LỜI MỞ ĐẦU Từ xưa đến nay, việc tìm hiểu bản chất, vai trò của con người luôn là một vấn đề trung tâm trong lịch sử tư tưởng nói chung và lịch sử triết học nói riêng, trong đó có triết học Trung Quốc cổ đại. Các nhà triết học Trung Quốc cổ đại thường đi vào nghiên cứu số phận con người và con đường giải phóng, phát triển cho con người. Do đó, triết học Trung Quốc để lại cho nhân loại nhiều bài học quý giá về xây dựng và phát triển con người, đặc biệt là tư tưởng của Khổng Tử. Trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay, có rất nhiều vấn đề đang được đặt ra, quan trọng nhất là vấn đề xây dựng và phát triển con người, bởi con người không chỉ là mục tiêu và động lực của sự nghiệp đổi mới mà hơn nữa, là chủ thể của sự nghiệp đó. Chính vì vậy, Đảng ta khẳng định, con người là nguồn lực quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam, là yếu tố giữ vai trò quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ở Việt Nam, Khổng học có lịch sử tồn tại hàng nghìn năm. Trong những tư tưởng của Khổng học có ảnh hưởng lớn tới con người và xã hội Việt Nam, thì tư tưởng giáo dục có vị trí rất quan trọng. Khi cánh cửa của nền kinh tế Tri Thức đang mở ra, hướng nhân loại vào kỷ nguyên khoa học và công nghệ, khi mà việc học tập thường xuyên, suốt đời trở thành hiện thực, việc nghiên cứu những quan điểm giáo dục của Khổng Tử là vấn đề hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn đối với Việt Nam. I. Triết học Trung Quốc 1. Sơ lược về địa lý, lịch sử, xã hội Trung Quốc cổ, trung đại Trung Quốc là đất nước có diện tích khoảng 9,6 triệu km2 , chiếm 17 lục địa Á Âu và có 1,3 tỷ dân chiếm 15 dân số thế giới. Trung Quốc là một nước lớn ở Châu Á và trên thế giới, có nền văn hóa phát triển sớm và được coi là một trung tâm văn minh bậc nhất của nhân loại thời cổ đại. Trong thời kỳ cổ trung đại, đặc điểm lịch sử xã hội Trung Quốc có thể khái quát như sau: Một là, công xã nông thôn được bảo tồn lâu dài trong suốt thời kỳ lịch sử cổ trung đại, với hạt nhân của nó là chế độ đại gia đình phụ quyền (tông pháp) được xác lập vững chắc. Địa vị của người con trưởng quan trọng nhất trong nhà, trách nhiệm cũng lớn nhất, được hưởng gia tài, giữ việc hương khói. Hai là, ở Trung Quốc, nhà nước ra đời trên cơ sở trình độ kỹ thuật còn non kém (đồ sắt chưa được sử dụng phổ biến); trong xã hội, mức độ phân hóa giai cấp chưa sâu sắc. Hình thức bóc lột là hình thức cống nạp; tô và thuế nhập làm một. Mối quan hệ của các thành viên trong xã hội đối với nhà nước là quan hệ của thần dân đối với vua chứ không phải là mối quan hệ của công dân đối với nhà nước. Ba là, ruộng đất công, trên nguyên tắc, toàn bộ đất đai trong toàn quốc là thuộc quyền sở hữu của nhà vua, mọi người dân chỉ có quyền sử dụng đất. Chỉ bằng một quyết định, nhà nước có thể tịch thu ruộng đất của bất cứ ai. Bốn là, cho đến trước khi bị chủ nghĩa thực dân tư bản phương Tây xâm lược, trên đất nước Trung Quốc chưa hề có một cuộc cách mạng xã hội theo đúng nghĩa. Trong lòng xã hội, các kết cấu mới – cũ đan xen lẫn nhau, cùng cộng sinh bên nhau trong suốt quá trình lịch sử. Thế kỷ VIII tr.CN phân tầng xã hội đã bắt đầu biến đổi sâu sắc, kết cấu giai tầng phức tạp, xung đột đã gay gắt. Năm là, Trung Quốc được gọi là một trong những nước có nền văn minh sớm nhất và rực rỡ nhất trong lịch sử, cho đến năm 1911, lịch sử Trung Quốc trải qua ba thời kỳ kế tiếp nhau: thời kỳ thượng cổ, cổ đại, trung cổ. Tuy nhiên, tư tưởng triết học Trung Quốc chỉ nở rộ ở nửa cuối thời kỳ cổ đại (vào thời Đông Chu) và được duy trì phát triển ít nhiều ở thời kỳ Trung cổ.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Từ xưa đến nay, việc tìm hiểu bản chất, vai trò của con người luôn làmột vấn đề trung tâm trong lịch sử tư tưởng nói chung và lịch sử triết học nóiriêng, trong đó có triết học Trung Quốc cổ đại Các nhà triết học Trung Quốc
