Thực trạng vấn đề cần giải quyết trong đề án về nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm các mặt hàng do Bộ Y tế quản lý...17 2.3.. Một trong những nguyên nhân
Trang 1PHẠM THỊ NGỌC
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
THANH TRA, KIỂM TRA AN TOÀN THỰC PHẨM
CÁC MẶT HÀNG THỰC PHẨM DO
BỘ Y TẾ QUẢN LÝ, GIAI ĐOẠN 2016-2020
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI, THÁNG 5 NĂM 2016
Trang 2ĐỀ ÁN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
THANH TRA, KIỂM TRA AN TOÀN THỰC PHẨM
Trang 31 Lý do xây dựng đề án 1
2 Mục tiêu của đề án 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Giới hạn của đề án 4
B NỘI DUNG 5
1 Cơ sở xây dựng đề án 5
1.1 Cơ sở khoa học 5
1.2 Cơ sở chính trị, pháp lý 12
1.3 Cơ sở thực tiễn 14
2 Nội dung thực hiện của đề án 15
2.1 Bối cảnh thực hiện đề án 15
2.2 Thực trạng vấn đề cần giải quyết trong đề án về nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm các mặt hàng do Bộ Y tế quản lý 17
2.3 Nội dung cụ thể đề án cần thực hiện 28
2.4 Các giải pháp thực hiện 29
3 Tổ chức thực hiện đề án 36
3.1 Phân công trách nhiệm thực hiện đề án 36
3.2 Tiến độ thực hiện đề án 40
3.3 Kinh phí thực hiện các hoạt động của đề án 41
4 Dự kiến hiệu quả của đề án 42
4.1 Ý nghĩa thực tiễn của đề án 42
4.2 Đối tượng được hưởng lợi của đề án 43
4.3 Những thuận lợi khó khăn khi thực hiện đề án và hướng giải quyết khó khăn 43
C KIẾN NGHỊ, KẾT LUẬN 45
1 Kiến nghị 45
2 Kết luận 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 4A MỞ ĐẦU
1 Lý do xây dựng đề án
Công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm (ATTP) đang là mộttrong những mối quan tâm chung của toàn xã hội, là vấn đề thời sự được dưluận đặc biệt quan tâm, nhất là khi cơ quan chức năng mới đây phát hiện hàngloạt những vi phạm nghiêm trọng về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm
Sử dụng thực phẩm không an toàn ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, đến sứckhỏe, khả năng lao động, chất lượng cuộc sống của con người
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước và các Bộ, ngành Trung ương đã banhành hệ thống chính sách pháp luật cơ bản đầy đủ và hoàn chỉnh tạo điều kiệnthuận lợi cho địa phương thực thi quản lý nhà nước về chất lượng vật tư nôngnghiệp và an toàn thực phẩm nông lâm thủy sản, nên chất lượng sản phẩmthực phẩm nông lâm thủy sản từng bước được cải thiện đáng kể
Một trong những nguyên nhân cơ bản của những hạn chế, yếu kém vềhiệu lực, hiệu quả quản lý chất lượng, ATTP là: Bộ máy tổ chức của cơ quanquản lý chất lượng, an toàn thực phẩm chưa được kiện toàn và củng cố; các vănbản phân công, phân cấp về ATTP nông lâm thủy sản chưa được rà soát, sửa đổi
bổ sung kịp thời để đáp ứng quản lý xuyên suốt từ tỉnh đến địa phương; hệ thốngkiểm tra, kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm của các ngành chưa đượcchú trọng nâng cấp; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ kiểm tra, thanh tra,giám sát chất lượng, ATTP chưa được đầu tư; năng lực đội ngũ làm công tácquản lý chất lượng VTNN, ATTP chưa được đào tạo nâng cao nghiệp vụ
Vì vậy, để khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên, tác giả xây dựng
đề án “Nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm các mặt hàng thực phẩm do Bộ Y tế quản lý, giai đoạn 2016-2020”
làm đề án tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị, với mong muốn nâng cao nănglực quản lý các mặt hàng thực phẩm do Bộ Y tế quản lý thông qua hoạt động
Trang 5thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Bộ Y tế, hoàn thiện thiện hệ thống quản lý,nâng cao năng lực tổ chức, nhân lực, cơ sở vật chất, cơ chế hoạt động nhằmđảm bảo hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng, ATTP yêu cầucấp thiết hiện nay.
2 Mục tiêu của đề án
2.1 Mục tiêu chung
- Nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩmcác mặt hàng do Bộ Y tế quản lý nhằm bảo đảm sự an toàn, chất lượng chongười tiêu dùng hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, thôngqua hoạt động thanh tra, kiểm tra kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý cáctrường hợp vi phạm về an toàn thực phẩm, hạn chế ngộ độc thực phẩm và cácbệnh truyền qua thực phẩm;
- Đánh giá thực trạng việc bảo đảm an toàn thực phẩm của các cơ sởsản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, bảo quản, vận chuyển thực phẩm, cơ sở kinhdoanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố (gọi chung là cơ sởthực phẩm), kịp thời ngăn chặn, phát hiện, chấn chỉnh, xử lý các trường hợp
vi phạm; chấn chỉnh các hoạt động sản xuất, chế biến, kinh doanh, nhập khẩu,quảng cáo thực phẩm thực hiện theo đúng quy định của pháp luật;
- Đánh giá thực trạng về an toàn thực phẩm đối với một số nhóm hàngthực phẩm lưu thông trên thị trường nhằm phát hiện và cảnh báo các mốinguy mất an toàn thực phẩm;
- Thông qua việc thanh tra, kiểm tra tại các cơ sở thực phẩm, đánh giácông tác quản lý của các cơ quan nhà nước được giao chức năng quản lý về
an toàn thực phẩm, đặc biệt là việc cấp các loại giấy phép về an toàn thựcphẩm (Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm; Giấy Tiếp
Trang 6nhận bản công bố hợp quy/Giấy xác nhận công bố phù hợp quy định an toànthực phẩm; Giấy xác nhận nội dung quảng cáo).
