1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tieu luan triet hoc thuyet triet hoc nho giao một số giá trị cơ bản và hạn chế của học thuyết chính trị đạo đức xã hội nho giáo

28 347 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 171 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài. Nho giáo với tư cách là học thuyết chính trị xã hội xuất hiện ở Trung Quốc và đã du nhập vào Việt Nam từ thời Tây Hán do người phương Bắc truyền vào, học thuyết này đã có mặt ở Việt Nam hàng nghìn năm. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX Nho giáo ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội Việt Nam, góp phần tạo dựng diện mạo của dân tộc Việt Nam. Phải nói rằng, ngay từ đầu các triều đại phong kiến đã giành cho Nho giáo địa vị ngày một quan trọng trong hệ tư tưởng chính thống trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam, giai cấp phong kiến thống trị Việt Nam đã nhìn Nho học với hai tính chất: học thuyết chính trị đạo đức và tôn giáo. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp nhận và chủ yếu sử dụng Nho giáo làm hệ tư tưởng và công cụ để trị nước, đào tạo ra những con người phù hợp với yêu cầu và mục đích của giai cấp phong kiến thống trị. Là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, là ý thức hệ và công cụ thống trị của các triều đại phong kiến Việt Nam, Nho giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội và con người Việt Nam, đến quá trình hình thành, phát triển của xã hội và chế độ phong kiến Việt Nam. Những năm gần đây, trước những biến động hết sức phức tạp của đời sống xã hội, việc nhìn nhận, đánh giá về sự thể hiện của Nho giáo ở Việt Nam trong lịch sử và hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện tại, nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam ngày nay. Xuất phát từ những suy nghĩ trên, việc lựa chọn đề tài “Một số giá trị cơ bản và hạn chế của học thuyết chính trị đạo đức xã hội Nho giáo” làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu với hy vọng góp phần tiếng nói của mình làm sáng tỏ thêm sự thể hiện của Nho giáo trong lịch sử với những mặt, những yếu tố tích cực và tiêu cực căn bản của nó.

Trang 1

MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài.

Nho giáo với tư cách là học thuyết chính trị - xã hội xuất hiện ở Trung Quốc

và đã du nhập vào Việt Nam từ thời Tây Hán do người phương Bắc truyền vào, họcthuyết này đã có mặt ở Việt Nam hàng nghìn năm Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX Nhogiáo ảnh hưởng sâu đậm trong xã hội Việt Nam, góp phần tạo dựng diện mạo củadân tộc Việt Nam Phải nói rằng, ngay từ đầu các triều đại phong kiến đã giành choNho giáo địa vị ngày một quan trọng trong hệ tư tưởng chính thống trong quá trìnhhình thành và phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam, giai cấp phong kiến thốngtrị Việt Nam đã nhìn Nho học với hai tính chất: học thuyết chính trị - đạo đức và tôngiáo Các triều đại phong kiến Việt Nam đã tiếp nhận và chủ yếu sử dụng Nho giáolàm hệ tư tưởng và công cụ để trị nước, đào tạo ra những con người phù hợp vớiyêu cầu và mục đích của giai cấp phong kiến thống trị Là một bộ phận của kiếntrúc thượng tầng xã hội, là ý thức hệ và công cụ thống trị của các triều đại phongkiến Việt Nam, Nho giáo đã ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chủ yếu củađời sống xã hội và con người Việt Nam, đến quá trình hình thành, phát triển của xãhội và chế độ phong kiến Việt Nam

Những năm gần đây, trước những biến động hết sức phức tạp của đời sống xãhội, việc nhìn nhận, đánh giá về sự thể hiện của Nho giáo ở Việt Nam trong lịch sử

và hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách đối với sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứnggiữa truyền thống và hiện tại, nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Namngày nay

Xuất phát từ những suy nghĩ trên, việc lựa chọn đề tài “Một số giá trị cơ bản

và hạn chế của học thuyết chính trị - đạo đức xã hội Nho giáo” làm đối tượng

nghiên cứu chủ yếu với hy vọng góp phần tiếng nói của mình làm sáng tỏ thêm sự

thể hiện của Nho giáo trong lịch sử với những mặt, những yếu tố tích cực và tiêu

cực căn bản của nó

Trang 2

CHƯƠNG I MỘT SỐ GIÁ TRỊ CƠ BẢN VÀ HẠN CHẾ CỦA HỌC THUYẾT NHO GIÁO

1 Điều kiện kinh tế - xã hội và tư tưởng của việc hình thành Nho giáo 1.1.1 Cơ sở kinh tế - xã hội của sự hình thành Nho giáo.

