1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng dẫn giải toán có lời văn cho học sinh lớp1

21 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 3,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với môn Toán nói riêng, đặc biệt làchương trình Toán 1 hiện nay một vấn đề hoàn toàn mới lạ đối với học sinh lớpMột đó là: chương trình Tiểu học CTTH 2002-2003 ngoài những dạng toán

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I LỜI MỞ ĐẦU

Sau 9 năm thực hiện chương trình thay sách giáo khoa cho HS Tiểu học,chất lượng dạy và học đã được nâng lên rõ rệt Điều đó đã chứng minh tính hiệuquả cao của chương trình SGK mới, cụ thể đó là việc sắp xếp các nội dung của cácmạch kiến thức phù hợp với tâm sinh lí học sinh Tiểu học hiện nay Sự thay đổi đóđược chú trọng đều ở tất cả các môn học Đối với môn Toán nói riêng, đặc biệt làchương trình Toán 1 hiện nay một vấn đề hoàn toàn mới lạ đối với học sinh lớpMột đó là: chương trình Tiểu học (CTTH) 2002-2003 ngoài những dạng toán quen

thuộc đã có ở chương trình cải cách giáo dục trước đó nay đã có thêm dạng toán

có lời văn trong hệ thống kiến thức Toán 1 Chính vì vậy, việc tìm ra phương pháp

và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ để từ

đó các em dễ dàng khắc phục những khó khăn khi học đến mạch kiến thức này

hiện vẫn đang là vấn đề cần thiết và cấp bách đối với mỗi thầy cô gánh vác " Sứ

mệnh trồng người"

Có lẽ, vì Toán học giúp con người giải quyết các bài toán một cách thực tế

Các bài toán thực tế ấy lại được diễn đạt bằng lời văn Từ đó có tên gọi Bài toán

có lời văn là vậy.

Các bài toán (có văn) mà học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp Một

nói riêng được làm quen và học có nội dung là những vấn đề gần gũi trong cuộcsống hết sức phong phú và có cấu trúc đa dạng từ những dạng khác nhau của cùngmột phép tính (cộng, trừ đối với học sinh lớp một) đến những dạng kết hợp của haihay nhiều phép tính (cộng, trừ, nhân chia đối với học sinh các lớp trên)

Vì vậy giải các bài toán (có văn) là dịp để học sinh vận dụng một cách tổnghợp và ngày càng cao các tri thức và kĩ năng về toán tiểu học với kiến thức trongcuộc sống Qua đó giúp các em nhanh nhẹn, thông minh hơn, phát triển óc sáng tạohơn góp phần giáo dục học sinh trở thành một con người phát triển toàn diện trongtương lai

II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trang 2

Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp 1, tôi nhận thấy hầu nhưgiáo viên nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toán có lời văn ở lớp 1 học sinhgặp rất nhiều lúng túng từ khâu tóm tắt đến việc nêu câu lời giải, thậm chí nêu saicâu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số và trình bày bài giải chưa khoa học,chưa đẹp mắt, Thực tế cho thấy, những tiết đầu tiên của giải toán có lời văn mỗilớp chỉ có khoảng 20% số HS biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số, sốcòn lại các em rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì đượcnhưng khi viết các em lại rất lúng túng, hay làm sai Thậm chí có một số em làmđúng nhưng khi cô hỏi lại không biết để trả lời ra sao Điều đó chứng tỏ các emchưa nắm vững cách giải bài toán có lời văn Từ đó để học sinh nắm vững dạng bàinày đòi hỏi giáo viên phải mất rất nhiều công sức để hình thành đường lối và kĩnăng làm bài cho các em

Kết quả điều tra (sau 2 tiết đầu học Giải toán có lời văn) năm học

HS viết đúng phép tính

HS viết đúng đáp số

đủ cho mọi tiết dạy, bài dạy

Đối với học sinh lớp Một, tư duy lôgíc chưa phát triển Cơ bản là tư duy cụ

thể Vì thế những ngày đầu học sinh làm quen với học mạch kiến thức giải toán có

lời văn gặp rất nhiều khó khăn; tỉ lệ các em làm đúng còn ít và chưa thật chặt chẽ

khi thực hiện tóm tắt bài toán hay trình bày bài giải Trong thực tế ở trường tiểu

học, việc giải các bài tập đặc biệt là các bài toán có lời văn ở lớp 1 học sinh đa

phần là lúng túng, đa số các em đọc đề là làm bài ngay, bỏ qua các bước cơ bản để

giải bài toán có lời văn; tỷ lệ học sinh biết tóm tắt bài toán còn thấp, cách giải của

các em còn nghèo nàn, thậm chí là bế tắc khi giải bài tập và còn có trường hợp tínhtoán sai