2.2 Mục tiêu cụ thể
- 100% Ban Chỉ đạo tỉnh, Thành phố, quận, huyện, thị xã và xã,phường, thị trấn được bồi dưỡng kiến thức và 89% có kiến thức thực hànhđúng về thanh tra, kiểm tra và quản lý ATTP; Phấn đấu 80% người sản xuất,kinh doanh thực phẩm có kiến thức thực hành đúng về ATTP; 79% người tiêudùng có kiến thức đúng về ATTP
- 100% cán bộ làm công tác ATTP cấp Tỉnh, Thành phố; quận, huyện,thị xã và xã, phường, thị trấn được cập nhật kiến thức về thanh tra kiểm tra vàquản lý, chuyên môn kỹ thuật về ATTP
- Tỷ lệ cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm diện được cấpgiấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP ngành Y tế đạt 78%, ngành Công thươngđạt 80% Tỷ lệ cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh nông lâm sản, thủy sảnđược kiểm tra phân loại, đủ điều kiện ATTP được cấp giấy chứng nhận đủđiều kiện ATTP tuyến Thành phố đạt 90%, tuyến quận, huyện đạt 70%, tuyến
xã phường thị trấn đạt 40%
- 100% cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh dịch vụ ăn uống tuyếnquận, huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn được kiểm tra, trong đó 83,2% đạtđiều kiện ATTP
- Phấn đấu 60% số doanh nghiệp sản xuất thực phẩm thuộc ngành côngthương được hướng dẫn áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiếnHACCP, ISO 22000
- 100% vụ ngộ độc thực phẩm báo cáo được điều tra, xử lý kịp thời.Khống chế tỷ lệ ngộ độc thực phẩm £ 6 ca/trên 100.000 dân
- Duy trì và phát triển vùng rau an toàn với quy mô tăng thêm 500 ha
Trang 7- Hỗ trợ duy trì, xây dựng mới chuỗi thực phẩm an toàn nông lâm thủy sản;
hỗ trợ xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm đảm bảo an toàn thực phẩm
- Tỷ lệ 30% cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ ngành Nông nghiệp ký camkết bảo đảm ATTP theo quy định
3 Giới hạn của đề án
3.1 Giới hạn về đối tượng
Đối tượng của đề án là chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra an toànthực phẩm các mặt hàng thực phẩm do Bộ Y tế của Việt Nam quản lý
3.2 Giới hạn về không gian
Hoạt động thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm các mặt hàng do Bộ Y
tế quản lý trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam
3 Giới hạn về thời gian
Giai đoạn 2016 - 2020
Trang 8- Thanh tra, kiểm tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà
nước, là phương thức đảm bảo pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lýNhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Thanh tra là sự xem xét, đánh giá và xử lý việc thực hiện pháp luật của
tổ chức, cá nhân do tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự phápluật quy định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi íchnhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp
và tổ chức, cá nhân khác
Hoạt động thanh tra chuyên ngành có đặc điểm:
+ Là hoạt động do thanh tra do cơ quan có chức năng quản lý nhà nước
1 Nguyễn Như Ý (1988), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa- thông tin, tr.937.
Trang 9Theo Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân quy định: Thanh tra Nhà nước về
y tế có quyền thanh tra, kiểm tra việc thực hiện những quy định của pháp luật
về bảo vệ sức khỏe nhân dân, về vệ sinh, phòng, chống dịch, khám bệnh, chữabệnh và dược; quyết định các hình thức xử phạt hành chính; ra quyết định tạmđình chỉ hoặc đình chỉ hoạt động của những đơn vị, cá nhân vi phạm và chịutrách nhiệm về quyết định của mình
Trong Nghị quyết Trung ương Đảng khóa VIII, Văn kiện Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ IX, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương khóa VIII, Văn kiệnĐại hội XI, XII của Đảng đã chỉ rõ: Tăng cường tổ chức và hoạt động thanhtra, coi đó là công cụ quan trọng và hữu hiệu để đảm bảo hiệu lực quản lýNhà nước, thiết lập kỷ cương xã hội, đồng thời Nghị quyết còn nhấn mạnh:Đổi mới tổ chức thanh tra cho phù hợp với chức năng quản lý Nhà nước trongđiều kiện mới; phát triển mạnh tổ chức thanh tra trong việc thực hiện thể chếtrong toàn xã hội như tài chính, ngân sách, lao động, giáo dục, vệ sinh, y tế,công vụ,
Thực hiện nhiệm vụ mà Nghị quyết đã đề ra, trong giai đoạn chuyểnđổi nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng về nâng cao sức khỏe, giảmthiểu tác hại của bệnh tật, đem lại sức khỏe, hạnh phúc cho mỗi gia đình, sứclao động xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống Chính vì vậy, thanh tra y
tế nói chung và thanh tra vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng là một mặt hoạtđộng trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, nhằm phòng ngừa, pháthiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơchế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩmquyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng caohiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi íchhợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Trang 10Thực hiện nhiệm vụ của mình, hàng năm Thanh tra Sở Y Tế xây dựng
kế hoạch hoạt động và thông qua Giám đốc Sở phê duyệt, đồng thời trìnhThanh tra tỉnh phê duyệt
- Sự cần thiết của thanh tra, kiểm tra về vệ sinh an toàn thực phẩm:
Trong thực tế, lĩnh vực về vệ sinh an toàn thực phẩm diễn biến rất phứctạp, nóng bỏng bởi các lý do:
- Thực phẩm có tầm quan trọng đặc biệt đối với sức khỏe Nếu thựcphẩm không đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm có thể gây ra ngộđộc cấp tính, ngộ độc mãn tính hoặc gây nên các bệnh truyền qua thực phẩm
Nó ảnh hưởng đến phát triển kinh tế thương mại, du lịch, đến quan hệ hợp tácquốc tế, an sinh xã hội và ảnh hưởng lâu dài tới sự phát triển giống noi
- Nhưng trong thực tế vì lợi ích cá nhân, bất chấp sức khỏe nhân dân,một số cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đã cố tình làm trái các quy địnhcủa Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sứckhỏe người tiêu dùng, gây ra những thiệt hại về kinh tế… tạo gánh nặng cho
- Vai trò của thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm:
- Nhằm đảm bảo mọi người tham gia vào công tác đảm bảo chất lượng
vệ sinh an toàn thực phẩm Các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ cácquy định và điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm theo Pháp lệnh Vệ sinh antoàn thực phẩm năm 2003 và Nghị định số 163/2004/NĐ-CP của Chính phủ;nếu vi phạm thì sẽ xử lý theo đúng quy định của pháp luật
Trang 11- Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, ngườitiêu dùng, các đối tượng tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh thựcphẩm chấp hành quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, nhằm nâng cao nhậnthức cho các nhóm đối tượng.
1.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra Bộ Y tế trong đảm bảo an toàn thực phẩm
- Hệ thống quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm:
Tại tuyến Trung ương, công tác quản lý ATTP được giao cho 3 Bộquản lý: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Côngthương Tại Bộ Y tế, Cục An toàn vệ sinh thực phẩm được thành lập để giúp
Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước về VSATTP (theo Nghị định79/2008/NĐ-CP) Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, do tính chất
đa ngành, để bao quát toàn bộ quá trình sản xuất nông lâm thủy sản, công tácquản lý chất lượng, VSATTP nông lâm thủy sản hiện nay được phân côngcho nhiều đơn vị thuộc Bộ thực hiện như Cục Quản lý Chất lượng Nông lâmsản và Thủy sản, Cục Chăn nuôi, Cục Trồng trọt, Tổng cục Thủy sản, CụcThú y, Cục Bảo vệ thực vật và Cục Chế biến Thương mại Nông lâm thủy sản
và Nghề muối Tại Bộ Công thương, công tác quản lý ATTP giao cho VụKhoa học Công nghệ làm đầu mối
Tại tuyến tỉnh, thực hiện Nghị định 79/2008/NĐ-CP của Chính phủ,đến nay đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập Chi cục
An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) trực thuộc Sở Y tế với trung bìnhkhoảng 11 biên chế hành chính; 47/63 tỉnh đã thành lập Chi cục Quản lý chấtlượng Nông lâm sản và Thuỷ sản với bình quân 12-15 biên chế hànhchính/Chi cục, các địa phương còn lại có Phòng Quản lý chất lượng nông lâmthủy sản thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm đầumối tổ chức các nhiệm vụ quản lý chất lượng, an toàn thực
Trang 12Tại tuyến huyện, ước cả nước số người tham gia quản lý chất lượngATTP là 1.949 người (trung bình là 3,0 người/huyện).