Học thuyết của nhà Nho xưa nay có nhiều tên gọi khác nhau: Nho học, Nhogiáo, Đạo khổng- Mạnh v.v Mỗi ggtên gọi đó, ngoài tính chất chung là học thuyết

có nguồn gốc từ Khổng Tử còn có hàm ý riêng Nho học là học thuyết triết học vàchính trị- xã hội, Nho giáo là học thuyết ngoài tính chất trên, còn bao hàm khía cạnhtôn giáo Đạo khổng tử xuất hiện ở trong một bối cảnh lịch sử cụ thể Đó là thờiĐông Châu, vào thế kỷ VI trước công nguyên (TCN) Lúc này sự thống trị của nhàChâu đã suy yếu, các nước chư hầu đua nhau tranh bá đồ vương, chiến tranh xảy raliên miên, người dân bị lâm vào cảnh chết chóc, khốn cùng Tình hình đó khiến cácnhà tư tưởng đương thời đề ra đương lối trị quốc khác nhau, mong lập lại trật tự xãhội Mỗi nhà tư tưởng đó tiếp cận vấn đề xã hội khác nhau, do lập trường chính trịkhác nhau mà đề ra các hệ thống quan điểm khác nhau, hình thành lên học thuyếtkhác nhau như Nho gia, Mặc gia… Các học thuyết đấu tranh với nhau nhằm phủđịnh đối phương và khẳng định mình

Đạo nho là do Khổng Tử (551 - 479 TCN) sáng lập Tiền đề tư tưởng của ông

là tư tưởng của Châu Công Đán ( ?-1095 TCN) Từ khi ra đời Nho giáo có ảnhhưởng hết sức sâu sắc và lâu dài tại trung quốc và Việt Nam, một số nước Châu Ákhác Đối với Nho giáo, người việt trải qua một quá trình “từ phản ứng đến tiếp thụ,

từ xa lạ đến gần gũi, từ công cụ của kẻ bên ngoài trở thành công cụ của bản thânmình”

1.1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự hình thành Nho giáo.

Sự ra đời của Nho giáo còn bắt nguồn (tiếp thu, kế thừa) từ đời sống tư tưởng(tôn giáo, chính trị, đạo đức) của Trung Quốc từ trước đến bấy giờ, đặc biệt tiền đề

tư tưởng của Châu Công Đán Ông là nhà tư tưởng, nhà chính trị đầu đời Châu, đãxây dựng nên một hệ thống tư tưởng gồm ba bộ phận kết hợp chặt chẽ với nhau đó

Trang 3

là: tôn giáo, chính trị, đạo đức Châu Công Đán tin có một ông trời chi phối việcngười, việc xã hội, có thể thưởng thiện phạt ác, tuỳ theo con người đó… Chính tưtuởng có tính chất tôn giáo này đã ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng của khổng

tử sau này Nho trong giai đoạn đầu, giai đoạn của Khổng Tử, Mạnh Tử chưa mangtính chất tôn giáo Nó chỉ mang tính chất tôn giáo khi chế độ phong kiến trung ươngtập quyền Trung Quốc xác lập, khi nhà Hán phải dựa vào thần quyền để củng cố địa

vị thống trị của mình

Về tôn giáo, nhà Chu đề cao tư tưởng “kính trời”, “hợp mệnh trời”, “thờthượng đế”, “trời và người hợp nhất” Nhà Chu cho rằng, Trời (còn gọi là thượngđế) là lực lượng có nhân cách, có ý chí và có uy quyền tuyệt đối Chính vì vậy mànhà Chu cho rằng, vì nhà Ân không biết mệnh trời, hành động không hợp với mệnhtrời, do vậy Thượng đế đã trừng phạt và để cho nhà Chu thay thế nhà Ân cai trị dân

Về chính trị, những tư tưởng của tầng lớp quý tộc nhà Chu khẳng định rằng, vìnhà Chu biết và làm theo “mệnh trời” mà được “nhân dân” từ tay nhà Ân để “hưởngdân” và “trị dân” suốt đời; nếu kẻ nào chống lại “mệnh trời” đó, thì nhà Chu vângmệnh trời và thay trời trừng phạt, chém giết Vua nhà Chu là chủ sở hữu tối cao vềruộng đất và mọi người trong xã hội đều là thần dân của nhà vua; vua là thiên tử(con trời) được thay trời thống trị thiên hạ, cai trị dân Rõ ràng, tư tưởng chính trịdưới thời nhà Chu là hết sức phản động nhưng lại được phủ lên một lớp son tôngiáo về “ý trời”, “mệnh trời”

Về đạo đức, tư tưởng đạo đức của nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiếu làm nòng

cốt Từ quan niệm chính trị - tôn giáo “trời và người hợp nhất”, nhà Chu khẳng địnhrằng, vì các bậc tiên vương nhà Chu có đức mà được sánh cùng thượng đế, đượcthượng đế cho hưởng nước, hưởng dân…, cho nên các vua đời sau phải biết kínhcái đức đó, phải biết bồi dưỡng nó để cho con cháu được hưởng nước, hưởng dânlâu dài Hiếu là thờ phụng tổ tiên, phải nhớ công lao của tổ tiên mà giữ gìn phép tắc

tổ tiên để lại Có cái đức Hiếu như vậy, mới nhận được mệnh trời mà được hưởngnước, hưởng dân mãi mãi Đây là một quan niệm đạo đức nhằm củng cố và tuyêntruyền sự tồn tại vĩnh viễn địa vị thống trị của tầng lớp quý tộc nhà Chu và Nhà

Trang 4

nước quý tộc Chu.

