Chính vì lý do đó tôi chọn đề tài“Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng soạn giảng toán lớp 3” II- THỰC TRẠNG CÔNG TÁC SOẠN GIẢNG VÀ CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN Thực tế qua dự giờ thăm lớp tron
Trang 1Phòng giáo dục và đào tạo Hoằng hoá
Trang 2SKKN năm
2011 I, ĐẶT VẤN ĐỀ :
Quá trình dạy học bao gồm hệ thống những tác động từ phía người dạy (giáoviên) đến người học (học sinh), nhằm làm cho học sinh tích cực và chiếm lĩnh tri thức,hình thành những phẩm chất nhân cách và năng lực phù hợp với nhu cầu ngày một caocủa xã hội hiện đại
Thiết kế nội dung bài dạy và cách thức dạy học là một khâu đột phá quan trọng
để đổi mới nội dung, phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Đểviệc dạy học có hiệu quả, người giáo viên bao giờ cũng dành một thời gian thích đáng
để thiết kế bài Muốn dạy học có kết quả cần thiết kế chu đáo bài dạy Khi thiết kế bàihọc cần chú trọng đến nhiều khía cạnh tác động đến quá trình dạy học như : Đặc điểmlứa tuổi học sinh, nhu cầu, hứng thú, các phương tiện kỹ thuật, đồ dùng trực quan, cơ sởvật chất trường lớp Từ đó có định hướng đầy đủ để xác định những mục tiêu cụ thể,những yêu cầu cần đạt của một bài dạy hoặc của một đơn vị kiến thức nào đó cũng nhưcách thức (sự lựa chọn phương pháp phù hợp) để đạt được mục tiêu, yêu cầu bài dạy
Kết quả một giờ dạy không những phụ thuộc khá nhiều vào sự chuẩn bị bài dạy
mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác nhau cũng như yếu tố chủ quankhông thể tránh khỏi đó chính là phụ thuộc vào năng lực sư phạm, sự tự tin, tính sángtạo trong xử lý các tình huống sư phạm
Trong một vài năm trở lại đây xu hướng đổi mới công tác soạn giảng ngày càngtrở nên bức xúc và cần thiết Một trở ngại không nhỏ cản trở quá trình đổi mới việc thiết
kế bài dạy và thực thi giờ dạy trên lớp chính là do thói quen ngại đổi mới của một bộphận không nhỏ giáo viên Thực tế cho thấy nhiều giáo viên muốn giữ nề nếp soạn giáo
án theo cách truyền thống mà ở đó giáo án chỉ là sự ghi chép lại nội dung đã có ở sáchgiáo khoa mà không đưa ra các phương pháp dạy học thích ứng với từng giai đoạn họctập của học sinh Sự lựa chọn phương pháp giảng dạy cũng gặp nhiều khó khăn do thóiquen dễ dãi trong soạn giảng, trình độ giáo viên còn nhiều bất cập Hiện tượng thầygiảng trò nghe, trò chép vẫn là hiện tồn tại ở một số giáo viên, từ đó chất lượng giờgiảng có hiệu quả thấp, không gây được hứng thú cũng như óc sáng tạo, tích cực hoạtđộng của trò
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn như vậy đã đặt ra nhiệm vụ tìm ra những giải phápnào để nâng cao chất lượng thiết kế bài dạy và giờ dạy là vấn đề cấp bách phải giảiquyết, giúp cho anh chị em giáo viên ở trường Tiểu học đổi mới tư duy vào việc làmtrong công tác soạn giảng của mình đem lại hiệu quả thiết thực phù hợp với trình độ
Trang 3nhận thức của tập thể giáo viên trong đơn vị nhằm từng bước nâng cao hiệu quả giáodục nói chúng và chất lượng môn Toán nói riêng Chính vì lý do đó tôi chọn đề tài
“Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng soạn giảng toán lớp 3”
II- THỰC TRẠNG CÔNG TÁC SOẠN GIẢNG
VÀ CHẤT LƯỢNG MÔN TOÁN
Thực tế qua dự giờ thăm lớp trong những năm qua công tác soạn giảng và chấtlượng môn toán của Gv nói chung và GV lớp 3 nói riêng tại trường Tiểu học Hoằng Lộc– Hoằng Hoá còn tồn tại những vấn đề sau đây :
1, Đối với giáo viên
- Việc xác định yêu cầu, mục tiêu của từng bước lên lớp còn hạn chế ở một số GV
- Còn lệ thuộc nhiều vào cách viết của sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo nhưGSV, thiết kế, chưa biết tận dụng và kế thừa kiến thức của đã học trước đó
- Việc hiểu về mục tiêu, trọng tâm, trọng điểm của mỗi đơn vị kiến thức, của mỗi bàidạy, mỗi dạng bài tập trong sách giáo khoa còn hạn chế nên chưa làm nổi lên được dấuhiệu cần khắc sâu
- Ở một số Gv trong quá trình lên lớp yêu cầu đối với học sinh chỉ cần các em làm,đúng, trả lời đúng là được, chứ không cần biết học sinh dựa vào đâu để làm
- Chưa phát huy vài trò chủ thể, chưa phát triển được tư duy và năng lực độc lập suynghĩ, tính sáng tạo trong ở mỗi bài dạy và trong từng đối tượng học sinh, trong mỗi HS,còn làm giúp học sinh
- Việc tập cho học sinh nhận xét, quan sát, đánh giá một vấn đề nào đó trong nội dungbài dạy, bài tập còn bị bỏ ngỏ ở một số giáo viên
- Đôi khi vẫn để một số học sinh đứng ngoài lề tiết dạy
- Thực trạng chất lượng giờ dạy của đội ngũ giáo viên lớp 3
4 Xếp loại giỏi Xếp loại khá XL trung bình Xếp loại yếu
2, Đối với học sinh
Từ thực trạng giảng dạy của giáo viên nên dẫn đến chất lượng môn toán của họcsinh có những hạn chế nhất định
- Kiến thức học sinh nắm chưa sâu, nhiều kiến thức các em chỉ biết vận dụng máy móctheo các bài mẫu hoặc theo cách làm của Thầy cô Nên chỉ cần đảo từ ngữ, mệnh đề làhọc sinh lúng túng và nhiều học sinh cho là dạng mới, bài tập chưa làm
- Trong quá trình suy luận của học sinh không nêu được cơ sở vận dụng hoặc khả năngtrình bày suy nghĩ của mình là rất hạn chế
Trang 4- Kiến thức đọng lại trong học sinh khụng cú độ bền vững
- Khả năng trỡnh bày bài làm và tư duy toỏn học, tớnh sỏng tạo, năng lực độc lập suy nghĩ cũn nhiều hạn chế
- Đụi khi học sinh ngại và sợ học mụn Toỏn
Chất lượng của mụn Toỏn qua cỏc kỳ khảo sỏt thường ở cỏc tỷ lệ sau :
92 Xếp loại giỏi Xếp loại khỏ Xếp loại trung bỡnh Xếp loại yếu
Từ thực trạng trờn bản thõn tụi muốn trao đổi với đồng nghiệp một số kinhnghiệm trong việc giảng dạy mụn toỏn để gúp phần nõng cao chất lượng giảng dạy vàhọc tập mụn toỏn Đặc biệt đi sõu vào nội dung chương trỡnh Toỏn lớp 3
III Mục đích viết sáng kiến kinh nghiệm
Nghiờn cứu đề tài này tụi mong muốn giỳp đồng nghiệp cú thờm kinh nghiệmtrong việc thiết kế bài dạy, hiểu được mục đớch của từng hoạt động, xỏc định đỳng trọngtõm, trọng điểm kiến thức trong mỗi bài, mỗi đơn vị kiến thức trong bài, mỗi dạng bàitập để xỏc định cho mỡnh một kế hoạch giảng dạy hiệu quả Biết liờn kết, kế thừa cỏckiến thức đó học để đơn giản hoỏ việc chuyển tải kiến thức mà lại dễ hiểu đồng thờikhắc sõu những kiến thức cơ bản cú liờn quan đến việc tiếp thu kiến thức ở lớp trờn vàphỏt huy tớnh ưu viết trong lụgic kiến thức toỏn học Từ đú nhằm nõng cao chất lượnggiờ dạy, chất lượng mụn Toỏn cũng như hỡnh thành và phỏt triển năng lực tư duy, trừutượng hoỏ, khỏi quỏt hoỏ, kớch thớch trớ tưởng tượng, gõy hứng thỳ học tập toỏn, phỏttriển khả năng suy luận và biết diễn đạt đỳng suy nghĩ của mỡnh bằng ngụn ngữ Toỏnhọc
