Như vậy, tầm quan trọng của các cây làm thuốc được loài người nhận thức rất sớm; việc thu thập, nhập nội các giống cây thuốc quý được thực hiện ngay từ thời cổ đại bởi các chiến binh Lưu
Trang 1DƯƠNG VĂN DOÀN
ĐIỀU TRA VÀ NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT LÀM THUỐC Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÂY YÊN TỬ, TỈNH BẮC GIANG LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2012
Trang 2MỤC LỤC
DƯƠNG VĂN ĐOÀN
ĐIỀU TRA VÀ NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT LÀM THUỐC Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÂY YÊN TỬ, TỈNH BẮC GIANG LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN MINH HỢI
Hà Nội, 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự giúp đỡ của và tạo điều kiện của các thầy cô trong phòng Thực vật - Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, Khoa Sau đại học - Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, bản luận văn Thạc sĩ của tôi đã được hoàn thành
Nhân dịp này, cho phép tôi được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ quý báu đó, đặc biệt tới PGS.TS Trần Minh Hợi, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cho phép tôi gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô trong trường Đại học Lâm nghiệp nơi tôi theo học, Ban quản lý KBTTN Tây Yên Tử, cùng toàn thể bạn
bè, đồng nghiệp, người thân đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành bản khóa luận này
Mặc dù bản thân đã có nhiều nỗ lực, cố gắng xong luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Học viên
Dương Văn Đoàn
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC 3
1.1 Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở trên thế giới 3
1.2 Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam 10
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 17
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 17
2.2 Mục tiêu nghiên cứu 17
2.2.1 Mục tiêu tổng quát 17
2.2.2 Mục tiêu cụ thể 17
2.3 Nội dung nghiên cứu 18
2.3.1 Điều tra, đánh giá tính đa dạng thực vật làm thuốc ở khu BTTN Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang 18
2.3.2 Tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên thực vật làm thuốc của cộng đồng dân tộc tại khu vực nghiên cứu 18
2.3.3 Đánh giá mức độ đe doạ đối với các loài thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu 18
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển các loài thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu 18
Trang 52.4 Phương pháp nghiên cứu 18
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 18
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực vật 19
2.4.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn người dân về những kinh nghiệm sử dụng các loài cây làm thuốc 25
2.4.4 Phương pháp điều tra thị trường buôn bán cây thuốc tại khu vực 28
2.4.5 Phương pháp đánh giá mức độ đe doạ 28
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI 29
3.1 Điều kiện tự nhiên 29
3.1.1 Vị trí địa lý 29
3.1.2 Địa hình 30
3.2 Dân sinh kinh tế - xã hội 30
3.2.1 Tình hình dân sinh, dân tộc 30
3.2.2 Tình hình kinh tế 33
3.2.3 Một số mặt khác 36
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 Tính đa dạng của thực vật làm thuốc tại khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang 38
4.1.1 Đa dạng về các bậc taxon thực vật làm thuốc 38
4.1.2 Đa dạng về dạng sống của các loài thực vật được sử dụng làm thuốc 42 4.1.3 Đa dạng về sinh cảnh sống của thực vật làm thuốc 44
4.1.4 Đa dạng về bộ phận sử dụng 45
4.2 Tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên thực vật làm thuốc của cộng đồng dân tộc tại khu vực nghiên cứu 47
4.2.1.Vai trò của thực vật làm thuốc với đời sống người dân địaphương 48
4.2.2 Tình hình khai thác thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu 48
Trang 64.2.3 Kinh nghiệm sử dụng thực vật làm thuốc trong chữa trị bệnh của cộng đồng dân tộc tại khu vực nghiên cứu 54
4.2.4 Phương pháp thu hái, sơ chế, bảo quản, sử dụng thực vật làm thuốc 62 4.2.5 Một số bài thuốc thường được sử dụng trong nhân dân địa phương 65
4.3 Mức độ đe dọa đối với các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 684.4 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây làm thuốc tại khu vực nghiên cứu 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
bằng cây thuốc nam
56
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một trong những Trung tâm Đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới, với hệ động, thực vật rất phong phú Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nước ta có khoảng 10.000 loài thực vật có mạch đã được mô tả, trong đó
có gần 4000 loài cây cỏ đã và đang được sử dụng để làm thuốc chữa bệnh
Trải qua lịch sử hơn bốn nghìn năm hình thành và phát triển, nhân dân
ta đã không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, tích luỹ kinh nghiệm về mọi mặt trong cuộc sống Đặc biệt là việc sử dụng các cây cỏ quanh mình để chăm sóc, bảo
vệ sức khỏe cho bản thân, cho gia đình và cho cả cộng đồng Do sự khác biệt
về phong tục tập quán, về hệ thực vật mà mỗi dân tộc, mỗi vùng lại có những kinh nghiệm, kiến thức khác nhau trong việc sử dụng cây thuốc để chữa các loại bệnh
Trong những năm gần đây, dưới áp lực của phát triển kinh tế và sự bùng nổ dân số nên nguồn tài nguyên rừng nói chung, cây thuốc nói riêng đang bị suy giảm nghiêm trọng Những cây thuốc có giá trị được thương mại hoá, cung cấp cho các thầy thuốc, những công ty dược phẩm với giá thành ngày càng cao Do vậy, chúng đang bị khai thác cạn kiệt Những cây ít giá trị hoặc chưa được nghiên cứu cũng bị tàn phá, nhường chỗ cho việc sản xuất nông nghiệp, công nghiệp Bên cạnh đó, việc nghiên cứu gây trồng cây thuốc còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của thị trường cũng là nguy
