hàm lượng kali và lưu huỳnh trong đất trồng chè trong thời gian canh tác và hiểu biết đầy đủ hơn các biến động nguyên
tố dinh dưỡng [9].
Khi nghiên cứu tính chất lý học của đất trồng chè, Đặng Văn Minh còn cho thấy sự thay đổi thành phần cơ giới không đáng kể sau 40 năm canh tác chè Ngược lại tính chât lý học khác như dung trọng, độ xốp, độ chặt, độ ẩm hữu hiệu và kết cấu đất đã thay đổi theo hướng tăng sự thoái hóa đất Sự thay đổi về
lý tính đất này diễn ra chủ yếu ở tầng đất mặt và giảm dần theo độ sâu, sự thay
đổi các tính chất lý học này có thể đã góp phần làm giảm năng suất chè trong
quá trình canh tác [ 10].
1.3.2.5 Những nghiên cứu về sâu bệnh hại chè
Theo kết quả điều tra côn trùng toàn Miền Bắc năm (1967- 1968), toàn miền bắc gồm 34 loài sâu hại chè
Theo Nguyễn Khắc Tiến (1963, 1970) [ 20 ], thì nhóm sâu hại chè nguy hiểm nhất là rầy xanh, bọ xít muỗi và bọ cánh tơ Theo ông rầy xanh phát sinh
và gây hại nặng vào điều kiện thời tiết khô hanh đặc biệt là 2 giai đoạn tháng 6-
7 và tháng 9-11 Bọ cánh tơ phát sinh quanh năm tập trung nhiều vào tháng 6- 7- 8 hàng năm, đặc biệt là nương chè kém chăm sóc và vành đai rừng gió Bọ xít muỗi gây hại nguy hiểm vào tuổi 2 và tuổi 5, trong năm gây hại mạnh vào tháng 7 và tháng 8 Bọ xít muỗi ưa ánh sáng tán xạ, thích nhiệt độ ẩm thấp Nguyễn Khắc Tiến (1963) [20], cho biết lượng mưa cũng ảnh hưởng đến
sự phát sinh của rầy xanh, những năm mà tháng 1 và 2 có lượng mưa lớn đủ ẩm cho cây chè sinh trưởng ra búp sớm, đó là điều kiện cho rầy xanh phát sinh vào giai đoạn xuân hè Rầy xanh phát sinh thích hợp ở điều kiện nhiệt độ 18- 250C,
ít mưa, ẩm độ không khí 80%, ưa ánh sáng yếu
Khi nghiên cứu mô hình trồng cây che bóng cho chè, tác giả Nguyễn Văn Hùng (2001) cho rằng tại nương chè trồng cây che bóng, tỷ lệ hại của bọ xít cao hơn so với các mô hình khác
Trang 32Theo Nguyễn Văn Thiệp (1998 ) [19], cho biết bọ cánh tơ gây hại ở 2 cao
điểm là tháng 3 và tháng 8, theo ông trồng cây che bóng sẽ giảm được bọ cánh
tơ và rầy xanh hại chè
1.3.2.6 Những nghiên cứu về thiên địch sâu hại chè
Theo Nguyễn Văn Thiệp và công sự ( 1998) [19], xác định có 13 loài thiên
địch trên sâu hại chè ở Phú Hộ Tác giả có những tìm hiểu bước đầu về nhóm
nhện lớn bắt mồi ăn thịt
Tại Thái Nguyên, tác giả Hoàng Thị Hợi (1996 ) [4] , công bố 18 loài nhện
ăn thịt, trong đó có loài nhện Linh miêu Oxyopen Javanus ăn rầy xanh và bọ
cánh tơ
Nguyễn Thị Thắng (2001) [ 18 ], cho rằng một số loại thuốc thuộc nhóm cúc tổng hợp (Cypermethrin) như: Sherpa 25 EC là thuốc thuộc tác dụng phổ rộng nên ảnh hưởng rất lớn tới các loài thiên địch trên đồi chè
1.3.2.7 Những nghiên cứu về kỹ thuật hái chè
Hái chè là một biện pháp kỹ thuật đặc thù trong kinh doanh sản xuất chè Hái chè có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của cây chè, đến năng suất búp chè và đến chất lượng chè nguyên liệu
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tâm Đài, Phạm Kiến Nghiệp (1969- 1971) trên chè trung du 7- 8 tuổi cho thấy hệ số tương quan giữa hệ số diện tích lá và năng suất có r = 0,730 Theo các tác giả trên thì hệ số diện tích lá thích hợp là 6- 8 Nghiên cứu quan hệ giữa hệ số diện tích lá và năng suất chè trên 20 tuổi (1983- 1987) Đỗ Văn Ngọc kết luận: Giữa năng suất và hệ số diện tích lá có tương quan chặt : R = 0,94, nương chè có hệ số diện tích lá thích hợp từ 4- 6 [11].