Tại tuyến cấp xã, ước cả nước số người tham gia quản lý chất lượngATTP là 11.516 người (trung bình là 1,05 người/xã) (không chuyên trách)nên chưa được trả lương vì hiện tại cấp xã/phường không được giao chứcnăng quản lý về ATTP
- Thanh tra chuyên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm:
Tại Trung ương đã thành lập Thanh tra Chi cục ATVSTP và Thanh traChi cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Tại tuyến tỉnh cóThanh tra Chi cục ATVSTP với tổng số cán bộ là 171 người và Thanh tra Chicục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản với 1-3 cán bộ/tỉnh.Ngoài ra, trong Ngành nông nghiệp còn có hệ thống thanh tra chuyên ngành
về thú y, bảo vệ thực vật từ Trung ương đến địa phương cũng góp phần vàocông tác thanh tra, đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm
- Hệ thống kiểm nghiệm An toàn vệ sinh thực phẩm:
Thực hiện Nghị định 79/2008/NĐ-CP, mạng lưới kiểm nghiệm ATTP
đang được kiện toàn từ Trung ương đến địa phương Theo thống kê của Cục
An toàn vệ sinh thực phẩm, cả nước hiện có 72 cơ sở tham gia kiểm nghiệmATTP trong ngành y tế Các trung tâm kiểm nghiệm thuộc Lĩnh vực khoa họccông nghệ, Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tham gia tích cực vàocông tác kiểm nghiệm thực phẩm
Tuy nhiên, qua thực tế giám sát cho thấy, nhiều cơ sở kiểm nghiệmcòn chưa đáp ứng yêu cầu về hạ tầng, nhân lực được đào tạo, hóa chất, mẫuchuẩn, thiết bị hiện đại có độ chính xác cao rất thiếu, đặc biệt là các la bôthuộc trung tâm y tế dự phòng các tỉnh Đáng chú ý là chưa có nhiều la bô đạtchuẩn ISO/IEC/17025 là yêu cầu thiết yếu trong kiểm nghiệm chất lượng vệsinh an toàn thực phẩm
Trang 13- Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ Y tế trong đảm bảo an toàn thực phẩm:
Thanh tra Bộ Y tế thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 18của Luật Thanh tra, Điều 7 của Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật Thanh tra (sau đây gọi tắt là Nghị định số 86/2011/NĐ-CP) Trongcông tác đảm bảo an toàn thực phẩm có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
a) Thanh tra việc thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toànthực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành đối vớinhập khẩu, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và sản phẩm thực phẩm do cơquan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành thuộc phạm vi quản lý nhànước của Bộ Y tế;
b) Thanh tra việc thực hiện các tiêu chuẩn có liên quan đến an toànthực phẩm do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng đối với sản xuất,kinh doanh thực phẩm và sản phẩm thực phẩm;
c) Thanh tra việc thực hiện quy định về quảng cáo, ghi nhãn đối vớithực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế;
d) Thanh tra việc thực hiện quy định về chứng nhận hợp quy, kiểm nghiệm
an toàn thực phẩm và các quy định khác của pháp luật về an toàn thực phẩm;
đ) Thanh tra đột xuất đối với toàn bộ quá trình sản xuất, xuất khẩu,nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của các bộ khác theoquy định tại Khoản 3 Điều 26 Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Antoàn thực phẩm
- Thanh tra chuyên ngành về môi trường y tế:
a) Thanh tra việc thực hiện quy định về quản lý chất thải y tế và an toànbức xạ;
Trang 14b) Thanh tra việc thực hiện quy định về bảo vệ môi trường trong hoạtđộng mai táng, hỏa táng và chất lượng môi trường y tế;
c) Thanh tra việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường tronghoạt động y tế
1.1.3 Tiêu chí nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm các mặt hàng thực phẩm do Bộ Y tế quản lý
bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật(sự việc) khác; hay, chất lượng là mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hayđặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản; chấtlượng cũng được xem là khả năng thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phíthấp nhất; hoặc chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đốitượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn những nhu cầu đãnêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn; chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu củamột tập hợp có đặc tính vốn có
Tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra antoàn thực phẩm các mặt hàng thực phẩm do Bộ Y tế quản lý:
- Chất lượng hoạt động thanh tra do cơ quan có chức năng quản lý nhànước về ngành, lĩnh vực tiến hành
- Chất lượng công tác xem xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật, quyđịnh về chuyên môn, kỹ thuật, quy tắc trong quản lý về thanh tra, kiểm tra antoàn thực phẩm các mặt hàng do Bộ Y tế quản lý
- Được tiến hành đối với mọi cơ quan, tổ chức cá nhân hoạt động trongphạm vi quản lý của Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế
- Chất lượng được đánh giá qua năng lực thực tiễn của người làm côngtác thanh tra, kiểm tra; mức độ hoàn thành công việc
Trang 15Chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩmđược đánh giá thông qua chất lượng của hoạt động phòng ngừa, phát hiện và
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; thiết lập trật tự kỷ cương phép nướctrong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm, mang lại niềm tin cho người tiêudùng, đồng thời góp phần thực hiện tốt Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm các mặt hàng thực phẩm do Bộ Y tế quản lý
- Năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ làm công tác thanh tra,kiểm tra
- Phẩm chất đạo đức công vụ của cán bộ thanh tra, kiểm tra
- Cơ chế, chính sách, chế độ đãi ngộ quy định đối với công tác thanh tra
và người làm công tác thanh tra
- Điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường xã hội, mặt trái của cơ chế thịtrường tác động tới hoạt động thanh tra và con người làm công tác thanh tra
- Sự quan tâm, tạo điều kiện của các cấp lãnh đạo đối với công tácthanh tra
- Nhận thức của cộng đồng, xã hội về vệ sinh an toàn thực phẩm vàhoạt động thanh tra, kiểm tra
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011)
- Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016)
Trang 16- Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001.
- Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm ngày 26 tháng 7 năm 2003
- Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2008 của Chính phủquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn;
- Nghị định 9/2008/NĐ-CP ngày 18 tháng 07 năm 2008 quy định hệ thống
tổ chức quản lý, thanh tra và kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm
- Quyết định số 20/QĐ-TTg ngày 04 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướngChính phủ Phê duyệt chiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giai đoạn 2011-
2015 và tầm nhìn 2030;
- Thông tư Liên tịch số 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày09/4/2014 của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và PTNT và Bộ Công thương hướngdẫn việc phân công phối hợp trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm;
- Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BNNPTNT-BNV ngày 25/3/2015của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ trưởng Bộ Nội vụhướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quanchuyên môn về nông nghiệp và phát triển nông thôn thuộc ủy ban nhân dâncấp tỉnh, cấp huyện;
Trang 17- Thông tư số 15/2015/TT-BNNPTNT ngày 26/3/2015 của Bộ trưởng BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn nhiệm vụ các Chi cục và các
tổ chức sự nghiệp trực thuộc sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn;
- Thông tư số 45/2014/TT-BNNPTNT ngày 03/12/2014 của Bộ trưởng BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định việc kiểm tra cơ sở sản xuất,kinh doanh vật tư nông nghiệp và kiểm tra chứng nhận cơ sở sản xuất, kinhdoanh nông lâm thủy sản và muối đủ điều kiện an toàn thực phẩm;
- Thông tư số 51/2014/TT-BNNPTNT ngày 27/12/2014 của Bộ trưởng BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn Quy định điều kiện an toàn thực phẩm
và phương thức quản lý đối với cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ;
- Quyết định 1290/QĐ-BNN-TCCB ngày 17/4/2015 của Bộ Nông nghiệp
& PTNT về việc phân công, phân cấp trong hoạt động kiểm tra, giám sát,thanh tra chuyên ngành an toàn thực phẩm (ATTP) nông, lâm, thủy sản thuộcphạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
1.3 Cơ sở thực tiễn
Đối với Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển, lương thựcthực phẩm là một loại sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ýnghĩa chính trị - xã hội rất quan trọng
Vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trườngquốc tế Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thực phẩm không những cầnđược sản xuất, chế biến, bảo quản phòng tránh ô nhiễm các loại vi sinh vật màcòn không được chứa các chất hóa học tổng hợp hay tự nhiên vượt quá mứcquy định cho phép của tiêu chuẩn quốc tế hoặc quốc gia, gây ảnh hưởng đếnsức khỏe người tiêu dùng
Những thiệt hại khi không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gây nênnhiều hậu quả khác nhau, từ bệnh cấp tính, mạn tính đến tử vong Thiệt hại
Trang 18chính do các bệnh gây ra từ thực phẩm đối với cá nhân là chi phí khám bệnh,phục hồi sức khỏe, chi phí do phải chăm sóc người bệnh, sự mất thu nhập dophải nghỉ làm… Đối với nhà sản xuất, đó là những chi phí do phải thu hồi,lưu giữ sản phẩm, hủy hoặc loại bỏ sản phẩm, những thiệt hại do mất lợinhuận do thông tin quảng cáo… và thiệt hại lớn nhất là mất lòng tin của ngườitiêu dùng Ngoài ra còn có các thiệt hại khác như phải điều tra, khảo sát, phântích, kiểm tra độc hại, giải quyết hậu quả.
Do vậy, vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để phòng các bệnhgây ra từ thực phẩm có ý nghĩa thực tế rất quan trọng trong sự phát triển kinh
tế và xã hội, bảo vệ môi trường sống của các nước đã và đang phát triển, cũngnhư nước ta Mục tiêu đầu tiên của vệ sinh an toàn thực phẩm là đảm bảo chongười ăn tránh bị ngộ độc do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm hoặc có chất độc;thực phẩm phải đảm bảo lành và sạch
Những năm vừa qua, thanh tra Y tế nói riêng và các cơ quan chức năngliên quan đến quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung đã rất tích cựctỏng công tác quản lý, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Tuy nhiên, có thểthấy hiện nay tình trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm đang đến mức báođộng, tình trạng vi phạm trong quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm còn diễn ra,điều đó tác động trực tiếp đến sức khỏe, đến chất lượng cuộc sống của conngười Chính vì vậy, thực hiện đề án này sẽ nâng cao chất lượng công tácthanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm, đảm bảo chất lượng nguồn thực phẩmcho con người
2 Nội dung thực hiện của đề án
2.1 Bối cảnh thực hiện đề án
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của nước ta chuyển sang cơ chếthị trường Các loại thực phẩm sản xuất, chế biến trong nước và nước ngoài
Trang 19nhập vào Việt Nam ngày càng nhiều chủng loại Việc sử dụng các chất phụgia trong sản xuất trở nên phổ biến Các loại phẩm màu, đường hóa học đang
bị lạm dụng trong pha chế nước giải khác, sản xuất bánh kẹo, chế biến thức