cơ rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của cây thuốc tự nhiên
Các Vườn Quốc gia (VQG) và khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) gần như là thành luỹ cuối cùng bảo vệ cho tương lai của các loài động, thực vật nói chung, cây thuốc nói riêng cũng đang bị xâm hại Trong số đó có khu BTTN Tây Yên Tử, với nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng nhưng đang phải đối mặt với sức ép rất lớn từ nhu cầu cuộc sống của người dân trong
Trang 10vùng, nơi mà cuộc sống còn nhiều khó khăn, thu nhập phụ thuộc một phần lớn vào nguồn tài nguyên rừng
Khu BTTN Tây Yên Tử có tính đa dạng thực vật cao (với 700 loài thực vật theo điều tra năm 2003 của Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật), trong
đó nguồn cây làm thuốc khá phong phú Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đa dạng sinh học nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng tại khu vực này đang bị thoái hóa nghiêm trọng
Do đó một yêu cầu cấp bách đặt ra hiện nay là phải bảo tồn và phát triển được nguồn tài nguyên cây thuốc vốn đang bị suy thoái của khu BTTN Tây Yên Tử Bên cạnh đó, lại phải nâng cao giá trị những kinh nghiệm, tri thức sử dụng cây thuốc cũng như đời sống của người dân trong vùng Chính
vì vậy, chúng tôi đã tiến hành đề tài “Điều tra và nghiên cứu nguồn tài
nguyên thực vật làm thuốc ở khu BTTN Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững”
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC 1.1 Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở trên thế giới
Từ khi con người ra đời, loài người đã biết dựa vào rừng để sống Không chỉ lấy ra từ rừng lương thực, thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày, con người còn biết lấy cây rừng làm rau ăn, nấu nước uống, lấy cây rừng làm thuốc chữa bệnh Trải qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng người trên khắp thế giới đã phát triển những phương thuốc cổ truyền của họ, làm cho các loài cây thuốc và công dụng của chúng trở nên có ý nghĩa Các kinh nghiệm dân gian
về sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia Và cũng từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên một nền Y học cổ truyền mang nét đặc trưng riêng
Nghiên cứu lịch sử dùng các cây làm thuốc của các dân tộc, vùng lãnh thổ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra nhiều bằng chứng xác thực Trong cuốn “Lịch sử liên đại cây cỏ” ấn hành năm 1878, Charles Pikering đã chỉ rõ: ngay từ năm 4271 trước Công nguyên (TCN) người dân khu vực Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây (Sung, Vả, Cau
dừa, v.v.) để làm lương thực và chữa bệnh (Anon, 1996, Recording and using
indigenous knowledge: A manual IIRR, Silang, Cravite, Philipines)
Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova B (1960) chỉ ra rằng, vào khoảng 5.000 năm TCN, cây thuốc đã được sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục tiêu chiếm đoạt (cùng với phụ nữ, các cây lương thực, cây có hoa đẹp) trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc Như vậy, tầm quan trọng của các cây làm thuốc được loài người nhận thức rất sớm; việc thu thập, nhập nội các giống cây thuốc quý được thực hiện ngay từ thời cổ đại bởi các chiến binh
(Lưu Đàm Cư (2002), Thực vật dân tộc học- Tài liệu giảng dạy Cao học, Viện
Sinh thái & Tài nguyên Sinh vật)
Trang 12Châu Úc được mệnh danh là cái nôi của nền văn minh cổ xưa nhất trên thế giới Người ta cho rằng, các thổ dân châu Úc đã định cư ở đây từ hơn 60.000 năm về trước và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài
cây thuốc bản xứ Nhiều loài trong số này như cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus
globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn được sử dụng rất hữu hiệu trong
việc chữa bệnh Tuy nhiên, phần lớn kiến thức về dược thảo của thổ dân đã bị mất đi khi người châu Âu đến định cư Ngày nay, đa phần các dược thảo ở châu Úc bắt nguồn từ phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước vùng ven Thái Bình Dương [1]
Dược thảo ở châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học truyền thống cổ điển Người đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc Ông đã viết hàng trăm cuốn sách và đã được áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn 1500 năm [1] Ở thế kỷ I SCN, một thầy thuốc Hy Lạp tên là Dioscorides đã viết một cuốn sách dược thảo có tên “De material Medica” Quyển sách này bao gồm 600 loại thảo mộc, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến y học phương Tây và là sách tham khảo chính được dùng ở châu Âu cho đến thế kỷ XVII Cuốn sách còn được dịch ra nhiều ngôn ngữ như: tiếng Anh cổ, tiếng Ba Tư và tiếng Hebrew [13] Vào thời Trung cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự kết nối giữa vẻ bề ngoài của một loài cây – “dấu hiệu của thần thánh”- và công dụng y học của chúng Chẳng hạn, những chiếc lá lốm đốm của cây Cỏ
phổi (Pulmonaria officinalis) giống như các mô của phổi, chữa rất hiệu quả
các bệnh về phổi Cũng trong thời gian này, khoảng thế kỷ XI SCN, tại
Scotland các thầy tu đã sử dụng cây thuốc Phiện (Papaver somniferum) và cây Cần sa (Cannabis sativa) để làm thuốc giảm đau và thuốc gây mê Sau
này, Nicholas Culpeper (1616-1654) đã kế thừa một số kiến thức từ
Trang 13Dioscorides, Paracelus và kinh nghiệm chữa bệnh của thầy thuốc địa phương, ông đã cho xuất bản cuốn dược thảo “The English Physitian” Đây là cuốn sách bán chạy nhất và được tái bản nhiều lần [1]
Ở châu Phi, sự đa dạng của ngành dược thảo cổ truyền lớn hơn bất kỳ châu lục nào khác Việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc ở châu Phi