Nội dung và cỏc dẫn chứng minh hoạ tập trung ở chương trỡnh Toỏn lớp 3 xongvới cỏc kinh nghiệm trường chỳng tụi đó ỏp dụng cho tất cả cỏc khối trong chương trỡnhtoỏn Tiểu học
Những nội dung được trỡnh bày trong sỏng kiến chủ yếu tập trung đi sõu vào phầnsoạn giảng, khai thỏc kiến thức, rốn kỹ năng cần thiết và phỏt huy trớ lực, khả năng tưduy cho HS Cỏc phương phỏp và hỡnh thức tổ chức dạy học khụng được đề cập trongsỏng kiến này
IV – CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
- GV tự nghiờn cứu chương trỡnh toỏn của cấp học và Toỏn lớp 3 để nắm hệ thống kiếnthức và sự liờn qua kiến thức toỏn học giữa cỏc lớp trong cấp học, phõn nhúm kiến thứclớp 3 và từ xỏc định cỏc mục tiờu, yờu cầu của mỗi nhúm sau đú trỡnh bày trong buổiSHCM đầu năm để cú sự thống nhất trong tổ
Trang 5- Trong các buổi SHCM hàng tuần thống nhất về mục tiêu các bài dạy trong tuần, đặcbiệt là trong sinh hoạt chuyên môn khối phải nêu ra được điểm mới trong mỗi bài, xácđịnh trọng tâm, trọng điểm và nêu ra được cách thực hiện từng bài cụ thể
- BGH dự các họp để có thể bổ sung về nhận thức, về xác định nội dung kiến thức, vềphương pháp đề xuất của khối để thống nhất và chỉ đạo thực hiện
- Kiểm tra việc chuẩn bị kế hoạch giảng dạy và nhận thức của GV về mỗi bài để bổsung kịp thời trường khi lên lớp
- Dự giờ thường xuyên để rút kinh nghiệm về việc xác định mục tiêu cần đạt, trọng tâm,điểm mới của thức về kiến thức, cách truyền thụ kiến thức, việc rèn kỹ năng và phát huyvài trò trung tâm của học sinh, phát triển tư duy và khả năng vận dụng, diễn đạt của họcsinh, khả năng ứng xử trên lớp của GV để bổ sung, điều chỉnh kịp thời
- Đánh giá rút kinh nghiệm theo từng cụm bài, từng thời điểm về việc soạn giảng, hiệuquả lên lớp và về chất lượng học sinh trong năm học
V- NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1,Những kinh nghiệm về soạn giảng phần bài mới
1-1 Phần kiểm tra bài cũ :
- Chúng ta cần phải hiểu bước kiểm tra bài cũ trong một tiết dạy không phải là bước bắtbuộc trong quy trình một tiết dạy vì không phải bài nào cũng cần phải kiểm tra bài cũ Đặc biệt đối với các tiết chuyển sang nội dung kiến thức khác , chuyển chương mới Thường khi chuyển sang các bài về yếu tố hình học, thời gian hoặc đơn vi đo, trong cáctiết luyện tập “tiếp theo”, luyện tập chung có thể không cần kiểm tra bài cũ
- Mục đích của kiểm tra bài cũ là gì ? Là kiểm tra lại kiến thức đã học, cách làm dạng
bài tập nào đó hoặc kỹ năng thực hiện, vận dụng có liên quan đến bài mới Quakiểm tra đó người giáo viên nắm được mức độ hiểu bài, kỹ năng vận dụng và vốn kiếnthức đã học có liên quan đến bài sắp dạy từ đó khơi dậy, củng cố cho học sinh kiến thức