Sự xuất hiện Nho giáo cũng nhằm giải đáp nhu cầu mà thực tiễn của xã hộiTrung quốc đặt ra lúc bấy giờ Tuy nhiên khác với các “gia”, “giáo” khác, Nho giáođặc biệt đề cao đạo đức, coi đạo đức và con người có đạo đức là công cụ, là phươngthức cai trị, quản lý xã hội có hiệu quả nhất trong việc đưa xã hội từ “loạn” tới “trị”

Vì vậy có thể nói, Nho giáo chủ yếu là học thuyết chính trị - đạo đức, học thuyếttriết học về con ngưòi, về xã hội

Trung Quốc là quê hương của nho học, nhưng các nước láng giềng của TrungQuốc cũng tiếp nhận Nho học Học thuyết naỳ chi phối đời sống chính trị, tưtưởng, văn hoá và tôn giáo của một số nước viễn đông Nho học cũng được gọi làNho giáo

Nho học truyền vào Việt Nam trong một hoàn cảnh đặc biệt Người Hán xâmlược Việt Nam và đưa nho học vào Ở Việt Nam ngày nay, nhiều công trình kiếntrúc có liên quan đến Nho giáo, như Văn Chỉ, Văn Thánh Dấu vết Nho giáo vấncòn dễ nhận thấy Trong tâm trí người dân còn tồn tại một ông trời linh thiêng, đầyquyền lực vốn do nho học, Nho giáo tạo lên

1.2 Một số tư tưởng cơ bản của Nho giáo về chính trị - xã hội.

1.2.1 Học thuyết về bản tính của con người.

Vấn đề tính người là một trong những nội dung cơ bản của Nho giáo về conngười, là một trong những cơ sở để từ đó, các nhà Nho đề xuất ra học thuyết chínhtrị, đạo đức; là căn cứ để khẳng định tính tuyệt đối của những nguyên lý cai trị vàphục vụ lợi ích của giai cấp phong kiến thống trị

Theo Khổng Tử, tính của con người khi mới sinh ra hoàn toàn ngây thơ, trongtrắng, tự nhiên, chưa bị thay đổi bởi ngoại cảnh và các yếu tố xã hội Với cái bảntính này Đặc biệt ông khẳng định rằng, cái bản tính ban đầu ấy của con người cóthể bị biến đổi bởi các điều kiện, yếu tố ngoại cảnh, bởi sự tu dưỡng đạo đức củacon người

Dù coi tính người là cái vốn ban đầu do trời phú cho hay có nguồn gốc tựnhiên, các nhà Nho đều đi tới khẳng định rằng, cái tính ấy không phải là nhất thành

Trang 5

bất biến mà có thể thay đổi được Bằng học thuyết tính người, các nhà Nho đều đềcao đến mức tuyệt đối hóa vai trò của tu dưỡng đạo đức theo các chuẩn mực của

Tam cương, Ngũ thường và phù hợp với những yêu cầu của giai cấp thống trị.

Quan niệm và sự luận giải về tính người là một trong những cơ sở, tiền đề để

từ đó, các nhà Nho đề xuất tư tưởng về vị trí, vai trò của con người, của mỗi giaicấp trong xã hội và xây dựng những học thuyết, tư tưởng khác nhằm hoàn thiện conngười và ổn định trật tự, kỷ cương xã hội, phù hợp với yêu cầu của chế độ phongkiến và phục vụ lợi ích của giai cấp phong kiến thống trị

Dù có những yếu tố, nhân tố hợp lý (coi trọng việc giáo dục, tu dưỡng đạođức, thừa nhận ở mức độ nhất định vai trò nỗ lực chủ quan của con người trong việchình thành và hoàn thiện nhân cách của con người v.v ), nhưng cơ bản, học thuyết

“Tính người” của Nho giáo là duy tâm siêu hình Nó đề cao đến mức tuyệt đối hóavai trò của đạo đức, giáo dục đạo đức cũng như vai trò của trời, mệnh trời, của cánhân nhà vua trong việc hoàn thiện con người và ổn định, phát triển xã hội

1.2.2 Quan niệm của Nho giáo về vai trò của con người

Những quan niệm về nguồn gốc, bản tính của con người là cơ sở, căn cứ và lànguyên lý xuất phát của quan niệm về vai trò của con người - nội dung chủ yếu, cơbản nhất trong quan điểm của Nho giáo về con người Nho giáo sở dĩ quan tâm và ởmức độ nhất định, đề cao vai trò của con người cũng là vì trước tình trạng hết sứcrối loạn của xã hội và nhằm khắc phục có hiệu quả tình trạng đó, không thể khôngquan tâm đến con người, vai trò của con người trong xã hội, trong những biến độngcủa xã hội