cổ đại thường đi vào nghiên cứu số phận con người và con đường giải phóng,phát triển cho con người Do đó, triết học Trung Quốc để lại cho nhân loạinhiều bài học quý giá về xây dựng và phát triển con người, đặc biệt là tưtưởng của Khổng Tử
Trong công cuộc đổi mới của nước ta hiện nay, có rất nhiều vấn đềđang được đặt ra, quan trọng nhất là vấn đề xây dựng và phát triển con người,bởi con người không chỉ là mục tiêu và động lực của sự nghiệp đổi mới màhơn nữa, là chủ thể của sự nghiệp đó Chính vì vậy, Đảng ta khẳng định, conngười là nguồn lực quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam, là yếu tố giữvai trò quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới và sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ở Việt Nam, Khổng học có lịch sử tồn tại hàng nghìn năm Trongnhững tư tưởng của Khổng học có ảnh hưởng lớn tới con người và xã hội ViệtNam, thì tư tưởng giáo dục có vị trí rất quan trọng Khi cánh cửa của nền kinh
tế Tri Thức đang mở ra, hướng nhân loại vào kỷ nguyên khoa học và côngnghệ, khi mà việc học tập thường xuyên, suốt đời trở thành hiện thực, việcnghiên cứu những quan điểm giáo dục của Khổng Tử là vấn đề hết sức cầnthiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn đối với Việt Nam
I Triết học Trung Quốc
1 Sơ lược về địa lý, lịch sử, xã hội Trung Quốc cổ, trung đại
Trung Quốc là đất nước có diện tích khoảng 9,6 triệu km2 , chiếm 1/7lục địa Á- Âu và có 1,3 tỷ dân chiếm 1/5 dân số thế giới Trung Quốc là mộtnước lớn ở Châu Á và trên thế giới, có nền văn hóa phát triển sớm và được coi
là một trung tâm văn minh bậc nhất của nhân loại thời cổ đại Trong thời kỳ trung đại, đặc điểm lịch sử- xã hội Trung Quốc có thể khái quát như sau:
Trang 2cổ-Một là, công xã nông thôn được bảo tồn lâu dài trong suốt thời kỳ lịch sử
cổ - trung đại, với hạt nhân của nó là chế độ đại gia đình phụ quyền (tông pháp)được xác lập vững chắc Địa vị của người con trưởng quan trọng nhất trongnhà, trách nhiệm cũng lớn nhất, được hưởng gia tài, giữ việc hương khói
Hai là, ở Trung Quốc, nhà nước ra đời trên cơ sở trình độ kỹ thuật còn
non kém (đồ sắt chưa được sử dụng phổ biến); trong xã hội, mức độ phân hóagiai cấp chưa sâu sắc Hình thức bóc lột là hình thức cống nạp; tô và thuếnhập làm một Mối quan hệ của các thành viên trong xã hội đối với nhà nước
là quan hệ của thần dân đối với vua chứ không phải là mối quan hệ của côngdân đối với nhà nước
Ba là, ruộng đất công, trên nguyên tắc, toàn bộ đất đai trong toàn quốc
là thuộc quyền sở hữu của nhà vua, mọi người dân chỉ có quyền sử dụng đất.Chỉ bằng một quyết định, nhà nước có thể tịch thu ruộng đất của bất cứ ai
Bốn là, cho đến trước khi bị chủ nghĩa thực dân tư bản phương Tây
xâm lược, trên đất nước Trung Quốc chưa hề có một cuộc cách mạng xã hộitheo đúng nghĩa Trong lòng xã hội, các kết cấu mới – cũ đan xen lẫn nhau,cùng cộng sinh bên nhau trong suốt quá trình lịch sử Thế kỷ VIII tr.CN phântầng xã hội đã bắt đầu biến đổi sâu sắc, kết cấu giai tầng phức tạp, xung đột
đã gay gắt
Năm là, Trung Quốc được gọi là một trong những nước có nền văn
minh sớm nhất và rực rỡ nhất trong lịch sử, cho đến năm 1911, lịch sử TrungQuốc trải qua ba thời kỳ kế tiếp nhau: thời kỳ thượng cổ, cổ đại, trung cổ Tuynhiên, tư tưởng triết học Trung Quốc chỉ nở rộ ở nửa cuối thời kỳ cổ đại (vàothời Đông Chu) và được duy trì phát triển ít nhiều ở thời kỳ Trung cổ
2 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm triết học Trung Quốc
2.1 Hoàn cảnh ra đời
Trung Quốc là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại TrungQuốc đất đai rộng lớn, có hai con sông lớn Hoàng Hà và Trường Giang, làmột trong những nước có nền văn minh hình thành sớm nhất và rực rỡ nhấttrong lịch sử Triết học Trung Quốc suy cho cùng là sự phản ánh xã hội Trung