ăn sẵn như thịt quay, giò chả, ô mai… Nhiều loại thịt bán trên thị trườngkhông qua kiểm duyệt thú y Tình hình sản xuất thức ăn, đồ uống giả, khôngđảm bảo chất lượng và không theo đúng thành phần nguyên liệu cũng nhưquy trình công nghệ đã đăng ký với cơ quan quản lý Nhãn hàng và quảng cáokhông đúng sự thật vẫn xảy ra
Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật bao gồm thuốc trừ sâu,diệt cỏ, hóa chất kích thích tăng trưởng và thuốc bảo quản không theo đúngquy định gây ô nhiễm nguồn nước cũng như tồn dư các hóa chất này trongthực phẩm
Việc bảo quản lương thực thực phẩm không đúng quy cách tạo điều kiệncho vi khuẩn và nấm mốc phát triển đã dẩn đến các vụ ngộ độc thực phẩm
Các bệnh do thực phẩm gây nên không chỉ là các bệnh cấp tính do ngộđộc thức ăn mà còn là các bệnh mạn tính do nhiễm và tích lũy các chất độchại từ môi trường bên ngoài vào thực phẩm, gây rối loạn chuyển hóa các chấttrong cơ thể, trong đó có bệnh tim mạch và ung thư
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá các chương trìnhhành động đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trên toàn cầu đãxác định được nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em là các bệnh đườngruột, phổ biến là tiêu chảy Đồng thời cũng nhận thấy nguyên nhân gây cácbệnh trên là do thực phẩm bị nhiễm khuẩn Ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ
Y tế, trong 10 nguyên nhân gây tử vong thì nguyên nhân do vi sinh vật gâybệnh đường ruột đứng thứ 2
Trang 202.2 Thực trạng vấn đề cần giải quyết trong đề án về nâng cao chất lượng hoạt động thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm các mặt hàng do Bộ Y
Nội dung thanh tra chuyên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm:
- Việc thực hiện các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật về vệ sinh an toànthực phẩm đối với thực phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu được lưuthông trên thị trường;
- Việc tuân thủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đối với: thực phẩm cónguy cơ cao; thực phẩm được bảo quản bằng phương pháp chiếu xạ và giớihạn liều chiếu xạ; thực phẩm sử dụng công nghệ gien; phụ gia thực phẩm,chất hỗ trợ chế biến thực phẩm và các thực phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đếnsức khoẻ con người;
- Việc tuân thủ điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm trong chế biến, sửdụng thực phẩm và vệ sinh ăn uống đối với nhà hàng, khách sạn, siêu thị, bếp
ăn tập thể, thức ăn đường phố;
- Việc tuân thủ đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm của các cơ sở sảnxuất, kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinhdưỡng, thực phẩm bổ sung, phụ gia thực phẩm, nước khoáng thiên nhiên,thuốc lá điếu;
- Nội dung quảng cáo thực phẩm, phụ gia thực phẩm;
- Việc kiểm nghiệm vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 212.2.2 Thực trạng chất lượng an toàn vệ sinh trong sản xuất rau quả, trong nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản, trong chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm
2.2.2.1 Trong chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển, kiểm tra vệ sinh thú y,kiểm dịch động vật và sản phẩm động vật
Việc thử nghiệm, khảo nghiệm và ban hành danh mục thuốc thú y cấm
sử dụng, được phép sử dụng và hạn chế sử dụng được thực hiện đúng qui địnhpháp luật Nhiều cơ sở sản xuất thuốc thú y đã được cấp chứng chỉ ISO vàGMP Công tác thanh kiểm tra, lấy mẫu thuốc thú y tiêu thụ trên thị trườngcủa cơ sở sản xuất, buôn bán thuốc thú y để kiểm tra chất lượng được duy trì.Nhiều vụ việc vi phạm đã được phát hiện và xử lý kịp thời
Công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm đã được thực hiệntốt; việc giết mổ gia súc tập trung bước đầu được tổ chức ở một số thành phốlớn Tuy nhiên, trong tổng số 17.129 cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm, mới có
617 cơ sở giết mổ tập trung, chiếm tỷ lệ 3,6 % (phía Bắc có 198 cơ sở, phíaNam có 428 cơ sở); số điểm giết mổ nhỏ lẻ là 16.512 điểm (94,4%) Hiện tại,mới kiểm soát được 7.281 cơ sở (trong đó khoảng 22,1% đạt yêu cầu vệ sinhthú y); tỷ lệ động vật được kiểm soát giết mổ chiếm 58,1%
Việc xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn áp dụng VietGaHP trongchăn nuôi gà thịt thương phẩm, gà đẻ trứng thương phẩm, bò sữa, ong mậtđược triển khai tích cực Đến nay, khoảng 3% cơ sở chăn nuôi (lợn, gà, bòsữa, ong mật ) đã triển khai áp dụng VietGaHP
Chương trình giám sát ô nhiễm sinh học và dư lượng các chất độc hạitrong sản phẩm chăn nuôi (thịt lợn, gà, mật ong, trứng vịt muối ) và kiểmsoát chất lượng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất thực phẩm nông sản(thức ăn, thuốc thú y ) đang được triển khai, tuy chưa thực sự đạt được hiệu
Trang 22quả như mong muốn nhưng bước đầu đã có sự phối hợp vận hành giám sátcủa các đơn vị có liên quan
2.2.2.2 Trong sản xuất rau, quả
Hiện tại có 43 tỉnh, thành phố đã và đang quy hoạch vùng sản xuất rau
an toàn Tuy nhiên, diện tích đủ điều kiện sản xuất rau an toàn mới chỉ 8,5%tổng diện tích trồng rau cả nước; diện tích đủ điều kiện sản xuất cây ăn quả antoàn đạt khoảng 20%, số còn lại do sản xuất nhỏ lẻ, không trong vùng quyhoạch nên khó kiểm soát Nhiều địa phương đã xây dựng các vùng, mô hìnhsản xuất cây ăn quả an toàn (Bắc Ninh, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, VĩnhPhúc, Lâm Đồng, Long An,…)