đã học, kỹ năng đã thực hiện để vận dụng nó vào việc tiếp thu bài mới đồng thời cũngqua đó GV nắm được mức độ kiến thức và kỹ năng của học sinh để có ngay phương án
xử lý tình huống trong việc dạy bài mới và qua kiểm tra bài cũ có thể tạo ra là cầu nối
để chuyển tiếp vào bài mới Chính vì lẽ đó nên việc lựa chọn nội dung kiểm tra bài cũ
là rất quan trọng và cần thiết Giáo viên không nên chỉ đưa ra một bài tập đơn giản củatiết học trước cho học sinh giải rồi nhận xét đúng sai về kết quả và cách làm rồi chuyểnsang bài mới mà phải chọn các câu hỏi, các bài tập điển hình ( cần lưu ý kiến thứckhông nhất thiết phải ngay liền trước bài dạy có thể cách chương, cách lớp )
Ví dụ : Khi dạy bài “ Làm quen với biểu thức ” – Toán 3 trang 78
- Nếu kiểm tra bài cũ : Cho HS lên bảng giải bài tập :
Trang 6Một cửa hàng có 16 máy bơm, người ta đã bán 1/9 số máy bơm đó Hỏi cửa hàng còn lại bao nhiêu máy bơm ?
Giáo viên cho 1 HS lên bảng làm – Học sinh dưới lớp làm vào vở nháp
Cho học sinh đọc lại bài làm
HS nhận xét lời giải, cách tình bày và kết quả
GV nhận xét và giới thiệu bài mới
Rõ ràng với cách làm này việc kiểm tra bài cũ không có gì gắn kết với bài mới vàviệc thực hiện cho Hs làm bài tập như vậy cũng chưa đạt yêu cầu, chưa phát triển được
tư duy, chưa thể hiện kiểm tra được nhận thức và suy nghĩ của học sinh về bài tập, họcsinh chưa thể hiện được nhận thức của mình về bài tập đó
- Nếu chúng ta kiểm tra bài cũ bằng cách cho Hs lên bảng làm một số phép tính sau :
112 + 37 = ; 49 – 12 = ; 22 x 2 = ; 48 : 6 = ; 124 + 10 – 6 = ; 6 + 45 : 5 =
- Cho học sinh lên bảng làm và trình bày cách tính ở một số phép tính tiêu biểu
- Qua kiểm tra bài cũ Gv nêu vấn đề dẫn vào bài mới “ Làm quen với biểu thức ”
Như vậy qua nội dung kiến thức và cách kiểm tra bài cũ như trên ta đã
+ Củng cố được các các kiến thức và kỹ năng học sinh đã học đó là thực hiện các phéptính và thức tự thực hiện các phép tính Đây cũng là các kỹ năng đối với biểu thức các
- Khi dạy bài “ Chia số có bốn chữ số cho số có một chữ số ” - Toán 3 trang 117
Có một số Gv kiểm tra bài cũ theo cách hiểu là phải kiểm tra kiến thức bài liềntrước nên cho học sinh lên bảng làm bài tập sau : Đặt tính rồi tính
1324 x 2 = 2308 x 3 =
Sau đó cho bọc sinh nêu cách làm –> lớp nhận xét cách đặt số và kết quả -> Gvnhận xét, lưu ý cách đặt tính, nhân nhẩm, nhớ sang hàng bên và viết kết quả rồi chuyểnvào bài mới -> Hôm trước các em đã làm quen với nhân cách nhân số có bốn chữ số với
số có một chữ số Vậy để chia số có bốn chữ số với số có một chữ số ta làm thế nào cô cùng các em tìm hiểu bài hôm nay -> GV viết đầu bài
Với cách kiểm tra kiến thức cũ như GV đã làm như trên đã kiểm tra được kiếnthức đã học ở bài trước, việc giới thiệu vào bài mới như vậy cũng xuôi và cũng có thểchấp nhận được nhưng không có tác dụng phục vụ bài mới
Trang 7Theo tôi ở bài này nên kiểm tra các bài tập trên mà GV nên cho Hs thực hiện cácphép chia số có 3 chữ số cho số có một chữ số : ( kiến thức này cách xa bài mới nhưngqua kiểm tra nhắc lại kỹ năng cần vận dụng cho bài mới)