đã có từ thời xa xưa Những bản viết tay đã có từ thời Ai Cập cổ đại (1950 TCN) đã liệt kê hàng chục loài cây thuốc và công dụng của chúng Trong bản giấy cói của dân tộc Ebers (khoảng 1500 TCN) ghi lại hơn 870 toa thuốc và công thức, 700 loài dược thảo và các chứng bệnh, từ bệnh phổi cho đến các vết thương do cá Sấu cắn Việc buôn bán dược thảo giữa các vùng Trung Đông, Ấn Độ và Đông Bắc châu Phi đã có ít nhất từ 3000 năm trước Từ thế
kỷ V đến thế kỷ XIII SCN, các thầy thuốc Ả Rập là những người có công đầu trong sự tiến bộ của ngành y Vào giữa thế kỷ XIII, nhà thực vật học Ibn El Beitar đã xuất bản cuốn “Các vấn đề y khoa” thống kê chủng loại cây thuốc ở Bắc Phi [1]
Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều giá trị Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chương trình nghiên cứu về thực vật Đông Dương, Perry công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại Đông Nam Á đã được kiểm chứng và gần đây (1985)
tổng hợp thành cuốn sách “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia” (PROSEA (1999), Plant Resources of South- East Asia 12: Medicinal and
Poisonous plants 1, Bogor Indonesia [40]
Nói đến dược thảo của châu Á không thể không nhắc đến hai quốc gia
có nền y học cổ truyền lâu đời là Trung Quốc và Ấn Độ Lịch sử nền Y học Trung Quốc đầu thế kỷ thứ II, người ta đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ
Trang 14để chữa bệnh như: sử dụng nước cây Chè (Thea sinensis) đặc để rửa vết
thương và tắm ghẻ [33] Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản
1985 đã liệt kê một loạt các cây cỏ chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica
cochinchinensis) chữa nọc độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy, đau
khớp, sốt rét, vết thương tụ máu; Cải soong (Nasturtium officinale) giải nhiệt,
chữa lở mồm, chảy máu chân răng, bướu cổ Từ những kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây thuốc, về các sản phẩm chiết từ cây cỏ để chữa trị và đã đúc rút thành những cuốn sách
có giá trị Từ đời nhà Hán (168 năm TCN) tại Trung Quốc trong cuốn sách
“Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loài cây
cỏ [33] Vào giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê được 12000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục” được NXB Y học trích dẫn 1963 [34] Và gần đây nhất cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt
kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc được biết từ trước tới nay [33]
Văn minh của người Ấn Độ cổ đại đã phát triển cách đây 5.000 năm dọc theo bờ sông Indus ở miền Nam Ấn Độ [1] Trong bộ sử thi Vedas được viết vào năm 1500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong phú về dược thảo thời kỳ đó Trong đó, nhiều loài cây được xem là những “cây thiêng” dành
cho những vị thần đặc biệt, chẳng hạn như cây Trái nấm (Aegle marmelos) là
cây dành cho thánh thần của người Hindu, thánh Lakshmi (Thánh mang lại sự giàu có và may mắn), thánh Samhita (Vị thánh của sức khoẻ) và cây được trồng gần các đền thờ Những công dụng của cây thuốc này được ghi lại trong cuốn sách dược thảo “Charaka Samhita”, viết năm 400 TCN Sau này, vào khoảng 100 năm SCN, một học giả người Ấn Độ đã mô tả chi tiết 341 loại dược thảo cũng như những loại thuốc có nguồn gốc từ khoáng chất và động vật [1]
Trang 15Ngoài ra, Y học dân tộc Bungari “Đất nước của hoa hồng” đã coi Hoa hồng là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng Ngày nay, người ta đã chứng minh rằng trong cánh Hoa hồng có một lượng tanin, glycosid, tinh dầu đáng kể Tinh dầu này không chỉ để chế nước hoa mà còn được dùng để chữa nhiều bệnh [33]
Việc phát hiện ra các hoá chất chữa trị bệnh ung thư hiệu nghiệm trong cây Thuỷ tùng vùng Thái Bình Dương, một loài cây bản địa của các rừng cổ Bắc Mỹ đã mang lại lợi nhuận kinh tế cao Trong vòng hai mươi năm qua, ngành công nghiệp chế biến Thuỷ tùng thành thuốc chữa ung thư đã mang lại lợi nhuận là 500 triệu USD/năm, những cây thuốc này đang được sử dụng
rộng rãi ở Châu Âu và Châu Á (Lưu Đàm Cư, (2004), Thực vật dân tộc học,
Tài liệu giảng dạy cao học, Viện Sinh thái & Tài nguyên Sinh vật) Hãng dược phẩm danh tiếng Biotech của Bỉ mỗi năm điều tra nghiên cứu sàng lọc 1.500 đến 2.000 loài cây thuốc từ các quốc gia trên thế giới [19]
Cùng với phương thức dùng cây thuốc chữa bệnh theo lối cổ truyền và dân gian, các nhà khoa học trên thế giới còn đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hoá học trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh Vào thế kỷ XVIII, một bác sĩ người Anh tên là William Withering (1741-1799) lần đầu tiên khám phá ra công dụng chữa bệnh của cây thuốc Mao địa hoàng
(Digitalis purpurea), mở ra sự phát triển trong lịch sử y dược học [1] Trong nhiều loài Ba gạc (Rauvolfia spp.) chiết được chất resecpin, serpentin làm
thuốc hạ huyết áp Chất vinblastin, vincristin được chiết xuất từ cây Dừa cạn
(Catharanthus roseus) vừa có tác dụng hạ huyết áp, vừa làm thuốc chống ung
thư máu Vài chục năm gần đây, ứng dụng các thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất hoá học tự nhiên, bằng con đường tổng hợp hoặc
Trang 16bán tổng hợp hoá học, một số loài thuốc hiện đại có hiệu quả chữa bệnh cao lần lượt ra đời
Nhiều loài Hoàng liên (Coptis spp.) cũng được xếp vào danh sách thực vật nguy cấp ở nhiều nước Đông Á Loài Ba gạc (Rauvolfia serpentine (L.)
Benth ex Kurz) đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do bị khai thác lâu đời
ở Ấn Độ, Bănglađét, Srilanka, Thái Lan (Luu Dam Cu (2003), Introduction of
rare endangered medicinal plants into forest- garden of ethnic minorities in Northern Vietnam, Conference of ASEAN Regional center for biodiversity
conservation, Bangkok, Thailand, 1-5 dec.)
Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (NCI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế
phẩm có dược tính mạnh được điều chế từ một loài Dừa cạn (Catharanthus
roseus) Đặc biệt ở Madagasca, người ta dùng cây này để chữa bệnh máu
trắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên đến 90% [27, 29]
Nhận thức rõ giá trị chữa bệnh của các cây thuốc chính là hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học chứa trong nguyên liệu, vì vậy nghiên cứu cây thuốc theo các nhóm hợp chất được tiến hành và đã thu được nhiều kết quả tốt Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này đòi hỏi kinh phí lớn, trang thiết bị hiện đại và đội ngũ chuyên gia có trình độ cao Do vậy, đây là các nghiên cứu được triển khai ở các nước phát triển và một số các nước đang phát triển Các cây thuốc chứa các nhóm hoạt chất ancaloit, flavonoit, cumarin hiện đang được quan tâm nghiên cứu [36]
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1985), trong số 250.000 loài thực vật bậc thấp cũng như bậc cao đã biết, có gần 20.000 loài
Trang 17thực vật được sử dụng làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc Trong đó, ở Ấn Độ có khoảng 6.000 loài, Trung Quốc trên 5.000 loài, riêng về thực vật có hoa ở một vài nước Đông Nam Á đã có tới 2.000 loài là cây thuốc, vùng nhiệt đới châu Mỹ hơn 1.900 loài [8] Cũng theo WHO thì mức độ sử dụng cây thuốc ngày càng cao, ở các quốc gia đang phát triển có tới 80% dân số sử dụng thuốc dân tộc Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, lại có nền y học dân tộc phát triển, nên trong số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài (tương đương với 4.200 loài) được sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc [8] Điều này chứng tỏ đối với các nước công nghiệp phát triển thì việc sử dụng cây thuốc phục vụ cho nền y học cổ truyền cũng phát triển mạnh Cây thuốc là loại cây kinh tế, nó cung cấp nhiều loại thuốc dân tộc và thuốc hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ con người (Theo Tuyên ngôn Chiang Mai, 1988)
Tuy nhiên, ngày nay do các hoạt động mưu cầu của cuộc sống con người đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới Nhiều loài cây thuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đã bị tuyệt chủng Theo P Raven (1987) và Ole Harmann (1988), trong vòng hơn 100 năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của chúng bị đe doạ vào thế kỷ tới Trong số những loài thực vật đã mất đi hoặc đang bị đe doạ gay gắt, có một tỷ lệ không nhỏ là thực vật làm thuốc [8] Trong đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ, 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở Marôc, 61 loài ở Thái Lan, 35 loài ở Bangladet [8]
Song song với các nghiên cứu về sử dụng cây thuốc, một vấn đề cấp bách khác được đặt ra, đó là việc bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc, cùng với những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc trên thế giới Tại Hội nghị Quốc tế về Bảo tồn cây thuốc, tổ chức ở Chiềng Mai (Thái Lan) năm
Trang 181993, một lần nữa các nhà khoa học đã khẳng định tầm quan trọng và vai trò
to lớn của cây thuốc trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Đồng thời, đưa ra tài liệu “Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc”- “Guidelines on the Conservation of Medicinal Plants”, kêu gọi các quốc gia có những giải pháp
và chương trình hành động thiết thực để bảo tồn cây thuốc [44]
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khoẻ con người, cho sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc là một vấn đề cấp thiết Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền
đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng Các nước trên thế giới đang hướng về thực hiện chương trình
Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc [33]
1.2 Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam
Việt Nam có nền Y học cổ truyền giàu truyền thống, phong phú về các cây thuốc, bài thuốc và vị thuốc Cùng với 4000 năm dựng nước và giữ nước, người Việt Nam đã phải đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật và chiến tranh, dần dần đã tích luỹ được kinh nghiệm và tri thức trong sử dụng cây thuốc Nền Y học cổ truyền qua hàng nghìn năm Bắc thuộc nên chịu ảnh hưởng rất lớn của Y học cổ truyền Trung Quốc
Ngay từ thời Vua Hùng dựng nước (2900 năm TCN), qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, Long Uý bí thư, ) và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết dùng cây
cỏ làm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh [17, 18]
Tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam là “Nam Dược Thần Hiệu” và
“Hồng nghĩa giác tư y thư” của Tuệ Tĩnh [35] Trong tài liệu này đã mô tả
Trang 19hơn 630 vị thuốc, 13 đơn thuốc chữa các loại bệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn Ông được coi là một bậc kỳ tài trong lịch sử y học nước ta, là “Vị thánh thuốc Nam” Ông đã để lại nhiều bộ sách quý cho đời sau như: “Tuệ Tĩnh y thư”, “Thập tam phương gia giảm”, “Thương hàn tam thập thất trùng pháp” [35] Tới thế kỷ XVIII, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản
bộ sách lớn thứ hai “Y tông Tâm tĩnh” cho nước ta Bộ sách gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về thực vật, các đặc tính chữa bệnh [35]