Trang 3

Một mặt, còn có giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học chưa thật sựlinh hoạt, hấp dẫn học sinh; chưa phù hợp với trình độ và tâm lí học sinh Điều nàyđược thể hiện ở phương pháp dạy học còn máy móc, cứng nhắc, chưa phát huyđược óc sáng tạo của học sinh.

Là một giáo viên trực tiếp dạy lớp 1, để góp phần giúp học sinh khắc phục

khó khăn khi học mạch kiến thức bài toán có lời văn từ đó góp phần năng cao chất

lượng dạy Toán 1 nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinhnói chung, tôi đã trăn trở và suy nghĩ rằng phải làm thế nào để học sinh lớp Mộtkhông những làm tốt các phép tính cộng, trừ mà cần phải nắm thật vững các bướcgiải đồng thời thực hiện tốt việc giải toán có lời văn Xuất phát từ những lí do nêutrên để việc giải toán có văn của học sinh lớp 1 đạt hiệu quả tốt hơn, tôi đã mạnh

dạn cải tiến nội dung, phương pháp " Một số biện pháp giúp học sinh khắc phục khó khăn khi giải toán có văn ở lớp 1"

Trang 4

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

- Đọc, nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu tham khảo những vấn đề có liên quan

đến nội dung sáng kiến

- Khảo sát chất lượng học sinh ở lớp mình giảng dạy (trước khi áp dụng các hướng

dạy học tích cực hơn).

- Xây dựng kế hoạch, phương án điều chỉnh để nâng cao chất lượng giáo dục

II PHÂN CHIA CÁC MỨC ĐỘ TRONG MẠCH KIẾN THỨC "GIẢI TOÁN CÓ VĂN "

A CÁC DẠNG TOÁN ĐƠN VỀ CỘNG TRỪ

- Học sinh phải nắm được các bài toán đơn về phép cộng và phép trừ sau:

A.1 Loại toán "tính tổng khi biết hai số hạng"

Cả hai đoạn thẳng dài tất cả là:

3 + 6 = 9 (cm)

Đáp số: 9 cm

Ví dụ 2: Một tá bút xanh và 3 bút đỏ Hỏi hộp bút đó có tất cả bao nhiêu cái bút

* Bước 1: Tóm tắt bài toán

Có : 1 tá =12 bút xanh

Có : 3 bút đỏ

Có tất cả: cái bút?

?cm

Trang 5

* Bước 2: Thực hiện giải bài toán

An có 8 quả bóng, An thả 3 quả bóng bay đi Hỏi An còn lại mấy quả bóng?

Bước 1: Tóm tắt bài toán

bài: Giải bài toán có lời văn Chính vì thế khi dạy, giáo viên cần khắc sâu cho học

sinh biết mối quan hệ giữa các thành phần trong đề toán Từ đó để tìm ra thànhphần chưa biết để giúp học sinh trả lời câu hỏi của đề toán

Trong thực tiễn ở trường tiểu học, khi dạy cho học sinh giải các bài toán cólời văn, các em còn rất lúng túng trong việc tóm tắt bài toán, cách trình bầy và nhất

là tìm ra được câu lời giải thích hợp với mỗi đề toán Chỉ có 10 ->15 học sinh cóthể tự ghi tóm tắt và tìm được câu lời giải thích hợp, còn đa số học sinh không tómtắt đề bài mà dập khuôn từ một dạng nào đó áp dụng vào giải các bài tập nên kếtquả chưa cao

Trang 6

Các em chưa biết dựa vào dữ liệu đề bài đã cho và chưa thấy được tầm quantrọng của việc tóm tắt bài toán Đây là bước đâu tiên mang tính quyết định đếncách giải bài toán.