Trang 3Quốc Triết học Trung Quốc có mầm mống từ lâu, nhưng thực sự nở rộ vàokhoảng thế kỷ VI đến thế kỷ III tr.CN Đây là thời kỳ biến đổi dữ dội, chuyểnbiến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến kiểu phương Đông –thời kỳ Đông Chu liệt quốc hay Xuân Thu chiến quốc với chiến tranh liênmiên, tàn khốc, trật tự xã hội cũng như luân lý đạo đức sụp đổ, cái cũ đã qua,cái mới chưa đến, lòng người chao đảo không biết đi về đâu
Thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc là thời kỳ hai chế độ xã hội chuyểngiao, đấu tranh giai cấp gay gắt, chiến tranh liên miên Đó là thời kỳ “Bá đạolấn át vương đạo”, thời kỳ: Vua không phải đạo vua, tôi không phải đạo tôi,cha không phải đạo cha, con không phải đạo con Đạo đế vương mờ tối,người đời say đắm đường danh lợi, không ai muốn làm điều nghĩa nữa
Để góp phần cứu vãn tình thế đó, “Bách gia chư tử” ra đời Nhiều nhà
tư tưởng muốn trình bày quan điểm của mình, phê phán trật tự xã hội cũ, đề ramẫu hình xã hội tương lai
Đây là thời kỳ có một không hai về tự do học thuật, bởi vậy, các trườngphái triết học mọc lên như nấm gặp mưa rào Nền văn minh Hoa Hạ rộng lớnđặc sắc đã được đặt nền móng từ đấy với các tư tưởng phong phú và đa dạng,phức tạp Nó cũng chứa đựng những mâu thuẫn nhiều khi rất gay gắt Kháiquát lại có 9 hệ thống triết học chính xuất hiện: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia,Pháp gia, Âm Dương gia, Danh gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia (cóthuyết còn cho có thêm trường phái Tiểu thuyết gia)
2.2 Đặc điểm
Xuất hiện và phát triển trong điều kiện như vậy, triết học Trung Quốc
có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, triết học Trung Quốc nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối
quan hệ giữa con người và vũ trụ Đây là tư tưởng xuyên suốt nhiều trườngphái, học thuyết khác nhau Trong những kinh điển chủ yếu của Nho giáo(Kinh dịch, Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử ) đều nhất quán tưtưởng “biết đến cùng cái tính của con người thì cũng có thể biết đến cùng cái
Trang 4tính của vạt vật trời đất” Ngoài ra, các trường phái, học thuyết khác cũng thểhiện rõ quan điểm này, Trang Chu cho rằng, trời đất với ta cùng sinh, vạn vậtvới ta là một
Thứ hai, triết học Trung Quốc xuất phát từ con người, lấy con người
làm vấn đề trung tâm Nghiên cứu thế giới cũng chỉ nhằm làm rõ vấn đề conngười Tuy nhiên con người không được chú ý trên tất cả các mặt mà chỉ chú
ý trên khía cạnh luân lý, đạo đức Vấn đề bản thể luận trong triết học TrungQuốc rất mờ nhạt, còn trong triết học phương Tây lại đặt trọng tâm vàonghiên cứu thế giới, vấn đề con người cũng chỉ được bàn tới nhằm giải thíchthế giới Do đó, khác với triết học Trung Quốc, trong triết học phương Tây,vấn đề bản thể luận rất đậm nét
Về bản chất con người (tính người, Khổng Tử cho gần nhau (giốngnhau), nhưng do tập quán, phong tục mà xa nhau (khác nhau) (“Tính tươngcận, tập tương viễn”); Mạnh Tự cho tính người (nhân tính) vốn thiện; Tuân
Tử cho tính người vốn ác; Cáo Tử cho tính không thiện cũng không bất thiện.Đổng Trọng Thư đưa ra tính tam phẩm, còn Hàn Dũ đưa ra có tính ba bậc
Về số phận con người, Nho giáo quy tất cả là do mệnh trời; Tuân Tửcho rằng con người có thể thắng được trời Từ đó triết học Trung Quốc hướngđến mẫu người lý tưởng như sĩ, quân tử, đại trượng phu, thánh nhân
Thứ ba, triết học Trung Quốc ít tồn tại dưới dạng triết học thuần túy mà
thường được trình bày xen kẽ hoặc ẩn giấu đằng sau với những vấn đề cấutrúc xã hội, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật Vì vậy, ở Trung Quốc ít khi có triếtgia và các phần triết học độc lập Cho nên, nếu ở phương Đông nói chung,Trung Quốc nói riêng triết học ẩn giấu đằng sau các khoa học khác thì ởphương Tây ngay từ đầu, triết học đã là một khoc học độc lập, các khoa họckhác lại ẩn giấu ở đằng sau triết học ở vào buổi bình minh của nó
Thứ tư, về mặt nhận thức, triết học Trung Quốc bàn nhiều về vấn đề
trực giác tâm linh, những vấn đề phi lý tính Phương pháp nhận thức này, xét
về góc độ nào đó nó phù hợp với đối tượng mà nó đặt ra để nghiên cứu Nó