1.3.2.8 Những kết quả nghiên cứu về bón phân cho chè
Theo nghiên cứu 10 năm liên tiếp của trại chè Phú Hộ về việc bón phân N,
P, K thấy trên cơ sở bón 100 N/ha, 50 P2O5/ha trong từng năm không có chênh lệch đáng kể về năng suất nhưng từ năm thứ 7 trở đi thì bội thu do phân bón là rất rõ rệt qua 10 năm 1 kg P2O5 làm tăng được 3,5 kg chè búp tươi [12]
Trang 33Kết quả 10 năm (1969-1979) nghiên cứu về phân bón NPK cho chè ở Trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy, khi bón đạm và kali cho giống chè Trung Du có tác dụng rõ về năng suất và chất lượng búp chè, hàm lượng tanin
và chất hòa tan đều cao Tỷ lệ phối hợp bón NPK cho chè hợp lý là 3:1:1
Năm 1960- 1964 kết quả nghiên cứu ở Phú Hộ cho thấy, phân hữu cơ (phân ủ, cành lá chè giá đốn hàng năm) đều có hiệu lực tăng năng suất chè đáng
kể và cải thiện lý hóa tính của đất Cành lá chè đốn tốt hơn cây phân xanh trồng xen giữa hàng chè [ 16 ]
Năm 1966- 1969 ở Phú Hộ, nghiên cứu tác dụng của phân ủ 3 năm bón phân một lần (phân ủ gồm: phân bò, rác thải và cỏ tế), với lượng bón 20 – 25 tấn/ha Kết quả cho năng suất chè búp tươi là 5- 6 tấn/ha, so với không bón chỉ
có 1,8 – 2 tấn/ha [ 16]
Kết quả nghiên cứu của Đinh Thị Ngọ (1998) về bón phân cho các giống chè cho thấy, các giống chè và tuổi chè khác nhau có yêu cầu lượng phân bón khác nhau Đất trồng chè của ta ở các vùng Trung du phần lớn la feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, gnai, phiến thạch sét và mica Ở vùng núi phần lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét Về cơ bản những loại đất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè như
có độ pH từ 4 đến 5 có lớp đất sâu hơn một mét và thoát nước Những
đất này thường nghèo chất hữu cơ nhất là ở các vùng trồng chè cũ… Vì thế vấn
đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinh dưỡng cho chè và cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất cần thiết Bên cạnh đó, phải coi trọng việc bón đủ và hợp lý phân hóa
học hàng năm cho chè Chè là loại cây kỵ vôi, nhiều tài liệu cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít, khoảng 0,2% CaCO3 đã làm cây chè bị hại Bởi thế không bao giờ người ta dùng vôi để bón vào đất trồng chè, trừ trường hợp đất có độ pH quá thấp, dưới 4 [ 21 ]
Bón phân khoáng cân đối và bổ sung phân hữu cơ đều làm tăng sản lượng chè Nhưng liều lượng NPK thích hợp cho nương chè còn phụ thuộc vào tính chất lý hóa của đất, tuổi chè và yếu tố tác động các các yếu tố sinh thái [ 5 ].