Nho giáo là một trong những hình thái triết học, từ đầu đã nhìn nhận thế giớivạn vật như một chỉnh thể thống nhất, trong đó vũ trụ, trời đất, vạn vật, con ngườiluôn tồn tại trong mối liên hệ, quan hệ tương hỗ với nhau Tuy nhiên trong nhữngmối quan hệ đó, Nho giáo chủ yếu đề cập đến hai mối quan hệ cơ bản: mối quan hệgiữa trời và người và mối quan hệ giữa con người với xã hội Vai trò cả con người

trong hai quan hệ này biểu hiện tập trung trong học thuyết “Đạo làm người” của

Nho giáo

Trang 6

Bàn về trời và vai trò của trời đối với con người, xã hội, nhìn chung các nhà

Nho đều cho rằng, trời có đức, có đạo, có mệnh Chính vì vậy mà trời là chúa tể tối

cao sinh ra tất cả, thống trị tất cả, quyết định tất cả trong càn khôn, vũ trụ, con

người Đạo đức của trời (Thiên đức), theo các nhà Nho, là sinh ra và nuôi dưỡng muôn vật, con người Đức của trời còn được biểu hiện ở sự bao dung tất cả mọi đức

nhỏ, đức lớn khác của muôn vật, muôn loài, muôn người

Tóm lại, cái đức của trời, như Khổng Cấp đã viết trong sách Trung dung:

"Đức nhỏ thì sông suối chảy tuôn; đức lớn thì đôn hậu hóa dục muôn vật Đó chính

là duyên cớ khiến Trời Đất là lớn vậy" [10, tr.166].

Như vậy, quan niệm của Nho giáo về vai trò của con người trong quan hệ vớitrời, về cơ bản là duy tâm Trước trời, con người chỉ là một lực lượng thụ động, nô

lệ Vai trò của con người, theo các nhà Nho chỉ giới hạn thu hẹp ở việc đem cái

“đạo”, cái “mệnh” của trời lưu hành trong khắp vũ trụ, thiên hạ Thậm chí, Nho giáo còn khẳng định rằng, để thực hiện cái “vai trò” ấy, con người cũng phải dựa

vào trời, vào cái đấng chí tôn, tối thượng Tính chất duy tâm, siêu hình trong quanniệm của Nho giáo về vai trò của con người đối với vũ trụ, vạn vật còn biểu hiện ở

chỗ, con người chỉ cần “tri thiên đạo”, “tri thiên mệnh” và hành động theo cái “tri”

ấy thì có thể biết được cái bản chất của con người, muôn vật, muôn loài

Theo quan niệm của các nhà Nho, vai trò của con người được biểu hiện trongcác mối quan hệ xã hội cơ bản Việc phân chia các mối quan hệ xã hội của con

người xuất phát từ việc các nhà Nho nhìn nhận con người từ nhiều phương diện Từ

phương diện đạo đức, Nho giáo đề cập tới quan hệ Quân tử - tiểu nhân; từ phương

diện lao động xã hội, Nho giáo bàn đến quan hệ Lao lực - lao tâm; từ phương diện chính trị, Nho giáo đề cập tới các mối quan hệ Thống trị - bị trị, Vua (thiên tử) - dân, Vua - tôi, Quan - dân; từ phương diện thiết chế xã hội, Nho giáo đưa ra các quan hệ: trong gia đình, đó là các quan hệ: cha - con, chồng - vợ, anh - em, trong xã hội, đó là các quan hệ: bằng hữu (bạn bè), trên - dưới, thiên tử - thiên hạ Ứng với

mối quan hệ ấy, Nho giáo lại đưa ra những quy phạm, những chuẩn mực đạo đức đểràng buộc, cột chặt con người vào trong những mối quan hệ này, định rõ trách

Trang 7

nhiệm của con người với con người trong gia đình, ngoài xã hội

1.2.3 Quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng.

Theo quan niệm của các nhà Nho, xã hội lý tưởng là một xã hội thái bình, ổnđịnh, có trật tự, có kỷ cương, mọi cái trong xã hội đều là của chung, mọi ngườitrong xã hội đều có quyền lợi, được chăm sóc, đều bình đẳng, sống hòa mục, thân

ái Để tạo lập, duy trì một xã hội như vậy, từ chỗ coi gia đình là tế bào của xã hội,mọi sự rối loạn của xã hội đều bắt đầu từ sự rối loạn trong gia đình, các nhà Nhođều cho rằng, xã hội muốn có trật tự, kỷ cương, ổn định thì trước hết gia đình phải

có trật tự, kỉ cương và ổn định sao cho "cha ra cha, con ra con, vợ ra vợ, chồng ra chồng" Nhằm đạt được mục đích trên, các nhà Nho đều khẳng định, mọi người

phải được giáo dục, giáo hóa theo những chuẩn mực, nguyên lý đạo đức của đạo

Tam cương, Ngũ thường Cho nên, các nhà Nho đều chú trọng, đề cao giáo dục, giáo hóa tinh thần “Hữu giáo vô loại”, “Phú nhi hậu giáo”; đồng thời còn coi đó là

một trong những biện pháp chính trị căn bản nhất để duy trì trật tự, kỉ cương, ổnđịnh xã hội Quan niệm của Nho giáo về xã hội bình đẳng, đại đồng lý tưởng, về

thực chất cũng để nhằm tuyên truyền và bảo vệ cái thuyết “chính trị thần quyền” và

sự tồn tại vĩnh viễn của chế độ phong kiến, quyền lợi và địa vị thống trị của giai cấpđịa chủ phong kiến, là nhằm duy trì vĩnh viễn sự bất công, bất bình đẳng trong xãhội có lợi cho giai cấp phong kiến thống trị