Trang 5thường không được trình bày dưới dạng hình thức hệ thống lý luận lôgic nhưcác tác phẩm triết học hiện đại Nhìn chung, lý luận nhận thức trong triết họcTrung Quốc là phiến diện, không xem giới tự nhiên là đối tượng nhận thức,
mà chỉ nhận thức chủ yếu về mặt luân lý đạo đức
Thứ năm, triết học Trung Quốc vừa thống nhất vừa đa dạng Thống
nhất ở chỗ nó đều nhằm mục đích ổn định xã hội, chấm dứt chiến tranh,chẳng hạn, Nho gia đưa ra đường lối chính danh, đức trị; Pháp gia đưa rađường lối pháp trị; Mặc gia đưa ra đường lối kiêm ái; Đạo gia đường lối vôvi Nó đa dạng ở chỗ có rất nhiều trường phái, khuynh hướng tư tưởng, với 9trường phái và đặc biệt nổi bật hơn cả là 6 trường phái lớn có ảnh hưởngmạnh mẽ trong đời sống, trong lịch sử xã hội là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia,Pháp gia, Âm Dương gia, Danh gia Mỗi nhà đều có chủ trương, đường lốiriêng của mình
Trong các trào lưu triết học Trung Quốc cổ đại, thường đan xen các yếu
tố duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình Cuộc đấu tranh giữa chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không gay gắt quyết liệt như ở phươngTây Chẳng hạn như:
- Nho giáo về cơ bản là duy tâm, nhưng vẫn có những luận điểm duyvật, nhất là ở thời kỳ đầu
- Đạo gia, Mặc gia, Âm Dương ngũ hành gia bên cạnh những luận điểmduy vật lại có cả những luận điểm duy tâm
Trong suốt chiều dài hơn 2.000 năm phong kiến Trung Hoa, các họcthuyết cổ đạị thường được các nhà tư tưởng phong kiến kế thừa, tự nhậnthuộc về trường phái đã có nào đó từ thời cổ đại mà không lập ra học thuyếtmới cho nên sự phát triển của triết học Trung Quốc chủ yếu theo hướng từ từthay đổi về lượng mà ít thấy có sự nhảy vọt về chất
Thứ sáu, Phép biện chứng trong triết học Trung Quốc thể hiện trong
học thuyết biến dịch (Kinh dịch); sự tương tác giữa âm dương, ngũ hành;trong học thuyết Lão Tử Nhìn chung, biện chứng trong triết học Trung Quốc
Trang 6vẫn còn thô sơ, đơn giản, biện chứng vòng tròn, tuần hoàn khép kín.
Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo là ba dòng chủ đạo, kiến tạo nên hệ tưtưởng phong kiến Trung Quốc, song trên thực tế, Nho giáo vẫn là dòng chủđạo, đóng vai trò trung tâm
II Tư tưởng triết học Khổng Tử
1 Tiểu sử Khổng Tử
Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ngày 27 tháng 8năm 551 trước Công nguyên, vào thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc,tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh SơnĐông, Trung Quốc)
Nhiều sử sách ghi rằng ông sinh trong một gia cảnh nghèo, nhưng thực
tế gia đình ông có ông tổ ba đời vốn thuộc dòng quý tộc sa sút từ nước Tốngdời đến nước Lỗ Cha của Khổng Khâu, Thúc Lương Ngột (cháu 13 đời của
Vi Tử Diễn, anh của vua Trụ nhà Thương) là quan võ thuộc ấp Trâu, đến 70tuổi mới lấy Nhan thị mà sinh ra ông
Năm lên ba, Khâu mồ côi cha, lớn lên, phải làm lụng vất vả để nuôi mẹ,nhưng rất ham học Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coikho chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác
Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trườngchăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt Nhờ vậy ông được thăng chức lên làmquan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình Năm 22 tuổi, ông
mở lớp dạy học Học trò gọi ông là Khổng Phu Tử , hay gọi gọn hơn làKhổng Tử 'Tử' ngoài ý nghĩa là 'con' ra còn có nghĩa là "Thầy" Do vậyKhổng Tử là Thầy Khổng
Trong suốt gần 20 năm, từ năm 34 tuổi, Khổng Tử dẫn học trò đi khắpcác nước trong vùng để truyền bá các tư tưởng và tìm người dùng các tưtưởng đó Có nơi ông được trọng dụng nhưng cũng có nơi ông bị coi thường
Năm 51 tuổi, ông quay lại nước Lỗ và được giao coi thành Trung Đô,năm sau được thăng chức Đại tư khấu (coi việc hình pháp), kiêm quyền tể
Trang 7tướng Sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thịnh trị Nhưng rồi bị ly gián, gièmpha, ông bèn từ chức và lại ra đi một lần nữa.
Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vàosoạn sách Có thể nói Khổng Tử là người thầy tư nhân chuyên thu nhận họctrò đầu tiên trong lịch sử giáo dục Trung Quốc
Trước thời ông, trường học hoàn toàn là của nhà nước Khổng Tử sánglập ra trường học tư, thu nhận nhiều đồ đệ, đưa giáo dục mở rộng cho bìnhdân, đem tri thức văn hóa truyền bá cho dân gian, có cống hiến thật to lớn đốivới giáo dục thời cổ đại Ông mất tháng 4 năm 479 TCN, thọ 73 tuổi
2 Kinh điển của Nho gia
Theo Hán tự, "nho" bao gồm chữ "nhân" và chữ "nhu" hợp thành, chỉnhững người cần thiết cho xã hội ."Nho" là tên gọi những học giả, nhà giáodục Họ là những người thấu hiểu sách thánh hiền, được xã hội cần để dạybảo người đời đạo lý, góp phần trị nước được gọi là nho sĩ, nhà nho, bậc sĩ
Trước thời Khổng Tử, chỉ có quan học , không có thầy tự mở trường tư
Từ khi Khổng Tử mở trường tư dạy học trò, tiếp đó các học trò của ông nhưTăng Tử, Tử Du, Tử Hạ, cũng tự mở trường dạy học nên đều được gọi lànho Từ đó, học phái do Khổng Tử sáng lập được gọi là Nho Gia
Ông cùng các đệ tử diễn giải các tác phẩm của Chu Công, kế thừa, bổsung và phát triển các tri thức đời trước như thế giới quan, nhân sinh quan ởKinh Dịch, tri thức văn hóa dân gian ở Kinh Thi, lý luận và biện pháp tổ chức
xã hội ở Kinh Lễ, lịch sử ở Kinh Thư, biên niên sử thời Xuân Thu, để xâydựng một hệ thống chính trị, đạo đức, triết học gọi là Nho giáo, thành họcphái là Nho gia
Các sách kinh điển của Nho giáo đều hình thành từ thời kỳ Nho giáonguyên thủy Sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư Người sánglập Nho gia chính là Khổng Tử, mặc dù ông chỉ thừa nhận là chỉ thuật lại chứkhông sáng tác (Luận Ngữ- Thuật Nhi 1)
2.1 Tứ Thư
a, Luận Ngữ
Trang 8Luận ngữ (nghĩa đen là bàn nói) là cuốn sách chép các lời đức Khổng
Tử khuyên dạy học trò hoặc các câu chuyện ngài nói với những người đươngthời về nhiều vấn đề (luân lý, triết lý, chánh trị, học thuật) do các môn đệ ngàisưu tập lại
Sách được chia làm hai quyển (thượng, hạ) gồm có 20 thiên (mỗi thiênlâý hai chữ đầu đặt tên) Sách Luận ngữ có thể coi là cuốn sách dạy đạo ngườiquân tử một cách thực tiễn và mô tả tình tình, cử chỉ, đức độ của đức Khổng
Tử như phác họa ra một cái mẫu mực hoạt động cho người đời sau theo Vớicác nội dung:
- Nhiều câu cách ngôn xác đáng về đạo người quân tử
- Phẩm cách cao thượng (hồn hậu, thành thực, khiêm cung, khoái hoạt)của đức Khổng Tử biểu lộ ra trong những chuyện ngài nói với học trò
- Cảm tình phong phú và lòng ái mỹ của Khổng Tử
- Khoa sư phạm của Khổng Tử Trong các lời khuyên dạy chuyện tròvới học trò, ông tỏ ra là một ông thầy hiểu thấu tâm lý học trò và khéo làmcho lời dạy bảo của mình thích hợp với trình độ cảnh ngộ của mỗi người Cókhi cùng là một câu hỏi mà ông trả lời khác, tùy theo tư chất và chí hướng củatừng người
b, Đại học
Cuốn nầy là sách của bậc “đại học” cốt dạy cái đạo của người quân tử.Sách chia làm hai phần:
- Phần trên gọi là Kinh, chép lời đức Khổng Tử, có 1 chương
- Phần dưới, gọi là Truyện, là lời giảng giải của Tăng tử (là môn đệ củaKhổng tử) có 10 chương
Mục đích bậc đại học hay cái tôn chỉ của người quân tử, đã tóm ở câuđầu sách là: “Đại học chi đạo, tại minh chi đức, tại thân dân, tại chỉ ư chithiện Nghĩa là: Cái đạo của người theo bậc đại học là cốt làm sáng cái đức(đức tốt) của mình, cốt làm mới (ý nói cải hóa) người dân, cốt dừng lại ở cõichí thiện Vậy người quân tử trước phải sửa sang đức tính mình cho hay, rồi
Trang 9lo dạy người khác nên hay, và lấy sự chí thiện làm cứu cánh.