Đặt tính rồi tính : 350 : 7 = ; 361 : 3 = ; 725 : 6 = ; 505 : 5 =
- Cho mỗi HS lên bảng làm 2 phép tính -> cho học sinh trình bày lại cách làm
( trong khi trình bày lại cách làm Gv hỏi thêm HS những điều cần lưu ý trong các lầnchia để khắc sâu một số lưu ý thường gặp khi thực hành phép chia)
Kiểm tra nội dung như nêu trên sẽ có những ưu điểm sau đây
- Khi học sinh thức hiện xong bốn phép chia trên là GV kiểm tra lại kiến thức kỹ năngthực hành chia của học sinh ( nó đã nhắc lại những kiến thức cũ nếu HS nào đã quên vàđồng thời đây cũng là cơ sở của việc thực hành phép chia các em sắp học)
- HS thấy được sự lôgíc của phép chia trong chương trình ( dựa vào kiến thức đã học đểtiếp thu kiến thức mới )
- Bài mới sẽ rất gần gũi với các em ( thực tế nó chỉ thực hiện thêm một lần chia còncách làm và kỹ năng tính không có gì khác)
- Các em tiếp thu bài nhẹ nhàng, thoải mái, học sinh có thể tự thực hiện phép chia có 4chữ số và bài dạy hiệu quả cao
- Qua kiểm tra bài cơ bản đã hoàn đạt được các yêu cầu kiến thức và kỹ năng và bàimới có thể coi là bài luyện tập
1-2 , Phần soạn giảng bài mới :
Để giúp học sinh đễ hiểu, nắm vững kiến thức và đơn giản hoá bài giảng, đưa bàigiảng gần gũi với HS và có hiệu quả cao yêu giáo viên cần :
- Xác định được kiến thức trọng tâm, kiến thức mới trong bài và những kiến thức liênquan đến kiến thức học sinh đã biết để hoạch định việc khai thác kiến thức cũng nhưhướng dẫn các em tìm hiểu
- Phân bổ thời gian và xác định mục tiêu cho các hoạt động một cách cụ thể Với mụctiêu đã xác định thì thầy cần làm gì ? Trò cần làm gì và hình thức tổ như thế nào để cóhiệu quả nhất (cần xác định hết các tình huống có thể sảy ra khi thực hiện mục tiêu)
- Không nên lệ thuộc vào cách viết của SGK mà cần tìm tòi hướng truyền thụ đơn giản,
dễ hiễu và kế thừa các kiến thức đã học
- Phân chia các cụm bài theo nội dung các mạch kiến thức trong chương trình để từ đó xác định vị trí của bài Với kiến thức của bài này thì những kiến thức liên quan trước nó
là kiến thức nào ? và sau nó sẽ vận dụng như thế nào ? để từ đó có kế hoạch khai tháckiến thức đã học và khắc sâu những kiến thức trọng tâm, cần thiết để các em vận dụngtrong các bài sau
Cụ thể : Trong chương trình toán 3 được chia các cụm bài chính sau đây :
Trang 8- Bảng nhân - chia từ 6 đến 9
- Nhân, Chia các số có 2 chữ số đến số có 5 chữ số cho số có 1 chữ số
- Cộng, trừ trong phạm vi 10 000; 100 000 (các phép tính cộng, Trừ các số có 5 đến 6 chữ số )
- Các dạng toán cơ bản có liên quan đến các cụm bài trên
- Các bài có nội dung hình học
Ví dụ :
* Cụm bài bảng nhân, chia từ 6 đến 9 : Ta thấy rằng kiến thức trước nó học sinh đã
được học đó là các bảng nhân , chia từ 2 đến 5 ở lớp 2 và sau nó là vận dụng các bảngtrong tính toán trong suốt chương trình học tập và trong cuộc sống hàng ngày