Xã hội lý tưởng trong quan niệm của các nhà Nho là một xã hội có đạo đức và

có đời sống vật chất tương đối đầy đủ biểu hiện ở những dấu hiệu cơ bản: vua thánh

- tôi hiền; mọi người đều được chăm sóc, nuôi dưỡng, đều có đạo đức và sống cóđạo đức Nho giáo không chủ trương xã hội lý tưởng là xã hội nghèo, không hoàntoàn đối lập lợi ích vật chất với đạo đức, không hoàn toàn coi thường việc làm giàu,không phủ nhận vai trò tích cực nhất định của sự phát triển kinh tế đối với việc hoànthiện đạo đức của con người và sự ổn định của xã hội Nho giáo coi Nhân, Nghĩa,

Lễ, Trí, Tín là những phẩm chất đạo đức cơ bản mà mọi người cần phải học tập, tudưỡng để tự hoàn thiện mình; đạo đức là phẩm chất cơ bản của mẫu người lý tưởng,cần có của xã hội lý tưởng; coi đạo đức, con người có đạo đức là điều kiện cơ bản

Trang 8

nhất, chủ yếu nhất để tạo lập, duy trì xã hội lý tưởng.

Tất nhiên ở Nho giáo, nội dung của giáo dục, giáo hoá, trước sau cũng chỉ lànhững nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản trong Tam cương, Ngũ thường màthôi Điều đó có nghĩa là, mục đích của giáo dục, giáo hoá chỉ là tạo ra con ngườiđạo đức Vì vậy mà, mẫu người lý tưởng của Nho giáo là mẫu người đạo đức, chỉ

bó hẹp ở khía cạnh đạo đức Đây là một hạn chế lớn nhất trong tư tưởng giáo dục vàtrong quan niệm về con người của Nho giáo

1.2.4 Quan điểm của Nho giáo về đường lối trị nước

Tư tưởng đức trị là những quan niệm về đường lối trị nước, quản lý xã họcdựa trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức Đó là hệ thống chuẩn mực những nguyêntắc, quy phạm đạo đức để điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ

xã hội, nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng Đứctrị phản ánh nhu cầu và lợi ích xã hội của giai cấp thống trị, được biểu hiện dướihình thức những quy định và những đánh giá trên cơ sở xác lập những giá trị luân

lý, được mọi người thừa nhận và chấp hành một cách tự giác Nó được củng cốbằng những tấm gương đạo đức

Các nhà Nho từ Khổng Tử trở đi đều đặc biệt đề cao vai trò của đạo đức, coiđạo đức là công cụ, phương tiện chủ yếu nhất, hữu hiệu nhất để đạt được nhữngmục đích chính trị Nho giáo coi đạo đức, lễ giáo có vai trò quyết định trong việcduy trì địa vị, quyền lợi của giai cấp phong kiến thống trị, trong việc củng cố, duy

trì chế độ phong kiến, trong việc trị nước, quản lý xã hội Trong sách Luận ngữ,

Khổng Tử nói: ''Nếu dẫn dắt bằng đạo đức, sửa trị bằng lễ giáo, thì dân khôngnhững có lòng hổ thẹn mà còn cảm hoá quy phục'' [10, tr.245] Khổng Tử cònkhẳng định rằng, đạo đức là biện pháp hiệu quả nhất trong việc thu phục nhân tâm,nhân lực, trong việc “bình thiên hạ” Như ông nói: ''Làm chính trị bằng đức, thì tựmình sẽ giống như sao Bắc Đẩu, ở nguyên một chỗ, mà mọi vì sao khác chầu quanh

mình'' [10, tr.244] Trong sách Mạnh Tử, Mạnh Tử cũng khẳng định rằng, nhà vua,

kẻ cầm quyền nếu thực hành đạo nhân, thi hành đường lối ''Nhân chính'' sẽ giữ gìnđược bốn biển, bảo tồn nền xã tắc, ngôi vị của con cháu mình được duy trì Ngược

Trang 9

lại nếu thi hành đường lối ''bất nhân'', tàn bạo với dân thì nhà vua sẽ nguy hiểm đếntính mạng, nước nhà sẽ bị diệt vong [10, tr.716] Mạnh Tử còn tuyệt đối hoá vai tròcủa đường lối Đức trị (còn gọi là Nhân trị, Vương đạo), coi việc trị nước bằng đạođức là vô địch: ''Người có đức nhân thì không ai địch nổi'' [6, tr.17].