Mục đích đã như vậy, phương pháp phải thế nào? Phải sửa mình trước(tu thân), rồi mới chỉnh đốn việc nhà (tề gia), cai trị việc nước (trị quốc) vàlàm cho cả thiên hạ được bình yên (bình thiên hạ) Cái phương pháp ấy làtuần tự mà tiến, tự mình đến người ngoài, mà điều cốt yếu nhất là việc sửa
mình, nên trong Đại học có câu:”Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ
tu thân vi bản, nghĩa là: Từ ông vua đến kẻ thường dân, ai nấy đều lấy việc sửa mình làm gốc”.
Nay muốn sửa mình, phải thực hành theo cách nào? Trước hết phải cách vật nghĩa là thấu lẽ mọi sự vật; rồi phải trí tri, nghĩa là biết cho đến cùngcực; phải thành ý: nghĩa là ý phải thành thực; phải chánh tâm, nghĩa là lòngphải cho ngay thẳng Bốn điều ấy phải theo thứ tự kể trên mà tiến hành, cólàm được điều trên mới làm được điều dưới Làm được bốn điều ấy thì thì sẽ
tu được thân, rồi tề được nhà, trị được nước và bình được thiên hạ, mà làmtrọn được cái đạo của người quân tử
c, Trung Dung
Cuốn này là gồm những lời tâm pháp của đức Khổng Tử do học tròngài truyền lại, rồi sau Tử Tư là cháu ngài chép thành sách, gồm có 33chương
“Ông Tử Tư dẫn những lời của Khổng Phu tử đã giảng về đạo TrungDung Ngài nói rằng: Trung hòa là cái tính tình tự nhiên của trời đất, mà trungdung là cái đức hạnh của người ta Trung là giữa, không lệch về bên nào:dung là thường, nghĩa là dùng đạo trung làm đạo thường Đạo trung dung thì
ai ai cũng có thể theo được, thế mà không mấy người chịu theo Khác nào như
ai cũng ăn uống cả, nhưng ít người ăn mà biết rõ mùi vậy Chỉ có thánh nhânmới theo được mà thôi, vì theo đạo ấy cốt phải có ba cái đạt đức là: trí, nhân
và dũng Trí là để biết rõ các sự lý, nhân là để hiều điều lành mà làm, dũng là
để có cái khí cường kiện mà theo làm điều lành cho đến cùng
“Ông Tử Tư lại dẫn lời đức Khổng Phu tử nói về chữ thành, “Thành là
Trang 10đạo Trời, học cho đến bậc thành là đạo người” Đạo người là phải cố gắng hếtsức để cho đến bậc chí thành Phải học cho rộng, xét hỏi cho kỹ, nghĩ ngợicho sâu, biện biệt điều phải trái cho rõ, và dốc lòng làm điều thiện cho đếncùng Hể ai làm được như thế thì rồi ngu thành sáng, yếu thành ra mạnh, tức
là dần dần lên đến bậc chí thành Ở trong thiên hạ duy có bậc chí thành tức làbậc thánh, thì mới biết rõ cái tính của Trời; biết rõ cái tính của trời thì biết rõcái tình của Người; biết rõ cái tình của người, thì biết được cái tính của vạnvật; biết rõ cái tính của vạn vật thì khả dĩ giúp được sự hóa dục của trời đất và
có công ngang với trời đất vậy …
d, Mạnh Tử
Đó là tên cuốn sách của Mạnh Tử viết ra Sách gồm có 7 thiên Cácchương trong mỗi thiên thường có liên lạc với nhau và cùng bàn về mộtvấn đề
Có thể nhận thấy được tư tưởng của Mạnh Tử về các vấn đề sau:
- Về luân lý:
+ Ông xướng lên cái thuyết tính thiện để đánh đổ cái thuyết của ngườiđương thời (như Cáo Tử) cho rằng tính người không thiện không ác Theo ýông, thì thiên tính người ta vốn thiện, ví như tính nước vốn chảy xuống chỗthấp; sở dĩ thành ác là vì làm trái thiên tính đi, ví như ngăn nước cho nó phảilên chỗ cao vậy
+ Tính người vốn thiện, nhưng vì tập quán, vì hoàn cảnh vì vật dục làmsai lạc đi, hư hỏng đi, vậy cần phải có giáo dục để muôi lấy lòng thiện, giữalấy bản tính Mấy điều cốt yếu trong việc giáo dục ấy là: dưỡng tính (giữ lấythiện tính), tồn tâm (giữa lấy lòng lành), trì chí (cầm lấy chí hướng cho vững),dưỡng khí (nuôi lấy khí phách cho mạnh)
+ Ông thường nói đến phẩm cách của người quân tử mà ông gọi là đạitrượng phu hoặc đại nhân: bậc ấy phải có đủ bốn điêù là: nhân, nghĩa, lễ, và trí
- Về chính trị:
Ông nói bậc làm vua trị dân phải trọng nhân nghĩa chớ đừng trọng tài
Trang 11lợi thì mới tránh được sự biến loạn và việc chiến tranh.