Trong thời kỳ thực dân pháp xâm lược có một số nhà thực vật học, dược học người Pháp đã đến nước ta nghiên cứu Điển hình là các nhà dược học Crévost, Pétélot đã xuất bản bộ “Catalogue des produits de L’Indochine” (1928-1935), trong đó tập V (Produits médicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loài thực vật có hoa [39] Đến năm 1952, Pétélot bổ sung và xây dựng thành bộ “Les plantes médicinales du Cambodge, du Laos
et du Vietnam”, gồm 4 tập đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc trên ba nước Đông Dương [39]
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc được giải phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sưu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc Đỗ Tất Lợi - người đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm và đã xuất bản được nhiều tài liệu về việc sử dụng cây, con làm thuốc của đồng bào dân tộc Đáng chú ý nhất là năm 1957, ông đã biên soạn bộ “ Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập Năm 1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó tác giả mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam Từ năm 1962 - 1965, Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập Đến năm 1969 tái bản thành 2 tập, trong đó giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật Ông đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung liên tục các loài cây thuốc trong các công trình được tái bản nhiều lần vào các
Trang 20năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 1999, 2001, 2003 Lần tái bản thứ 7 (1995) số cây thuốc của ông nghiên cứu đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là lần tái bản lần thứ 10 (2005); trong đó, ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân
bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả các cây thuốc đó theo các nhóm bệnh khác nhau [22] Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại
Năm 1960, Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ
“Cây cỏ Việt Nam” Tuy chưa giới thiệu được hết hệ thực vật Việt Nam, nhưng phần nào cũng đưa ra được công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật [20] Đỗ Tất Lợi (1965) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” và được tái bản vào năm 2000 [21] Công trình liệt kê gần
800 loài cây, con và vị thuốc, trong đó phần lớn mô tả về thực vật, phân bố, thu hái và chế biến, thành phần hoá học, công dụng và liều dùng
Năm 1966, để phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu cây thuốc dược sĩ Vũ Văn Chuyên đã cho ra đời cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” và được in lần thứ hai vào năm 1976 [15] Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu “Sổ tay cây thuốc Việt Nam”, với 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện [5]
Liên quan đến vấn đề cây thuốc, tập thể các nhà khoa học Viện Dược liệu đã xuất bản cuốn “Dược điển Việt Nam” tập I, II đã tổng kết các công trình nghiên cứu về cây thuốc trong những năm qua [11] Viện Dược liệu, Bộ
Y tế cùng với hệ thống trạm nghiên cứu dược liệu, điều tra ở 2795 xã, phường, thuộc 35 huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố trong cả nước, đã có những đóng góp đáng kể trong công tác điều tra sưu tầm nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong y học cổ truyền dân gian
Có rất nhiều công trình về cây thuốc ở Việt Nam với quy mô lớn nhỏ khác nhau đã được công bố như: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương và cộng sự
Trang 21đã cho ra đời cuốn “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993) với khoảng 300 loài cây thuốc được khai thác và sử dụng ở các mức độ khác nhau trong toàn quốc [6] Trình Đình Lý (1995) đã xuất bản cuốn “1900 loài cây có ích”, cho biết trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam, có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài cho tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin, 50 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây [23] Võ Văn Chi (2011) đã tái bản và bổ sung “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, gồm 2 tập với khoảng 4.600 loài cây thuốc Tác giả đã giới thiệu sơ bộ về nhận dạng,
bộ phận sử dụng, nơi sống và thu hái, thành phần hoá học, tính vị và tác dụng, công dụng, của từng loài thực vật [12]
Nhóm tác giả của Viện Dược liệu (2003) đã tiến hành biên soạn bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” với hơn 1.000 loài, trong
đó 920 cây thuốc và 80 loài động vật được sử dụng làm thuốc [7]
Các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thu thập, nghiên cứu và công bố một số tài liệu liên quan tới cây thuốc Đáng chú
ý là hai tập sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam” của Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001, 2002) các tác giả đã đề cập đến giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam [24] Nguyễn Tiến Bân
và cộng sự (2003, 2005) đã công bố bộ sách “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” đây là bộ sách có ý nghĩa quan trọng trong tra cứu hệ thực vật nói chung và tra cứu thành phần cây thuốc nói riêng Tập sách đã đề cập tới các tên khoa học, tên thường gọi, nhận dạng, phân bố, dạng sống - sinh thái và công dụng, rất tiện lợi cho các nhà nghiên cứu về thực vật làm thuốc [2], [3]
Các dân tộc thiểu số trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng,
do cuộc sống còn gắn liền với việc khai thác và sử dụng thực vật nên có nhiều kinh nghiệm và tri thức quý trong lĩnh vực chế biến, sử dụng thực vật, đặc
Trang 22biệt là các kinh nghiệm sử dụng cây thuốc Tuy nhiên, các tri thức và kinh nghiệm dân tộc thường chỉ được sử dụng và lưu truyền trong một phạm vi hẹp (dân tộc, dòng họ, gia đình) vì vậy không được phát huy để phục vụ cho xã hội và có nguy cơ thất thoát rất cao Nhận thức được tầm quan trọng này, trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây nghiên cứu cây thuốc dân tộc