Chương trình giám sát ô nhiễm sinh học và dư lượng các chất độc hạitrong sản phẩm trồng trọt (rau, quả, chè) và kiểm soát chất lượng các yếu tốđầu vào của quá trình sản xuất thực phẩm nông sản (phân bón, thuốc bảo vệthực vật ) đang được triển khai
2.2.2.3 Trong nuôi trồng, khai thác, chế biến thủy sản
Việc kiểm soát chất lượng, ATTP trong tất cả các công đoạn sản xuấtthủy sản đã được đẩy mạnh Từ năm 1994, Ngành thủy sản đã chuyển đổiphương thức kiểm soát sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát toàn bộ quá trìnhsản xuất, hướng dẫn các doanh nghiệp chế biến thủy sản áp dụng Quy phạmthực hành sản xuất tốt (GMP), Quy phạm vệ sinh chuẩn (SSOP), kiểm soát antoàn thực phẩm dựa trên nguyên lý phân tích mối nguy ATTP và kiểm soátđiểm tới hạn (HACCP) Bên cạnh đó, đã hướng dẫn triển khai áp dụng cácchương trình kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm trong tất cả các côngđoạn của chuỗi sản xuất thủy sản theo từng đối tượng cụ thể từ tàu cá, cảng cá,chợ cá đầu mối, đại lý thu gom, cơ sở bảo quản nhằm kiểm soát toàn bộ chuỗisản xuất kinh doanh từ ao nuôi đến bàn ăn Bên cạnh đó, nhiều Chương trìnhkhác đã được triển khai, Chương trình giám sát an toàn thực phẩm các vùng
Trang 23nuôi và thu hoạch nhuyễn thể hai mảnh vỏ, Chương trình kiểm soát dư lượnghoá chất, kháng sinh có hại trong thủy sản nuôi, Chương trình kiểm soát chấtlượng an toàn thực phẩm thủy sản sau thu hoạch (tập trung cho thủy sản tiêuthụ nội địa), Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững trên cơ sởứng dụng Quy phạm thực hành nuôi tốt (GAqP), Quy tắc nuôi thủy sản cótrách nhiệm (CoC), trong đó nhiều chương trình đã được EU công nhận.
2.2.3 Thực trạng chất lượng thanh tra, kiểm tra an toàn vệ sinh trong trong chế biến, kinh doanh thực phẩm
2.2.3.1 Sản xuất sử dụng/kinh doanh chất phụ gia, chất hỗ trợ chế biến, chấtbảo quản thực phẩm
Việc quản lý ATTP đối với chất phụ gia, chất hỗ trợ chế biến, chất bảoquản thực phẩm còn bất cập: văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) trong lĩnhvực này còn thiếu cụ thể; việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm chưa thườngxuyên; phương tiện, trang thiết bị kiểm tra còn hạn chế Tình trạng mua bán,
sử dụng các chất phụ gia, chất bảo quản, chất hỗ trợ chế biến thực phẩmkhông rõ nguồn gốc, ngoài danh mục cho phép sử dụng còn phổ biến ở các cơ
sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, chế biến thủ công, nhiều loại phụ gia thựcphẩm không bảo đảm chất lượng ATTP vẫn lưu thông trên thị trường
2.2.3.2 Sản xuất sử dụng/kinh doanh rượu, bia, nước giải khát, nướcuống đóng chai
Các cơ sở SXKD đồ uống quy mô công nghiệp tuân thủ khá đầy đủ các quyđịnh về VSATTP Tuy nhiên, nhiều cơ sở sản xuất rượu, bia, nước giải khát,nước uống đóng chai quy mô nhỏ, thủ công chưa thực hiện đầy đủ các quyđịnh về chất lượng VSATTP Sản xuất rượu thủ công vẫn chiếm tỷ lệ khá lớn(250-300 triệu lít/năm) và có tới 95,7% người uống rượu sử dụng loại rượunày Tuy nhiên, việc kiểm soát hàm lượng methanol, aldehyt trong rượu cònchưa tốt nên tử vong do ngộ độc rượu còn cao
Trang 242.2.3.3 Sản xuất sử dụng/kinh doanh thực phẩm chức năng và sữa
- Đối với thực phẩm chức năng: Thực phẩm chức năng xuất hiện trên
thị trường ngày càng nhiều, chủ yếu là nhập khẩu Tuy nhiên, tiêu chí vàphương thức quản lý loại thực phẩm này hiện còn nhiều quan điểm khácnhau Bên cạnh đó, do năng lực của các cơ sở kiểm nghiệm còn hạn chế nênnhiều khi không xác định được các hoạt chất của mẫu kiểm tra để xác định đó
là thực phẩm hay dược phẩm Do vậy, việc quản lý loại thực phẩm này gặpnhiều khó khăn
- Đối với sữa: Hiện nay, lượng sữa ở Việt Nam chủ yếu do nhập khẩu,
trong đó 72% là nhập khẩu, số còn lại là sữa tươi tự sản xuất trong nước Tínhtrung bình người Việt Nam tiêu thụ khoảng 9,5 lít sữa/người/năm Tuy nhiên,qua thanh tra, kiểm tra cho thấy, sản phẩm sữa là hàng giả, hàng kém chấtlượng có xu hướng tăng; sữa có hàm lượng protein thấp so với tiêu chuẩncông bố, sữa nhiễm melamine vẫn phát hiện thấy ở một số địa phương
2.2.3.4 Thực trạng ATTP trong chế biến thịt, trứng và mật ong
Theo báo cáo của Cục Thú y, kết quả của Chương trình giám sátVSATTP đối với thịt, trứng và mật ong năm 2015 như sau:
- Về giám sát sử dụng thuốc kháng sinh trong trại nuôi (30 trại lợn, 30trại gà): 43/50 mẫu cám có dư lượng thuốc kháng sinh cao hơn quy định, 5/10mẫu nước tiểu phát hiện thấy hóc môn tăng trưởng (04 mẫu có clenbuterol, 01mẫu có salbutamol)
- Về ô nhiễm vi sinh vật và hóa chất trong thịt: 18/106 mẫu phát hiện
có kháng sinh và chất cấm (cloramphenicol, hóc môn tăng trưởng agonist, dư lượng chì trên mức cho phép, dư lượng enroflorxacin) Tại nơigiết mổ, 47/233 mẫu thịt lợn và thịt gà không đạt tiêu chuẩn về tổng số vikhuẩn hiếu khí, 89/233 mẫu thịt lợn và thịt gà vượt mức giới hạn
Trang 25beta-enterobacteriaceae Tại nơi kinh doanh, 71/431 mẫu thịt nhiễm Salmonella, 68/150 mẫu thịt lợn nhiễm E.coli, 5/84 mẫu thịt gà nhiễm Campylobacter.