- Ông cũng lưu tâm đến vấn đề kinh tế Ông nói: Người ta có hằng sản,
rồi mới có hằng tâm, nghĩa là người ta có của cải đủ sống một cách sung túcthì mới sinh ra có lòng tốt muốn làm điêù thiện Vậy bổn phận kẻ bề trên làphải trù tính sao cho tài sản của dân được phong phú rồi mới nghĩ đến điềudạy dân và bắt dân làm điều hay được Ông lại chỉ các phương lược mà cácbậc vua chúa phải theo để làm cho việc canh nông, mục súc, công nghệ củadân được phát đạt
Mạnh tử không những là một nhà tư tưởng lỗi lạc, lại là một văn gia đạitài Văn ông rất hùng hồn, và khúc chiết: ông nói điều gì, cãi lẽ gì, thật là rạchròi, góc cạnh Ông hay nói thí dụ: muốn cho ai hiểu điều gì, muốn bắt ai chịuphục lẽ gì, ông thường dẫn các thí dụ mượn ở sự vật cho người ta dễ nhận xét.Ông lại hay dùng thể ngụ ngôn hoặc kể những câu chuyện ngắn để diễn đạt tưtưởng cho người nghe vui thích và dễ nhận cái thâm ý của ông
2.2 Ngũ Kinh
a Kinh Thi
Kinh Thi là tuyển tập thi ca của người Trung Quốc từ thời thượng cổ đếnXuân Thu, chủ yếu từ thế kỷ XI đến thế kỷ VI TCN Tương truyền Kinh Thi cóhơn 3000 bài, phần lớn là thơ ca dân gian, một số do sĩ đại phu sáng tác
Trong 3.000 bài thơ ấy, Khổng Tử lựa lấy 300 bài vừa ca dao ở thônquê, vừa nhạc chương ở triều miếu, họp lại thành Kinh Thi Kinh Thi chia làm
ba phần: phong, nhã, tụng
- Quốc phong Quốc có nghĩa là nước: nhà Chu và các chư hầu Phong
là gió Ý nói bài hát làm cảm người ta như gió lay động các vật Quốc phong
là ca dao của dân gian các nước
- Nhã (nghĩa đen là chính đính) có 2 loại: tiểu nhã là những bài ca dùngtrong yến tiệc ở triều đình, đại nhã là những bài dùng trong những trường hợpquan trọng như khi thiên tử họp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường
- Tụng (là khen) gồm những bài ca khen các vua đời trước và dùng để
Trang 12hát ở miếu đường trong lúc tế tự.
Vậy ta thấy rằng những bài trong Kinh Thi không phải hết thảy của dângian Có những bài do văn nhân sáng tác như: Chính nguyệt, Thập nguyệt,Tiết nam sơn…, có những bài do hạng quý tộc soạn để phổ vào nhạc, như: Hạ
Vũ, Văn Vương, Xa công, Cát nhật; nhưng dân ca vẫn chiếm phần đông, như:Quan thư, Đào yêu, Trung cốc, Đại điền…
b Kinh Thư
Kinh thư hay Thượng thư là bộ sử sớm nhất của Trung Quốc kể từ thượng
cổ đến Đông Chu, do sử quan ghi chép lại Nội dung Kinh thư ghi lại các truyềnthuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử Khổng Tử san định lại đểcác ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừngtàn bạo như Kiệt, Trụ Văn chương Kinh thư mang tính cách ngôn ngữ của ngườiđịa vị cao, với sắc thái mỹ cảm đặc thù, nên có sức hấp dẫn đáng kể Lời văn cổkhó đọc, khó hiểu ấy lại được đánh giá là "rõ ràng như ánh sáng của nhật nguyệtsoi vào, tách bạch như đường đi của sao Sâm" (lời Tử Hạ) Thể hiện tư tưởngsùng cổ, đề cao vương quyền của Nho gia
c Kinh Lễ
Kinh Lễ khá phức tạp về nội dung cũng như bố cục, đã có trước thờiXuân Thu Khổng Tử và học trò đã góp phần sắp xếp , bổ sung, bình luận.Các nhà nho đời sau tiếp tục hoàn thiện, phần lớn được viết vào thời Hán.Kinh Lễ ghi chép các lễ nghi thời trước Khổng Tử hiệu đính lại mong dùnglàm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự Khổng Tử nói: "Không họcKinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời" (sách Luận ngữ)
Kinh lễ gồm 3 phần: Chu Lễ, Lễ Ký, Nghi Lễ Đây là cơ sở để các triềuđại sau này chế định các chế lễ ở mỗi thời kỳ
Nội dung Kinh Lễ nêu lên và vận dụng quan điểm về vũ trụ vào cuộcsống để quy định mọi cử chỉ, hành vi và bổn phận của con người từ khi sinh
ra cho đến chết, phản ánh tổ chức xã hội Trung Quốc, giữa người với người,
từ vua quan đến thứ dân Kinh Lễ với những giáo điều phong kiến có phần
Trang 13nghiệt ngã, qua đó thể hiện tư tưởng chính trị, đạo đức, triết học, quan hệ giaicấp của người Trung Quốc cổ đại.