(Ethnomedical plants) được đặc biệt quan tâm tại một số cơ quan của nước ta
và đã thu được nhiều kết quả khả quan [27]
Với phương châm xây dựng nền Y học hiện đại - dân tộc và đại chúng, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để đầu tư cho công tác điều tra, nghiên cứu về cây thuốc và kế thừa nền y học cổ truyền, phục vụ cho yêu cầu chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ toàn dân Tuy nhiên, phần lớn số loài được ghi nhận đều xuất phát từ kinh nghiệm sử dụng của các cộng đồng các dân tộc ở các địa phương trong cả nước
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về cây thuốc cổ truyền của dân tộc Thái, Mường, Tày, Nùng, đã cập nhật và bổ sung cho dữ liệu về cây thuốc dân tộc Việt Nam Nguyễn Thị Phương Thảo và cộng sự (2001) đã điều tra, đánh giá về tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng các loài thực vật làm thuốc của một số dân tộc (Dao, Tày, Hoa) tại Yên Tử - Quảng Ninh và đã thu thập được 326 loài thực vật làm thuốc Tại Chiềng Yên
- Mộc Châu - Sơn La, 2005), tác giả đã điều tra đánh giá tài nguyên cây thuốc của người Mường và Dao tại khu vực nghiên cứu, đã thống kê được 209 loài cây thuốc được người Mường và 176 loài cây thuốc được người Dao sử dụng [31] Lưu Đàm Cư (2005), trong nghiên cứu “Cây thuốc truyền thống của người Dao, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”, đã xác định được 312 loài cây thuốc thuộc 88 họ mà người Dao ở Sa Pa sử dụng [16]
Trang 23Theo thống kê của ngành Lâm nghiệp, diện tích rừng nước ta từ 14,3 triệu ha vào năm 1943, đến năm 1993 chỉ còn 9,3 triệu ha (Bộ lâm nghiệp, 1995) trong đó diện tích rừng nguyên sinh còn lại không tới 1% tổng diện tích lãnh thổ (Averyanov, L.V et al., 2004) Rừng bị phá huỷ sẽ làm cho toàn bộ tài nguyên rừng ở đó mất đi, trong đó có cây thuốc Trong quá trình điều tra dược liệu ở Việt Nam từ năm 1961 đến nay, Viện Dược liệu đã phát hiện nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú, nay đã bị phá huỷ làm nương rẫy, trồng cà phê, cao su (ở miền Nam) hoặc thay vào đó là các công trình dân sự Bên cạnh các hoạt động có chủ ý của con người, nạn cháy rừng, lũ lụt và lở đất cũng làm mất đi nhiều vùng rừng có nhiều cây thuốc quý hiếm mọc tập trung
Hơn nữa, do sức ép của thị trường tài nguyên cây thuốc bị khai thác quá mức, nên ngày càng cạn kiệt và đứng trước nguy cơ bị đe doạ Chính phủ
và ngành y tế đã có những nỗ lực để bảo tồn tài nguyên sinh vật nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng Nhiều công trình Nhà nước về bảo tồn cây thuốc (Bảo tồn nguồn gen cây thuốc - Viện Dược liệu, Bộ Y tế) hoặc các mô hình bảo tồn nguồn gen cây thuốc ở các dự án đầu tư của Nhà nước, cũng như các dự án của tổ chức phi chính phủ (Bảo tồn cây thuốc của đồng bào Dao tại
Ba Vì, Hà Tây - CREDEP; Bảo tồn nguồn gen cây thuốc - Bộ Y tế; Mô hình Bảo tồn và phát triển cây thuốc ở Sa Pa; Mô hình Bảo tồn cây thuốc ở Nà Ớt, Sơn La, của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) đã được hình thành nhằm duy trì bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý hiếm
Trong Vườn Quốc gia (VQG) Tam Đảo và vùng đệm có từ 300 - 500 loài cây thuốc được người dân địa phương sử dụng như cây thuốc nam (Trần Văn Ơn, VNPPAA, 2001) Những loài cây này được sử dụng ở địa phương với những kinh nghiệm và kiến thức khác nhau: Theo gia đình, theo thầy thuốc nam, và các trạm y tế xã, cũng như chúng được thu mua qua những
Trang 24người trung gian và công ty dược trong vùng Phần lớn các loài cây thuốc này được khai thác trực tiếp từ rừng tự nhiên của VQG Tam Đảo, đây là nguyên nhân dẫn đến việc giảm thiểu về số lượng và mức độ phong phú của các loài cây thuốc Theo số liệu hiện có thì có ít nhất 30 loài cây thuốc trở nên hiếm hoặc bị đe doạ đã được cấp báo trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và trên 6 loài
có tên trong danh lục của IUCN (2009)
Trong khi khối lượng cây thuốc được khai thác đáp ứng nhu cầu sử dụng trong các hộ gia đình vẫn chưa được kiểm chứng, theo ước tính thì có khoảng 450-570 tấn cây thuốc được khai thác từ rừng tự nhiên Tam Đảo (Trần Văn Ơn, 2000) Con số này cũng chỉ dựa trên những nghiên cứu còn rất hạn chế với số lượng nhỏ các xã, thôn và đòi hỏi có nghiên cứu kiểm chứng
kỹ hơn khi một hoạt động mua bán được đánh giá đúng đắn Hiện nay, chúng
ta đã biết có khoảng 31 loài cây đang mua bán trong khu vực, nhưng con số thực tế dường như còn cao hơn nhiều Thực tế cho thấy, chúng ta không biết giá trị kinh tế của hoạt động mua bán cây thuốc đối với hộ gia đình Tuy nhiên, theo ước tính việc thu hái các sản phẩm từ rừng tự nhiên trong VQG chiếm khoảng 24% tổng thu nhập của hộ gia đình (VNPPAA, 2001)
Theo điều tra của Viện sinh thái tài nguyên và sinh vật năm 2008 tại khu BTTN Tây Yên Tử đã thông kê được khu vực có 700 loài thực vật bậc cao có mạch Trong đó có rất nhiều loài cây thuốc quý thường xuyên được khai thác và sử dụng trong nhân dân
Mặt khác, theo thông tin từ Hội dược liệu Việt Nam (Vimames) cho thấy: thực vật bậc cao tại khu BTTN Tây Yên Tử được xếp theo 8 nhóm sử dụng, trong đó thì trên 40% tổng số loài thống kê được là cây dược liệu
Việc khai thác cây thuốc đang diễn ra ở mức độ cao trong khu BTTN Tây Yên Tử là một thách thức đối với công tác quản lý bảo tồn cũng như điều kiện sống của người dân địa phương