Bên cạnh đó, Nho giáo còn cho rằng, đạo đức và việc thi hành đạo đức còn làbiện pháp tốt nhất để loại trừ tình trạng phi nhân, phi đạo đức trong xã hội, làphương tiện để duy trì trật tự, kỷ cương và sự ổn định của xã hội Ở Nho giáo thì cáiđiều đáng sợ nhất của một quốc gia, của một nền chính trị không phải là nướcnghèo, của cải ít, mà là không có phép tắc không có đạo đức

Ở Nho giáo, muốn có xã hội lý tưởng, xã hội có đạo đức, tất nhiên phải có conngười lý tưởng, con người có đạo đức Con người lý tưởng, theo quan niệm của cácnhà Nho, không chỉ là một trong những động lực để loại trừ tình trạng rối loạn trong

xã hội, khôi phục và duy trì trật tự, kỷ cương của xã hội mà còn đóng vai trò quantrọng trong việc thiết lập xã hội lý tưởng

Con người lý tưởng theo quan niệm của Nho giáo là người Quân tử Nho giáođưa ra quan niệm về người quân tử xuất phát từ sự đối lập giữa ''tính thiện'' và “tínhác”, giữa ''Nghĩa'' và ''Lợi'', giữa ''Quân tử'' và “Tiểu nhân'' Theo đó, người Quân tử

là người có đạo đức, học và thực hành nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, là người rành về việcnghĩa, coi thường lợi, v.v

Nhưng để trở thành người quân tử theo các nhà Nho, họ phải trải qua quá trìnhhọc tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức lâu dài, với một nỗ lực bền bỉ Có như vậy, trí

và đức của họ mới giàu có thêm và ngày càng bền vững

Như vậy, từ chỗ coi trọng, quan tâm đến vấn đề con người, nhìn nhận conngười chủ yếu từ phương diện đạo đức - chính trị, Nho giáo đặc biệt đề cao đếnmức tuyệt đối hoá vai trò của đạo đức, của đường lối đức trị trong việc khôi phục,duy trì trật tự, kỷ cương, ổn định xã hội, trong việc tạo lập, hoàn thiện nhân cách

con người và xã hội lý tưởng Nhưng chính vì vậy mà Nho giáo cũng chỉ có thể tạo

ra những con người phiến diện chứ không thể tạo ra con người (dù đó là con người

lý tưởng) toàn diện, đủ năng lực để thực hiện vai trò của mình trong công cuộc phát

Trang 10

triển mọi mặt của xã hội, trong việc loại trừ vĩnh viễn tình trạng rối loạn và đưa xãhội đến thái bình, thịnh trị được như mong muốn của các nhà Nho Con người cóđạo đức, con người lý tưởng trong quan niệm của các nhà Nho thực chất cũng chỉ làcon người cần có của chế độ phong kiến, nhằm phục vụ những lợi ích của giai cấpphong kiến thống trị.

1.2.5 Một số biện pháp chủ yếu của đường lối Đức trị.

Ở Nho giáo, quan niệm về vai trò của đường lối đức trị là cơ sở, căn cứ đểđịnh hướng và chỉ đạo việc thực hiện đường lối cai trị, quản lý xã hội bằng nhữngchuẩn mực, quy phạm đạo đức Ngoài ra, cái phạm trù đạo đức căn bản của Nhogiáo không chỉ là những chuẩn mực đạo đức cần có của người, là phương tiện đểtạo ra và hoàn thiện nhân cách đạo đức của con người, của xã hội mà còn là công cụ

có tính chính trị để ràng buộc con người, cai trị và quản lý xã hội đáp ứng nhũng

yêu cầu và mục đích chính trị của giai cấp phong kiến thống trị Vì vậy có thể nói, ở

Nho giáo, đạo đức và chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau Sự thống nhất và mối

quan hệ chặt chẽ giữa đạo đức và chính trị được biểu hiện tập trung trong tư tưởngđức trị, đường lối trị nước bằng đạo đức

Những biện pháp chủ yếu để thực hiện đường lối đức trị trong học thuyếtchính trị - xã hội của Nho giáo bao gồm:

Thứ nhất: Nhân, Lễ, Chính danh

Nhân và Lễ là hai phạm trù trung tâm và cơ bản nhất trong tư tưởng đức trị nóiriêng và của học thuyết chính - xã hội của Nho giáo nói chung Nó còn là biện pháp

để thi hành đường lối đức trị Về vấn đề này, sách Kinh lễ đã viết: “Đạo đức nhân

nghĩa phi lễ bất thành'' (nghĩa là: ''đạo đức nhân nghĩa không do lễ không thành'')[11, tr.734]

Tuy nhiên, ở Nho giáo, Nhân, Lễ, Chính danh là thống nhất với nhau trong tưtưởng đức trị, trong việc thực thi đường lối đức trị Trong đó Nhân là nội dung, làhạt nhân của Lễ, còn Lễ là hình thức thể hiện của Nhân và trên bình diện chính trị,

sự thống nhất của Nhân và Lễ là Chính danh

Chính danh là một phạm trù, một nội dung cơ bản của tư tưởng Đức trị, là một

Trang 11

trong những biện pháp chính trị để thi hành đường lối Đức trị, Lễ trị.