Trang 34Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các thí nghiệm được theo dõi trên cây chè vụ đông - xuân, giống chè LDP1 trồng năm 2006
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ tháng 10/2015 đến tháng 4/2016
Địa điểm nghiên cứu: Hộ gia đình ông bà: Lê Huy Phúc, xóm Tân Thành, xã
Hòa Bình, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nội dung 1: Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và tưới nước
đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của chè trong vụ đông xuân
- Nội dung 2: Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và tưới nước
đến chất lượng chè (một số chỉ tiêu chất lương nguyên liệu)
- Nội dung 3: Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và tưới nước đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại trên chè trong vụ đông - xuân
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Bố trí thí nghiệm
* Thí nghiệm : “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tưới kết hợp với 05 mức
bón phân đạm tới năng suất chè LDP1 vụ đông - xuân”
1 Không tưới + 05 mức bón đạm khác nhau(0 kg N/ha/lứa; 25 kg N/ha/lứa;
50 kg N/ha/lứa; 75kgN/ha/lứa; 100 kg N/ha/lứa) với nền (18 kg P205/ha/lứa + 19
kg K20/ha/lứa)
Trang 352.Tưới nước (600m3/ha/tháng) + 05 mức bón đạm khác nhau (0 kg N/ha/lứa; 25 kg N/ha/lứa; 50 kg N/ha/lứa; 75kg N/ha/lứa; 100 kg N/ha/lứa) với nền (18 kg P205/ha/lứa + 19 kg K20/ha/lứa)
Gồm các công thức sau:
1 Công thức T0N0: Bón 0 kgN/ha/lứa + Nền phân bón
2 Công thức T0N1: Bón 25 kgN/ha/lứa + Nền phân bón
3 Công thức T0N2: Bón 50 kgN/ha/lứa + Nền phân bón
4 Công thức T0N3: Bón 75kgN/ha/lứa + Nền phân bón
5 Công thức T0N4: Bón 100kgN/ha/lứa + Nền phân bón
6 Công thức T1N0: Bón 0 kg N + Nền phân bón + Tưới 600 m3/ha/tháng
7 Công thức T1N1: Bón 25kg N + Nền phân bón + Tưới 600 m3/ha/tháng
8 Công thức T1N2: Bón 50 kg N + Nền phân bón + Tưới 600 m3/ha/tháng
9 Công thức T1N3: Bón 75 kg N+ Nền phân bón + Tưới 600 m3/ha/tháng
10 Công thức T1N4: Bón 100 kg N + Nền phân bón + Tưới 600 m3/ha/tháng
Ghi chú:
T0: Không tưới
T1: Có tưới (Với lượng 600m3/ha/tháng, tưới bằng vòi nhựa cầm tay)
Trang 36- Thí nghiệm 2 nhân tố bố trí theo kiểu ô chính ô phụ với 3 lần nhắc lại
- Diện tích ô thí nghiệm là 50 m2; diện tích thí nghiệm là 1800 m2
- Nguồn nước tưới chủ yếu giếng khoan
- Tưới bằng vòi nhựa cầm tay
- Khoảng cách giữa các ô thí nghiệm là một hàng chè
- Phương pháp bón đạm: trộn đều, bón sâu 6 - 8 cm, giữa hàng, lấp kín
* Xác định điểm theo dõi
Chúng tôi tiến hành điều tra theo lứa hái Tại mỗi công thức xác định 5
điểm theo hai đường chéo góc mỗi điểm chọn 5 cây
2.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi
2.4.2.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng
Đánh giá các chỉ tiêu nông sinh học theo phương pháp của Viện Nghiên
cứu chè
Chọn cây đại diện theo phương pháp ngẫu nhiên Mỗi công thức chọn 5 cây, với 3 lần nhắc là 15 cây theo dõi Các chỉ tiêu theo dõi gồm:
Trang 37- Thời gian bật mầm sau đốn (ngày)
Là thời gian tính từ khi đốn đến khi có 50% số cành trên cây bật mầm Phương pháp đo: Cố định các cành theo dõi, là các cành cấp 4 có đường kính 0,5 cm trở lên Đếm số cành có mầm tại các thời điểm theo dõi
- Chiều cao cây (cm)
Thời gian đo: Theo dõi 2 lần/năm sau khi bắt đầu tiến hành thí nghiệm (tháng 10) và khi kết thúc thí nghiệm (tháng 4)
Phương pháp đo: Đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng cao nhất của cây Chiều cao cây là trung bình của các lần đo
- Theo dõi đợt sinh trưởng
Phương pháp theo dõi: Khi các chồi lá ở nách lá chừa phình to, bắt đầu
đánh dấu thời gian theo dõi sinh trưởng búp cho đến khi búp chè đủ tiêu chuẩn