Trang 25Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thực vật làm thuốc tại khu BTTN Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang
Trên cơ sở điều tra và nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây làm thuốc
tại khu BTTN Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở cho công tác bảo tồn và
phát triển bền vững
2.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thành phần, dạng sống, công dụng chữa bệnh và giá trị kinh
tế của các loài thực vật có giá trị làm thuốc, trong đó có các loài cây bị cạn kiệt do người dân địa phương khai thác và sử dụng quá mức, để xác định ưu tiên trong công tác bảo tồn
- Nắm được các vấn đề kinh tế, xã hội, thói quen của các cộng đồng dân tộc thiểu số (Tày, Nùng, Sán chỉ,…) sống xung quanh khu BTTN liên quan đến việc thu hái, sử dụng và bảo tồn các loài cây thuốc
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu
Trang 262.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều tra, đánh giá tính đa dạng thực vật làm thuốc ở khu BTTN Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang
- Đa dạng về ngành, họ, chi, loài thực vật
- Tình hình khai thác thực vật làm thuốc trong khu vực nghiên cứu
- Tìm hiểu kinh nghiệm sử dụng thực vật làm thuốc của cộng đồng dân tộc tại khu BTTN Tây Yên Tử
- Tìm hiểu phương pháp thu hái, sơ chế, bảo quản thuốc
- Tìm hiểu một số bài thuốc thường xuyên được người dân địa phương sử
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Kế thừa có chọn lọc các số liệu, tài liệu, kết quả nghiên cứu có liên quan tới vấn đề nghiên cứu: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên rừng của khu vực nghiên cứu, các báo cáo khoa học có liên quan Cụ thể một
số nghiên cứu như sau: Cục bảo vệ môi trường - Bộ tài nguyên và môi trường, Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật - Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, Thông tin về đa dạng sinh học khu BTTN Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang;
Trang 27Nguyễn Văn Hưng (Luận văn thạc sĩ ĐHLN, 2010) “Xác định một số cấu trúc
cơ bản của rừng tự nhiên tại khu bảo tồn Tây Yên Tử, Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”; Nguyễn Tấn Dương (Luận văn thạc sĩ ĐHLN, 2009) “Nghiên cứu đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý rừng tại khu BTTN Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang”; Ngô Thị Hương (Luận văn tốt nghiệp đại học, ĐHLN 2009) “Đánh giá hiện trạng và khả năng phát triển cây thuốc tại xã Thanh Sơn, khu BTTN Tây Yên Tử, Sơn Động, Bắc Giang”
Ngoài ra, một số báo cáo và kết quả nghiên cứu của khu vực khu rừng đặc dụng Yên Tử ở Quảng Ninh của tác giả Phùng Văn Phê và các cộng sự Tuy các báo cáo điều tra này được tiến hành ở khu vực rừng đặc dụng Yên Tử thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh nhưng lại có điều kiện tự nhiên và thảm thực vật khá tương đồng với khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử - tỉnh Bắc Giang nên đây là nguồn tài liệu tham khảo và kế thừa rất hữu ích cho khóa luận này
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực vật
2.4.2.1 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
Các bước điều tra cụ thể như sau:
a Sơ thám khu vực điều tra:
Trước khi quyết định các tuyến điều tra, dựa vào bản đồ, chúng tôi tiến hành khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu, đánh giá nhanh hiện trạng rừng, hiện trạng tài nguyên đất đai trong khu vực, xác định các tuyến điều tra trên bản đồ
và lập kế hoạch điều tra Cụ thể, đề tài đã phân chia được 9 dạng sinh cảnh chính để điều tra, các dạng sinh cảnh này phản ánh những đặc trưng riêng biệt của hệ thống sinh thái, cảnh quan của khu vực nghiên cứu như: rừng tự nhiên, sông suối, nương rẫy, đồng ruồng, khu canh tác
b Điều tra tuyến
Trong khu vực điều tra, dựa vào đặc điểm địa hình cụ thể để xác định các tuyến điều tra và số lượng tuyến điều tra Trong đó các tuyến điều tra phải
Trang 28đại diện cho các sinh cảnh của khu vực nghiên cứu Trên mỗi sinh cảnh đại diện thiết lập 3 tuyến điều tra, chiều dài tuyến 1-1,5 km, trên các tuyến chính
mở thêm 1-2 tuyến phụ theo hình dạng xương cá rồi tiến hành điều tra trong phạm vi 10m dọc hai bên tuyến Cụ thể, sẽ thiết lập 27 - 30 tuyến điều tra chính, 54 - 60 tuyến điều tra phụ
Trên các tuyến điều tra, tiến hành ghi chép đặc điểm các tác động tự nhiên hay do con người tác động lên hệ thực vật, quan sát sự thay đổi của sinh cảnh trên tuyến điều tra, thống kê các loài cây thuốc bắt gặp trên tuyến và khu vực lân cận tuyến Kết quả điều tra trên tuyến được ghi theo mẫu biểu sau:
Mẫu biểu 2.1: Điều tra thực vật theo tuyến
Số hiệu tuyến……… Người điều tra……… Bắt đầu……… Kết thúc……… Ngày điều tra………
phương
Tên phổ thông
c Điều tra ô tiêu chuẩn
Hệ thống các ô tiêu chuẩn sẽ đại diện cho tính chất của các hệ thảm thực vật nói chung và tính đa dạng của các loài cây thuốc nói riêng tại khu vực nghiên cứu Do đó các ô tiêu chuẩn sẽ được chọn ngẫu nhiên và đảm bảo
Trang 29đại diện cho tất cả các sinh cảnh của khu vực nghiên cứu Cụ thể, trên mỗi sinh cảnh đại diện sẽ lựa chọn 02 ô tiêu chuẩn để nghiên cứu, kích thước mỗi
20x50m và nằm song song với đường đồng mức
Các thông tin được điều tra trong ô tiêu chuẩn được ghi lại theo mẫu biểu sau:
Mẫu biểu 2.2: Điều tra thực vật theo ô tiêu chuẩn
Số tt otc……… Người điều tra………
Khu vực điều tra……… Ngày điều tra………
phương
Tên phổ thông
Dạng sống Công dụng Kiểu thảm
thực vật
01
d Điều tra cây thuốc
- Việc điều tra cây thuốc cùng giá trị làm thuốc, các bộ phận được sử dụng làm thuốc được thực hiện dưới sự hỗ trợ, chỉ bảo của các ông lang, bà mế có nhiều kinh nghiệm đi cùng trong quá trình điều tra