Xuất phát từ việc cho rằng, trong xã hội mỗi một người, mỗi một đẳng cấp đều

có vị trí và bổn phận riêng của mình, các nhà Nho đều khẳng định rằng, để loại bỏtình trạng rối loạn, để duy trì trật tự, kỷ cương và sự ổn định của xã hội thì điều có ý

nghĩa tiên quyết là phải thực hành biện pháp ''chính danh'' Như trong sách Luận ngữ, Khổng Tử nói: ''Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận thì sự

không thành; sự không thành thì lễ nhạc không thịnh; lễ nhạc không thịnh thì hìnhphát không trúng, hình phát không trúng thì dân không biết chỗ nào mà đặt tay chânnữa'' [10, tr.443] Bời vậy, mà ''người quân tử (nhà cầm quyền) đặt danh tất phải nóiđược đạo lý, mà nói được tất làm được'' [10, tr.443]

Thứ hai: Vai trò của đạo đức, tu dưỡng đạo đức của nhà vua, kẻ cầm quyền trong việc thi hành đường lối Đức trị.

Từ chỗ đề cao địa vị và cai trò của nhà vua, của người cầm quyền trong việctrị nước, trị dân, trong việc tạo lập và duy trì xã hội ổn định và phát triển, cũng tấtyếu, Nho giáo càng coi trọng đến mức tuyệt đối hóa vai trò của đạo đức và tu dưỡngđạo đức của nhà vua, của kẻ cai trị

Trong tư tưởng “Đức trị” các nhà Nho khẳng định rằng, để làm tròn tráchnhiệm là “cha mẹ của dân”, “thay trời trị dân và giáo hóa dân”, để làm “đạo trời”,

“mệnh trời”, thì điều quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định là nhà vua, kẻ cầmquyền phải có và luôn luôn tu dưỡng đạo đức

Tóm lại, quan niệm của Nho giáo về vai trò của đạo đức, của sự tu dưỡng đạođức của con người nói chung, của nhà vua và kẻ cầm quyền trong việc cai trị nóiriêng là biểu hiện tập trung nhất, rõ rệt nhất những yếu tốt hợp lý và hạn chế củaNho giáo Yếu tố hợp lý là Nho giáo đã nhận thức được vai trò tích cực của đạo đứctrong đời sống xã hội Những phẩm chất rất cơ bản của cá nhân nhà vua, của ngườicầm quyền phải có đạo đức, phải là những tấm gương đạo đức, phải luôn luôn tudưỡng đạo đức và phải có năng lực đem những phẩm chất đạo đức ấy để “đạo đứchoá'' toàn bộ xã hội Như vậy, Nho giáo đã nhận thấy vai trò tích cực của những cánhân có đạo đức trong việc cai trị xã hội, trong việc duy trì, củng cố trật tự, kỷ

Trang 12

cương, ổn định của xã hội Tuy nhiên, hạn chế là Nho giáo quá đề cao vai trò quyếtđịnh của đạo đức, của những cá nhân có đạo đức trong việc cai trị, quản lý xã hội,trong những diễn biến của lịch sử Do vậy mà quan niệm của Nho giáo về đạo đức,

về vai trò của đạo đức cá nhân không tránh khỏi tính chất duy tâm, siêu hình

Thứ ba: Về vai trò của dân trong tử tưởng Đức trị

Nho giáo luôn quan tâm đến dân và đặc biệt là vai trò của dân “Dân” trongkinh sách Nho giáo được đặt trong mối quan hệ đối lập với tầng lớp khác - tầng lớp

trị dân Sự phân biệt giữa hai tầng lớp này chủ yếu là do sự khác nhau về đạo đức và tài trí Theo đó, tầng lớp trị dân còn được coi là người hiền, người trí, người quân

tử, còn tầng lớp bị cai trị được gọi là kẻ bất nhân, tiểu nhân Chính sự khác nhau về đạo đức và tài trí giữa hai tầng lớp này mà dẫn đến sự khác nhau về địa vị và vai trò

xã hội của mỗi một tầng lớp Sở dĩ được ở địa vị cai trị, sai khiến và giáo hoá người

là bởi tầng lớp này là do mệnh trời, có chí tu thân, học tập mà có đạo đức, tài trí vàbiết đem cái đức, cái tài trí ấy nêu gương cho mọi người noi theo Còn sở dĩ dân ởđịa vị bị cai trị, bị sai khiến và đối tượng của giáo hoá là do bởi họ không đượcmệnh trời, không bẩm thụ được cái ''linh khí'' của trời đất, không có chí khí, thiếuđạo đức, kém tài trí, không học tập, không hiểu đạo lý