thu hái và hái búp là kết thúc một đợt sinh trưởng Thời gian từ khi mầm phát
động đến khi hái là một đợt sinh trưởng nhân tạo
- Chiều dài búp(cm)
Là chiều dài từ điểm giữa lá 2 và lá 3 đến đỉnh sinh trưởng búp
Mỗi công thức thí nghiệm lấy 150 g mẫu Đo chiều dài 15 búp được lấy ngẫu nhiên, thực hiện 03 lần nhắc Chiều dài búp là bình quân chiều dài một búp của 03 lần nhắc lại
Trang 382.4.2.2 Một số chỉ tiêu về năng suất chè
- Mật độ búp (búp/m2): Dùng khung vuông 25 x 25cm, tính số vết hái trong khung ở các vị trí giữa tán, rìa tán, lấy trị số trung bình và quy ra số búp/m2, theo dõi theo lứa hái
- Khối lượng búp (g/búp):
Hái ngẫu nhiên 100 búp 1 tôm 2 lá ( hoặc 1 tôm 3 lá) đủ tiêu chuẩn theo 5
điểm ở mỗi công thức, đem cân trên cân kỹ thuật, lấy trị số trung bình, rồi quy
ra khối lượng của 1 búp, theo dõi theo lứa hái
- Năng suất tươi (Khối lượng tươi) trong mỗi lứa hái (kg/lứa): Cân toàn bộ búp chè hái được, tính trung bình năng suất 03 lần nhắc lại là năng suất bình quân ở mỗi lứa hái ở mỗi công thức
Đo từ vết đốn tháng tư đến vị trí cao nhất mặt trên của tán
Phương pháp: Đo từ mặt dưới có lá đến phần cao nhất mặt trên của tán chè
- Năng suất búp thực thu (tấn/ha): Cân số kg búp tươi/ô, quy ra tấn/ha/lứa
Là năng suất búp trung bình thu được thực tế trên một ha, trong một lứa
2.4.2.3 Một số chỉ tiêu phẩm cấp nguyên liệu
- Thành phần cơ giới búp
Trong mỗi ô thí nghiệm hái 10 búp một tôm ba lá, tách riêng búp, lá một,
lá hai, lá ba, cuộng sau đó cân lấy khối lượng và tính tỷ lệ phần trăm
Tỷ lệ tôm(%) = 100
P P
1×
Trang 39P là khối lượng của 10 búp một tôm 3 lá
- Tỷ lệ búp có tôm (%): Cân ngẫu nhiên 100 gam chè búp tươi, đếm tổng
số búp, số búp có tôm, rồi quy ra % búp có tôm, theo dõi theo lứa hái
2.4.2.4 Một số chỉ tiêu chất lượng nguyên liệu
- Các chỉ tiêu sinh hóa
Phương pháp lấy mẫu phân tích: Lấy 200gam búp chè theo từng công thức thí nghiệm đem hấp bằng nước sôi trong thời gian từ 2 -3 phút, sau đó hong và sấy ở nhiệt độ 700C đến khô, rồi nghiền nhỏ trong cối sứ và sàng qua rây
Trang 400,5mm, bảo quản trong túi PE, đặt trong bình hút ẩm để làm mẫu phân tích các chỉ tiêu sinh hóa
Đánh giá chất lượng chè theo phương pháp phân tích hóa học trong phòng
thí nghiệm tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc
+ Phân tích hàm lượng tanin theo LeWenthal với K = 0,582 (1964)
+ Xác định hàm lượng chất tan (HCT) theo Vonronxop V E (1946)
+ Xác định hàm lượng đường khử theo Betrand
2.4.2.5 Một số chỉ tiêu về sâu bệnh hại
Điều tra theo QCVN 01 - 38: 2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn về Quy chuẩn Quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng.
Điều tra 10 ngày một lần kể từ khi xuất hiện gây hại đến khi két thúc
* Bọ trĩ (con/búp): Điều tra theo phương pháp đường chéo 5 điểm, mỗi điểm theo dõi cố định 5 cây Mỗi điểm hái 20 búp (tổng số búp điều tra là 100); đếm số Bọ trĩ có trên 1 búp, số con/búp của ô thí nghiệm là số liệu trung bình của 100 búp
Cách tính: Mật độ bọ cánh tơ (con/búp) =
Tổng số bọ cánh tơ điều tra Tổng số búp điều tra (100 búp)
* Rầy xanh (con/khay): Điều tra theo phương pháp đường chéo 5 điểm, mỗi
điểm theo dõi cố định 5 cây, mỗi cây điều tra 2 khay (tổng số khay điều tra của
diện tích thí nghiệm là 50) Sử dụng công cụ theo dõi là khay men có kích thước 35
x 25 x 5cm, dưới đáy khay tráng một lớp dầu hoả Đặt khay nghiêng 450- dưới gậm, rìa tán chè, rung tay đập mạnh trên tán chè 3 đập, sau đó đếm số rầy trong khay Chỉ tiêu số con/khay của ô thí nghiệm là số liệu trung bình của 50 khay
Cách tính: Mật độ rầy xanh (con/khay) =
Tổng số rầy xanh điều tra Tổng số khay điều tra