Từ nguyên lý về âm dương ngũ hành, sách giải thích ra sự đời, biến đổi,phát triển, tiêu vong của vạn vật, vạn sự trong vũ trụ Người Trung Quốc theođây mà bói lành dữ trong cuộc sống, dựa vào đó mà hành động cho phù hợp
e Kinh Xuân Thu
Kinh Xuân Thu ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng
Tử Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trịnước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lờithoại để giáo dục các bậc vua chúa Ông nói, "Thiên hạ biết đến ta bởi kinhXuân Thu, thiên hạ trách ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này" Đây là cuốn kinhKhổng Tử tâm đắc nhất
Xuân Thu không chỉ là sử , mà còn là tác phẩm văn học, nghị luậnchính trị, triết học; được hậu thế cho rằng lời lẽ trong sách "vi ngôn đạinghĩa"- nhỏ nhẹ mà ý nghĩa to lớn Cách chép sử theo lối biên niên, dùng từnghiêm chỉnh, chính xác, sâu sắc, đã được các sử gia sau này noi theo
3 Quan điểm giáo dục của Khổng Tử
Nho Học đề cao vai trò của văn hoá giáo dục, coi giáo dục học vấn làcon đường quan trọng để thúc đẩy xã hội phát triển và làm nên bản sắc conngười Mặc dù những quan điểm của Khổng Tử về mục đích, chủ trương, nội
Trang 14dung, phương pháp được Ông đưa ra cách đây 25 thế kỷ nhưng hiện nay nó
vẫn mang ý nghĩa thời sự.
Hạt nhân tư tưởng mà Khổng Tử đề xướng và truyền bá trong các lớpmôn sinh là “NHÂN”, chữ Nhân theo quan niệm của Ông mang một ý nghĩarộng lớn, gắn bó chặt chẽ với ĐẠO – Đạo Đức – lòng yêu thương con người,yêu thương vạn vật Theo Khổng Tử, gốc của Nhân là hiếu đễ lễ nghĩa, trungthực vị tha, xã thân cứu người như chính Khổng Tử đã nói: “Theo ta, người
có đức Nhân là: Bản thân mình muốn đứng vững trong cuộc sống thì phảigiúp người khác đứng vững trong cuộc sống Mọi việc đều có thể từ mình mànghĩ đến người khác, có thể nói đó là biện pháp thực hiện điều Nhân” (LuậnNgữ-Ung dã) Nhân theo Khổng Tử còn là: “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”
Để thực hiện được Nhân, Khổng Tử cho rằng con người phải có Lễ Lễ là cácquy phạm đạo đức hợp thành một hệ thống qui tắc xử thế Trong suốt cuộcđời làmThầy của mình, bên cạnh dạy chữ, bao giờ Khổng Tử cũng chú trọngvào dạy người, ở đây đề cao thuyết Đức trị
Phần Học thuyết mà nội dung được Khổng Tử áp dụng vào lãnh vựcgiáo dục , mang tính nhập thế và tích cực, Ông đề xướng “thuyết Tôn Hiền”.Những tư tưởng ấy của Khổng Tử trong bối cảnh rối ren của xã hội đươngthời rất khó thực hiện, song đó là những quan điểm có giá trị được thế hệ sau
kế thừa, phát triển và đến nay vẫn còn đáng trân trọng về chủ trương, nộidung và cả phương pháp giáo dục
3.1 Mục tiêu giáo dục của Khổng Tử
Mục tiêu giáo dục của Khổng Tử là đào tạo, bồi dưỡng người “Nhân”,
“Quân Tử” để làm quan, điều hòa mâu thuẫn giai cấp, “khôi phục lễ nghĩa”trong xã hội đầy rối ren Xét về mặt chính trị về cơ bản có vẻ bảo thủ, ,nhưng về giáo dục thì mang tính tiến bộ và vượt thời đại
Theo Khổng Tử, học để làm người Quân Tử với chí khí của bậc ĐạiTrượng Phu – hình mẫu của con người trong xã hội phong kiến Người quân
tử trước hết phải tu dưỡng đạo đức thì mới có thể làm việc lớn (tề gia, trị