Qua các vấn đề trình bầy trên và những khó khăn của học sinh mắc phải khi giải bài toán có lời văn, tôi xin củng cố lại một số mẹo nhỏ bên cạnh đường lốichung như sau:

B CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN:

(Gồm có 4 bước)

1 Đọc, tìm hiểu bài 3 Phân tích các đại lượng liên quan

2 Tóm tắt bài toán 4 Thực hiện lời giải

* Bước 1: Đọc, tìm hiểu đề

Yêu cầu học sinh nhất thiết phải đọc kĩ đề Toán (3 lần trở lên, tìm hiểu đểbiết cái đã cho và cái phải tìm) Giáo viên cần nhắc nhở học sinh tránh thói quen

"xấu" đó là: vừa đọc đầu bài xong hoặc chưa hiểu kĩ bài đã vội vàng giải toán Vì

như thế học sinh rất dễ gặp bế tắc hoặc làm lạc đề

Để giúp học sinh khắc phục được những nhược điểm nêu trên, giáo viên cầnđưa ra hệ thống các câu hỏi để giúp học sinh hiểu đề tốt hơn

Ví dụ: - Bài toán cho biết gì?

- Bài toán yêu cầu chúng ta tìm gì?

Đến đây giáo viên cũng có thể yêu cầu học sinh nhắc lại đề toán mà khôngcần phải nhìn vào kênh chữ trong sách giáo khoa hoặc vở ghi Nếu các em nhớ và

có thể đọc lại được đề toán cũng có nghĩa là các em đã hiểu đề

* Bước 2: Tóm tắt bài toán

Đây là bước rất quan trọng, nó là kết quả ban đầu của tiết dạy thứ nhất về bài toán

có lời văn Lúc này bài toán được tóm gọn lại, chủ yếu bằng các từ chính trong đề

toán nhờ đó mà mối quan hệ giữa các số đã cho và số phải tìm được thể hiện rõràng hơn, dễ hiểu hơn

Lúc này học sinh cần phải tóm tắt được bài toán để biết phân tích, tổng hợp,

Trang 7

xác định được yêu cầu của bài ra từ đó tìm ra lời giải và phép tính thích hợp.

Ở chương trình Toán 1, giáo viên dạy cho học sinh 4 cách tóm tắt bài toánnhư sau:

a Tóm tắt bằng chữ

Ví dụ: (Bài tập 1- Trang 122 SGK): An có 4 quả bóng xanh và 5 quả bóng

đỏ Hỏi An có tất cả bao nhiêu quả bóng?

Trang 8

Trên đây là 4 cách tóm tắt bài toán mà tôi thường dùng để dạy học sinh lớp

1 Tuy nhiên đối với học sinh lớp 1 hiện nay thì kiểu tóm tắt bằng chữ là chủ yếu

và thông dụng nhất Từ việc tóm tắt như trên giúp cho các em học sinh dễ hiểu đềtoán từ đó giúp các em giải bài toán một cách dễ dàng hơn

Bước 3: Phân tích đề toán

Đây là bước quan trọng trong quá trình giải toán, vì vậy đòi hỏi tập trung tưduy cao độ của học sinh Để lập được các mối liên quan giữa các đại lượng Trongbước này, giáo viên giúp các em biết suy luận Chẳng hạn:

- Yêu cầu của bài này là gì ta phải làm như thế nào?

Muốn thực hiện được điều đó giáo viên cần tổ chức cho học sinh đọc kĩ đề

toán, hiểu rõ một số từ " trọng tâm" như: "thêm, và, tất cả, " hoặc " bớt, bay đi,

ăn mất, còn lại, " (Giáo viên cũng có thể cho học sinh quan sát thêm tranh vẽ để

hỗ trợ)

Trong giai đoạn đầu khi HS làm quen với dạng toán Giải toán có lời văn,

GV nên giúp HS tóm tắt bằng cách đàm thoại: "Bài toán cho biết gì? hỏi gì?" GV

tiến hành ghi tóm tắt bài toán trên cơ sở HS trả lời các câu hỏi vừa nêu Sau đó,

GV cho HS nhìn tóm tắt để đọc lại đề toán Đây là cách tốt nhất để HS ngầm phântích đề toán

Ví dụ: (Bài toán mẫu trang 117 - SGK Toán 1): Nhà An có 5 con gà, mẹ muathêm 4 con gà Hỏi nhà An có tất cả mấy con gà?