- Từ việc xác định vị trí của cụm bài này nên trong khi dạy không nên sử dụng cáchviết của sách giáo khoa là xây dựng từ phép nhân, chia với 1,2,3 mà bắt đầu từ bảngnhân, chia 6 ta có được các phép nhân , chia 6 từ 1 đến 5 được rút ra từ các bảng nhân,chia từ 1 đến 5 ở lớp 2 ( 3 x 6 = 6 x 3 = 18 hoặc 18 : 3 = 6 => 18 : 6 = 3 ) Các bảngnhân, chia 7 có các phép nhân, chia 7 từ 1 đến 6 Từ các kết quả được rút ra đó cho
HS nhận xét các thành phần trong các phép nhân, chia để tự các em có thể viết tiếpđược các phép nhân, chia tiếp theo Như vậy việc dạy cụm bài này trở nên đơn giản,học sinh tiếp thu bài thoải mái, dễ hiểu, hiệu quả giờ dạy cao, các em thấy được sự liênquan mật thiết của kiến thức
- GV cần xác định trọng tâm của cụm bài này là bảng nhân, chia Trọng điểm là nhậnxét về mối liên hệ giữ các thành phần trong các phép nhân, chia kề nhau để viết cácphép nhân, chia tiếp theo và đây cũng là mục tiêu chính cần giúp HS lĩnh hội được
Ví dụ trong bài “ Bảng nhân 6 ” Toán lớp 3 - trang 19
Trọng tâm của bài là hình thành bảng nhân 6 Trọng điểm là thấy được sự khácbiệt theo quy luật giữa các thành phần trong các phép nhân liền kề
Từ nhận định trên khi dạy bài này cần đi theo hướng sau :
- Như vậy qua kiểm tra bài cũ GV đã cùng HS rút ra các phép nhân 6 x 1 ; 6 x 2 ; 6 x 3;
6 x 4 , 6 x 5
- Việc tiếp theo là Gv cho Hs nhận xét các thành phần của các phép nhân vừa rút ra từ kiểm tra bài cũ từ đó các em có thể tự rút ra các phép nhân còn lại trong bảng nhân 6
Trang 9Nhận xét : Với cách dạy trên :
- Học sinh được củng cố lại các bảng đã học từ đó bằng nhận xét, so sánh rút ra được các phép nhân mới trong bảng nhân 6
- Giáo viên không lệ thuộc vào cách viết của sách giáo khoa
- Phát triển được tư duy cho Hs khi rút ra bảng nhân mới
- Kiến thức mới trở nên gần gũi, dễ hiểu, học sinh tiếp thu thoải mái, tự tin
- Thể hiện được sự liên kết của các kiến thức toán học
* Cụm bài nhân, chia số có 2 đến 5 chữ số cho số có 1 chữ số
- Đối với phép nhân :
Trong cụm bài này kiến thức đều là cách thực hiện phép nhân chỉ khác là có thêmcác chữ số ở thừa số thứ nhất Cái mới trong mỗi bài sau của cụm bài này đó là thừa sốthứ nhất có thêm 1 chữ số Trọng tâm của cụm bài này là cách đặt tính, cách tính nhẩm
và viết kết quả
Từ nhận định trên nên khi dạy cụm bài này Gv cần lưu ý dạy học sinh nắm vữngcách đặt số, cách cách nhân và viết kết quả, cần lưu ý học sinh số nhớ khi nhân nhẩm Tuy nhiên các bài kiến thức đơn giản nhưng nội dung và cách thực hiện lại rất mới vớicác em Nếu hai bài nhân số có hai, ba chữ số cho số có một chữ số GV dạy không sâu,các em không nắm chắc được cách thực hiện và những lưu ý khi thực hiện thì việc vậndụng làm bài tập liên quan và việc dạy cũng như tiếp thu các bài sau trong cụm bài làkhó khăn
- Đối với phép chia :
Trong cụm bài này đều có điểm giống nhau đó là cách đặt tính, và thực hiện chia
và đều có phép chia hết và phép chia có dư Song ở mỗi bài có thể có sự khác biệt đó làthêm chữ số ở số bị chia và các tình huống về số dư, hạ số tiếp theo để được số bị chialần chia kế tiếp hoặc viết kết quả ở thương số Vì thế để đơn giản hoá khi dạy và để họcsinh tiếp thu nhẹ nhàng, hiệu quả cụm bài này giáo viên cần lưu ý :