- Đối với trứng: Chương trình được thực hiện tại 15 cơ sở thu gom và 8
cơ sở chế biến nằm trong địa bàn của 6 tỉnh phía Nam (TP Hồ Chí Minh, CầnThơ, Vĩnh Long, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp), kết quả cho thấy 8/15
cở sở thu gom trứng đạt loại tốt về điều kiện vệ sinh thú y (các cơ sở còn lại
đều đạt loại khá), 100% mẫu trứng đạt yêu cầu vệ sinh (Salmonella âm tính,
không phát hiện thấy sudan I, II, III, IV, DDT, Dichlorvos, Cypermethrin,Lindane, Neomycin, Spectinomycin, Tylosin, Tetracycline)
Về điều kiện vệ sinh thú y đối với các cơ sở chăn nuôi ong lấy mật, các
cơ sở thu gom và chế biến mật ong, Cục Thú y đã tiến hành lấy 175 mẫu mậtong để phân tích các chỉ tiêu chất tồn dư Trong số 34 mẫu đã có kết quả phântích, đã phát hiện 3 mẫu có dư lượng sulphadiazin, 1 mẫu có enrofloxacin và
2 mẫu có streptomicine
2.2.3.5 Thực trạng kiểm soát an toàn thực phẩm tại các chợ, các siêu thịTính đến nay, trong cả nước đã xây dựng được 8.333 chợ các loại,trong đó có 86 chợ đầu mối Việc xây dựng các chợ đầu mối đã góp phầnkiểm soát chất lượng ATTP của nguồn nguyên liệu thực phẩm Tuy nhiên,việc thực hiện các quy định về ATTP tại các chợ ở nông thôn, nội đô, chợcóc, chợ tạm hiện vẫn còn bất cập Vẫn xảy ra tình trạng tư thương sử dụngcác hóa chất bảo quản thực phẩm không rõ nguồn gốc, đặc biệt là với hoaquả, nội tạng động vật Nhiều trường hợp không qua kiểm tra vẫn đóng dấu
vệ sinh thú y, bán vé kiểm dịch tại chợ
Hiện nay, cả nước có 386 siêu thị, 103 trung tâm thương mại đạt tiêuchuẩn, nhiều hệ thống siêu thị lớn đã có sự đầu tư cho việc kiểm soát chấtlượng ATTP đối với nguồn nguyên liệu cung cấp cho siêu thị nên nhìn chungthực phẩm tại siêu thị đáp ứng yêu cầu về ATTP
Trang 262.2.3.6 Thực trạng chế biến ATTP tại các bếp ăn tập thể của khu côngnghiệp, cơ quan, trường học, bệnh viện
Điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm tại các bếp ăn tập thể của cơ quan,trường học đã được cải thiện đáng kể về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng
cụ, nguyên liệu chế biến thực phẩm Tuy nhiên, còn nhiều cơ sở chưa đạt vàchưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩmnhưng vẫn hoạt động Trách nhiệm của người đứng đầu tại các khu côngnghiệp đối với tình trạng ngô độc tập thể gia tăng chưa rõ ràng
2.2.3.7 Thực trạng chế biến ATTP tại các cơ sở dịch vụ ăn uống, thức
ăn đường phố, khu du lịch
Tỷ lệ các cơ sở dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố được cấp giấychứng nhận đủ điều kiện ATTP vẫn còn thấp (chiếm 16,5%) Trong khi đó,các khách sạn, nhà hàng đã có sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng
cụ chế biến nên cơ bản đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm.Tuy nhiên, tình trạng sử dụng phụ gia thực phẩm không rõ nguồn gốc hoặckhông có trong danh mục được phép sử dụng để chế biến thức ăn vẫn còn bịphát hiện
2.2.3.8 Thực trạng chế biến ATTP tại các khách sạn, nhà hàng
Các khách sạn, nhà hàng đã có sự đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết
bị, dụng cụ chế biến nên cơ bản đáp ứng yêu cầu bảo đảm ATTP Do vậy,nhiều năm qua, ít có các vụ ngộ độc thực phẩm tại các cơ sở khách sạn, nhàhàng Tuy nhiên, việc chế biến, sử dụng thực phẩm tại một số khách sạn, nhàhàng còn một số tồn tại như sử dụng nhiều loại phụ gia thực phẩm không rõnguồn gốc hoặc không có trong danh mục được phép sử dụng để chế biếnthức ăn