Máy bay?

Trang 9

Từ ví dụ đã cho, ta tiến hành phân tích như sau:

- Bài toán cho biết gì? (Nhà An có 5 con gà)

- Bài toán còn cho biết gì nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gàM)

- Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)

- Muốn biết nhà An nuôi tất cả mấy con gà em phải làm gì? Bằng phép tính

gì? (Phép cộng)

- Phép cộng đó là mấy cộng mấy? (5 +4); 5 + 4 bằng mấy? (5 + 4= 9)

Đến đây, GV gợi ý để HS nêu tiếp: "9 này là 9 con gà", nên ta viết " con gà"

và trong dấu ngoặc đơn ( ): 5 + 4 = 9 (con gà)

Bước 4: Trình bày bài giải

Đây là bước cụ thể hoá quá trình tư duy trên Nó được thể hiện rõ nét kỹnăng, kỹ xảo giải bài tập của HS HS dựa vào sơ đồ phân tích trên để viết bài giải,

nó được chuyển dịch tư duy ngược lại khi phân tích

Nhìn vào bảng tóm tắt phân tích ví dụ trên đi đến cách trình bày bài giải nhưsau:

Bài giảiNhà An có tất cả số gà là:

5 + 4 = 9 (con gà)

Đáp số: 9 con gà

* Như vậy khi dạy Bài toán có lời văn, GV cần chú ý 2 điều sau:

- Luôn củng cố để HS nhớ được các bước giải bài toán có văn

Trang 10

- Thành thạo kỹ năng tính toán, học thuộc bảng cộng, bảng trừ: biết làmcộng, trừ thành thạo trong phạm vi 100 (không nhớ).

Tóm lại: Muốn giải một bài toán có lời văn tốt thì HS phảiM:

- Nắm chắc đường lối chung để giải 1 bài toán.

- Học thuộc và vận dụng thành thạo.

III CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Dạy Giải toán có lời văn cho HS lớp 1 cũng tuân thủ theo phương pháp:

Phân chia theo mức độ, dạy từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đếnnhiều và từ cộng đến trừ

Mạch kiến thức Giải toán có lời văn cho HS lớp 1 được phân chia thành 4

mức độ:

Mức độ 1

a) Ngay từ đầu học kỳ I các bài toán được giới thiệu ở mức độ nhìn hình vẽviết phép tính Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình vẽ, suy nghĩ chọnphép tính thích hợp

Ví dụ 1: Bài tập 5 - trang 46 SGK Toán 1

Trang 11

b) Sau đó ở câu 5b) nâng dần mức độ lên khó hơn một chút nữa - học sinh phảiviết cả phép tính và kết quả: 1 + 1 = 2

Ví dụ 2: Bài tập 4 trang 47- SGK Toán 1

Trang 12

HS nhìn tranh vẽ và nêu lên được: Có 7 bạn và 2 bạn đang đi tới Tất cả là

9 bạn

Đến bài 4 trang 91- SGK Toán 1 (Câu b)

Học sinh quan sát và cần hiểu được:

Lúc đầu có 7 con thỏ đang múa Sau đó 2 con thỏ ra về Còn lại 5 con thỏ

Để rút ra được phép tính:

Ở đây giáo viên cần động viên các em diễn dạt trình bầy miệng (để giúp các

em tăng cường khả năng diễn đạt bằng lời) Sau đó mới ghi phép tính đúng

Bài 3 trang 85

b, Có : 10 quả táo

Trang 13

Bớt đi : 2 quả táo

Còn : quả táo?

Mức độ 2: Đến cuối học kì I học sinh đã được làm quen với tóm tắt bằng

lời Ví dụ: Bài tập 3b) trang 90- SGK Toán 1:

Bớt đi : 2 lá cờ

Còn lại : lá cờ?