+ Đối với phép chia số có 2, 3 chữ số cho số có một chữ số trong cụm bài này làkiến thức mới lạ và có thể là khó đối với học sinh, có thể coi 2 bài này là trọng điểm củacụm bài này
+ Giáo viên khi dạy cần lưu ý đến các điểm khác nhau về bắt số ở lần chia thứnhất, số dư sau mỗi lần chia, hạ chữ số tiếp theo để có số bị chia cho lần chia thứ hai,thương số, số dư của bài toán
+ Học sinh phải thành thạo kỹ năng vận dụng cách chia trong việc thực hiện cácbài tập liên quan sau mỗi bài và các tiết luyện tập
Trang 10+ Khi HS nắm chắc và có kỹ năng vận dụng thực hiện phép chia ở 2 bài này thìviệc thực hiện các bài chia ở các bài tiếp theo trong cụm bài mới thuận lợi và mới có thểcoi là các tiết luyện tập thực hành chia cho số có 1 chữ số
Trong cụm bài trên trọng tâm là kỹ năng thực hành chia số có 2 đến 6 chữ số cho
số có một chữ số Trọng điểm ở mỗi bài là những điểm khác biệt trong khi thực hànhchia trong mỗi phép chia
Qua việc trình bày hai cụm bài trên rõ ràng khi chúng ta đã phân nhóm các cụm bài, xác định được trọng tâm, sự phát triển của kiến thức trong cụm chúng ta có thể thoát lý được cách trình bày của sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo như SGV, thiết
kế bài dạy, việc soạn giảng và giúp HS nắm kiến thức là rất nhẹ nhàng, học sinh dễ hiểu và bài dạy có hiệu quả
Các cụm bài còn lại Gv cũng cần có quan điểm, cách suy nghĩ và hướng thựchiện tương tự như các cụm bài tôi đã trình bày ở trên
2, Phần vận dụng kiến thức sau mỗi bài học
- Sau mỗi bài học đều có hệ thống bài tập từ 3 đến 4 bài ứng dụng
- Các bài tập này thường vận dụng kiến thức mới học để thực hiện Mục đích là củng
cố kiến thức mới và gắn liền lý thuyết với thực hành , với cuộc sống
- Mỗi bài tập có một yêu cầu củng cố nhất định về kiến thức vừa tiếp thu và ở các dạng khác nhau : Có bài là phép tính, có bài là điền số vào bảng, có bài là điền đúng sai , cóbài là toán có lời văn
- Giáo viên có thể cho học sinh vận dụng giải hết hoặc chọn bài tập tiêu biểu có tácdụng củng cố kiến thức một cách thiết thực nhất
Từ nội dung, yêu cầu hệ thống bài tập đã nêu trên giáo viên khi dạy cần lưu ý
để học sinh tự làm, tự trình bày hiểu biết của mình, ( không làm giúp, nói giúp, khônghướng dẫn áp đặt theo cách làm của GV ), sau mỗi bài GV cần cho HS trình bày cáchlàm và có các câu hỏi để :
- Nắm bắt được mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh
- Khai thác tư duy theo các hướng khác nhau của học sinh
- Phát huy tính sáng tạo, năng lực độc lập suy nghĩ và khả năng diễn đạt
- Có thể Gv đưa ra các câu hỏi phát triển tư duy tuỳ theo đối tượng học sinh
Cuối cùng Gv chốt lại kiến thức, cách vận dụng và những lưu ý khi thực hiện củabài đó rồi mới chuyển bài tập tiếp GV không thể thwcj hiện theo kiểu cho HS lên bảnglàm -> lớp nhận xét kết quả đúng- sai và cách trình bày rồi chuyển sang bài khác
Ví dụ : Khi dạy bài chu vi hình chữ nhật ( Toán 3 trang 87) gồm các BT sau đây :
Bài tập1 : Tính chu vi hình chữ nhật có :
a, Chiều dài 10cm , chiều rộng 5 cm