Các nhà Nho đều coi “dân là gốc của nước” Bởi dân không chỉ do trời sinh ra,

mà điều cơ bản, họ là một bộ phận to lớn trong xã hội, họ là đối tượng của “cai trị”,không có họ thì cũng không thể tồn tại mặt đối lập - đó là giai cấp thống trị Theo

đó, không có dân thì không có nước, không có vua Họ không chỉ là những ngườinuôi dưỡng, phục dưỡng mà còn là lực lượng bảo vệ nhà vua, người cai trị Cũngbởi vậy mà các nhà Nho đều khuyên vua hãy coi dân, lấy dân là trời, coi dân cònquý trọng hơn cả xã tắc và nhà vua

Như vậy, trong quan niệm về dân, vai trò của dân, Nho giáo là một trong íthọc thuyết từ rất sớm đã nhận thấy vai trò của dân như là một lực lượng sản xuất tolớn và có ảnh hưởng nhất định đối với sự thịnh - suy, hưng - vong của chế độ chínhtrị, sự ổn định của xã hội Mặc dù vậy, do bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử,

do đứng trên lập trường của giai cấp thống trị và nhằm phục vụ địa vị, quyền lợi của

Trang 13

giai cấp ấy, các nhà Nho chưa đi đến quan niệm rằng, dân không chỉ là sản phẩmcủa lịch sử mà còn là lực lượng sáng tạo và thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt củalịch sử.

Nội dung cơ bản, bao trùm của Nho giáo là học thuyết chính trị - xã hội Cáicốt lõi trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo là từ việc nhìn nhận conngười và vai trò của con người trong các mối quan hệ cơ bản, chủ yếu từ phươngdiện đạo đức - chính trị, Nho giáo đã đề xuất những quan điểm cơ bản nhất vềđường lối trị nước, quản lý xã hội Trong đường lối trị nước ấy, những chuẩn mực,những quy phạm đạo đức không chỉ là những chuẩn mực đạo đức nhất của conngười và chi phối mọi hành động của con người trong các mối quan hệ cơ bản củacon người mà còn là những công cụ, biện pháp chính trị cơ bản nhất để trị nước Dovậy, đường lối trị nước đó còn là Đức trị, Lễ trị Tất nhiên trong việc thực thi đườnglối này, Nho giáo đòi hỏi con người phải thực hành theo ý trời, mệnh trời và kết hợpvới pháp trị Chính vì vậy mà, học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo khôngtránh khỏi tính chất duy tâm và siêu hình Tất cả chỉ là để đi đến mục đích cuốicùng là nhằm củng cố, bảo vệ chế độ phong kiến vĩnh viễn hoá địa vị, quyền lợi củagiai cấp phong kiến thống trị Vì vậy mà Nho giáo không thể không chứa đựng

những hạn chế, càng không thể là cái cần có cho mọi người, mọi xã hội, cho mọi

giai đoạn phát triển của xã hội loài người

Trang 14

CHƯƠNG II ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO Ở VIỆT NAM 2.1 Nho giáo là cơ sở để định ra và thực hiện đường lối đức trị.

Trong lịch sử của chế độ phong kiến Việt Nam, đến thế kỷ XI trở đi, nhằm xâydựng, củng cố chế độ phong kiến và Nhà nước phong kiến Trung ương tập quyền,duy trì trật tự, kỷ cương xã hội và thực hiện những nhiệm vụ thực tiễn của côngcuộc giữ nước và phát triển đất nước về mọi mặt, giai cấp phong kiến Việt Nam đãtiếp thu, khai thác tư tưởng đức trị và thực hiện tư tưởng đó trong việc cai trị, quản

2.1.1 Ảnh hưởng tới sự định hướng và mục đích của đường lối Đức trị.

Trong các tác phẩm như Khuyên Lý Công Uẩn lên ngôi của nhà sư Vạn Hạnh, Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt,

v v đã phác hoạ bước đầu những nét đặc trưng cơ bản của XHLT theo tinh thầnNho giáo

Trong lời của nhà sư Vạn Hạnh và của Đào Cam Mộc khuyên Lý Công Uẩn

lên ngôi, thì xã hội lý tưởng là một xã hội mà nhà vua là người đứng đầu muôn dân,

là người khoan thứ, nhân từ được lòng dân [3, tr.352,353] Trong Chiếu dời đô của

Lý Công Uẩn, một xã hội lý tưởng là một xã hội mà trong đó, nghiệp đế thịnhvượng lớn lao; vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh; dân chúng được đông đúc,giàu có, trăm họ không hao tổn; muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh [3, tr.358]

Trong Văn bia tháp Sùng Thiện Diêu Linh, xã hội lý tưởng là một xã hội ''Dân

chúng giàu nhiều, hoàn vũ thanh bình, văn hoá thống nhất, trong ngoài cùng gôm,ngũ hành thuận thứ tự, trăm giống thóc dồi dào, ngoài cửa ải không khói bụi, trongcõi nước hết tai ương'' [5, tr.64]

Những lời trong Văn bia chùa Linh Xứng nhằm ca ngợi Lý Thường Kiệt,

Ngày đăng: 28/08/2017, 14:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w