Học sinh từng bước làm quen với kiểu tóm tắt bằng lời thay cho hình vẽ, nghĩa

là các em dần dần thoát ly khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán.Lúc này yêu cầu học sinh phải đọc và hiểu được tóm tắt, biết diễn đạt lại đề toán vàlời giải bài toán bằng lời, chọn phép tính thích hợp nhưng chưa cần viết lời giải.Đây chính là bước đệm để các em tiếp cận đến mức độ cao hơn

Mức độ 3: Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp cận

với một đề bài toán chưa hoàn chỉnh kèm theo hình vẽ và yêu cầu hoàn thiện (Tiết

81T- Bài toán có lời văn - trang 115 Toán 1)

Ví dụ: Bài tập 4- Trang 116: Nhìn tranh vẽ, viết tiếp để có bài toán hoànchỉnh:

Bài toán: Có con chim đậu trên cành, có thêm con chim bay đến.

Hỏi ?

Trang 14

Từ nhìn tranh vẽ trên, HS phải điền để hoàn chỉnh được thành đề toán nhưsau:

Bài toán: Có 4 con chim đậu trên cành, có thêm 2 con chim bay đến Hỏi có tất cả

bao nhiêu con chim?

Đến lúc này tư duy HS đòi hỏi cao hơn, các em nhìn từ hình ảnh phát triểnthành ngôn ngữ, thành chữ viết Giải toán có lời văn ban đầu được thực hiện bằngdạng toán cộng đơn thuần rất phù hợp với tư duy của HS

Qua tiết học này, GV cần giúp HS nắm được cấu tạo của một đề toán gồm 2phần: phần cho biết và phần hỏi Trong đó, phần cho biết gồm có 2 yếu tố

Đối với ví dụ trên:

Phần cho biết là: - Có 4 con chim đậu trên cành (yếu tố thứ nhất)

- Có thêm 2 con chim bay đến (yếu tố thứ hai)

 Phần hỏi: Hỏi có tất cả bao nhiêu con chim?

Mức độ 4: Để hình thành cách giải bài toán có lời văn, sách giáo khoa đã nêu

một bài mẫu hoàn chỉnh từ đề bài, phần tóm tắt cũng như cách trình bày bài giải.(Bài toánB - trang 117)

Vấn đề cốt lõi và khó khăn nhất lúc này là giáo viên cần giúp học sinh hiểu đềtoán, sau đó tóm tắt đề toán Biết tóm tắt đề toán là yêu cầu đầu tiên để giải bàitoán có lời văn Phần lớn học sinh rất lúng túng khi thực hiện toám tắt đề toán

trong tiết học này Để dễ dàng hơn cho học sinh, giáo viên cần có những gợi ý " sát

sườn" Đó là:

- Yếu tố cho biết đầu tiên bao giờ cũng là số liệu đầu tiên xuất hiện trong đềtoán

- Yếu tố cho biết thứ hai chính là số liệu xuất hiện thứ hai trong đề toán đó

- Phần hỏi: bao giờ cũng có cụm từ " có tất cả bao nhiêu " hoặc " còn

lại "

* Cấu tạo một bài giải bao giờ cũng gồm có 3 phần: câu lời giải, phép tính vàđáp số

Trang 15

Song, một thực tế cho thấy điều khó khăn nhất đối với học sinh lớp 1 hiệnnay là việc tìm ra một câu lời giải thích hợp Thường thì một bộ phận lớn học sinhrất lúng túng trong việc tìm lời giải cho mỗi bài toán Nhiều khi cách viết của các

8 - 3 = 5 (quả bóng)

Đáp số: 5 quả bóngĐối với bài toán này, trong lớp tôi dạy đã có một số em đưa ra các câu lờigiải khác nhau như:

- Số bóng của Lan là:

- Lan có số bóng còn lại là:

- Số bóng còn lại của Lan sau khi Lan thả đi là:

- Lan còn lại số quả bóng là:

- Hỏi Lan còn lại bao nhiêu quả bóng?

Như vậy, để giúp học sinh tìm ra câu trả lời nhanh và đúng nhất, giáo viên

có thể hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải bằng các cách sau:

Cách 1: Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu (Hỏi) và từ cuối

(mấy quả bóng?) để có câu lời giải "Lan còn lại" hoặc thêm từ để có câu: "Lan còn

lại số quả bóng là")

Cách 2: Đưa từ "quả bóng" ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ " hỏi" và

thêm từ " số" ở đầu câu, "là" ở cuối câu để có: "Số quả bóng của Lan còn lại là:".

Cách 3: Dựa vào dòng cuối của tóm tắt " từ khoá" của câu lời giải rồi thêm

thắt

Ngày đăng: 28/08/2017, 11:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w