- Trong quá trình điều tra theo tuyến và điều tra ô tiêu chuẩn chúng tôi sử
dụng mẫu biểu điều tra cây thuốc sau:
Trang 30Mẫu biểu 2.3: Phiếu điều tra cây thuốc
Cơ quan quản lý:………
2 Tên loài (Việt Nam):……… Tên loài (Khoa học):……… Họ: ……… ………
- Hoa (màu sắc, cấu tạo): ………
- Quả (màu sắc, cấu tạo): ………
- Hạt (màu sắc, cấu tạo): ………
Trang 312.4.2.2 Phương pháp nghiên cứu đa dạng về thành phần loài
Đối với trường hợp mẫu tiêu bản không đầy đủ các tiêu chuẩn trên, chúng tôi tiến hành thu thập các mẫu vật có thể (cành, lá, hoa, quả, hạt, rễ, v.v.) các mẫu này không đủ cơ sở để xác định chính xác tên khoa học nhưng
có thể định hướng cho quá trình thu thập thông tin kèm theo và thu mẫu tiêu bản bổ sung sau này Phổ biến hơn cả là chúng tôi làm mẫu tiêu bản nhỏ Mẫu tiêu bản nhỏ: là mẫu tiêu bản thực vật không đủ tiêu chuẩn phân loại với kích thước nhỏ, thuận tiện cho việc mang theo để so sánh, đối chiếu trong các đợt điều tra, kích thước khoảng 20 x 30 cm, nhưng có những đặc điểm dễ nhận biết
Ngoài ra, chúng tôi cũng thu thập các mẫu thực vật dân tộc học – các mẫu thực vật chứa đựng tri thức dân tộc như: Bộ phận dùng, các bộ phận có đặc điểm để phân biệt bởi tri thức dân tộc, các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật, v.v
b Ghi chép thông tin:
Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật phải được ghi chép ngay tại hiện trường Các thông tin về thực vật cần có như: Dạng sống, đặc điểm thân,
Trang 32cành, lá, hoa, quả, v.v Trong đó đặc biệt lưu ý đến các thông tin không thể hiện được trên mẫu tiêu bản khô như màu sắc hoa, quả khi chín, màu của nhựa, dịch, mủ; mùi vị của hoa, quả nếu có để có thể nhận biết được Ngoài
ra, các thông tin về thời gian, địa điểm thu mẫu, điều kiện tự nhiên, sinh cảnh, mật độ, người thu mẫu
Các thông tin về thực vật dân tộc học được ghi chép thông qua tri thức của người cung cấp thông tin Có thể phỏng vấn trực tiếp hay quan sát cách thực hiện các tri thức đó để thu nhận thông tin Các thông tin cần ghi là: Tên dân tộc của cây, mục đích sử dụng, bộ phận sử dụng, cách khai thác, bảo quản
và sử dụng, nguồn gốc thông tin, v.v Ngoài ra, do mẫu thực vật dân tộc thường không có đầy đủ các bộ phận để quan sát trực tiếp nên người điều tra
có thể đề nghị người cung cấp thông tin mô tả các bộ phận còn thiếu Tuy nhiên, những mô tả này chỉ để tham khảo và định hướng tiếp theo chứ không được coi là các mô tả thực vật vì cách nhìn nhận, mô tả của người dân không hoàn toàn trùng khớp với cách môt tả của người nghiên cứu Các thông tin có thể được vào phiếu điều tra ngay tại hiện trường hoặc ghi vào sổ tay sau đó đến cuối ngày phải vào phiếu
c Xử lý mẫu:
Trong quá trình đi thực địa, các mẫu vật thu thập phải được cắt tỉa cho phù hợp, sau đó kẹp vào giữa hai tờ báo (kích thước 45 x 30 cm) và được
cồn và được đặt giữa hai tờ báo khô, cứ như vậy thành từng tập, kẹp bằng kẹp mắt cáo để mang đi phơi hoặc sấy khô Mẫu vật có thể được xử lý độc và khâu hay không là tuỳ vào yêu cầu cụ thể
d Định tên:
Việc định tên được áp dụng theo phương pháp hình thái so sánh Cơ sở
để xác định là dựa vào các đặc điểm phân tích được từ mẫu vật, các thông tin
Trang 33ghi chép ngoài thực địa, từ đó so sánh với các khoá phân loại đã có hay với các bản mô tả, hình vẽ
Các mẫu vật phức tạp, không có nhiều đặc điểm nhận biết sẽ được chuyển cho các chuyên gia phân loại để giám định
e Lập danh lục:
Từ các mẫu vật đã có tiến hành lập danh lục thực vật, tên khoa học của các loài được kiểm tra và chỉnh lý theo bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” Danh lục cuối cùng được xây dựng theo nguyên tắc: Tên các họ và trong mỗi họ thì tên cây được sắp xếp theo thứ tự abc Trong các bảng danh lục có các cột là: Số thứ tự, họ thực vật, tên khoa học, tên phổ thông, tên dân tộc, chế biến, dạng sống, môi trường sống và sử dụng, nhóm công dụng
2.4.2.3 Phương pháp nghiên cứu đa dạng về giá trị sử dụng
liệu: “Từ điển cây thuốc” của Võ Văn Chi và qua điều tra trong nhân dân
2.4.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn người dân về những kinh nghiệm
sử dụng các loài cây làm thuốc
2.4.3.1 Đối tượng phỏng vấn
Đối tượng phỏng vấn được lựa chọn là những ông lang, bà mế, những già làng trưởng bản, những người thường xuyên đi rừng có hiểu biết về cây thuốc cũng như khả năng chữa bệnh cho gia đình và cộng đồng Khi tiến hành phỏng vấn, cần phải có thái độ tốt để hoà mình vào cuộc sống của họ, tạo niềm tin để họ thấy rõ việc làm này mang lại lợi ích cho chính bản thân họ và cộng đồng
Để đảm bảo lấy được đầy đủ số liệu và số liệu đảm bảo tính khách quan chúng tôi lựa chọn 02 nhóm đối tượng chính sau:
Trang 34- Người làm nghề lấy thuốc chuyên nghiệp (thầy lang)
- Người làm nghề khác nhưng đôi khi lấy thuốc khi cần
Về số lượng người phỏng vấn: phỏng vấn tất cả các ông lang, bà mế làm nghề lấy thuốc sống trong khu vực và lân cận nhưng ít nhất là 10 người, nhóm đối tượng còn lại chọn ngẫu nhiên 30 người để phỏng vấn
PRA (Đánh giá nông thôn có sự tham gia): là một loạt các cách và phương pháp cho phép người dân nông thôn cùng chia sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để lập kế hoạch và hành động (theo Robert Chambert, 1994) (Nguyễn Bá Ngãi (1999) [25] Một
số kỹ thuật thường được sử dụng trong PRA:
câu hỏi nào với những câu hỏi tuỳ ý dựa trên hoàn cảnh khi đó, thứ tự các nội dung cần hỏi có thể thay đổi tuỳ ý dựa trên câu trả lời của câu hỏi trước của người cung cấp thông tin
câu hỏi có thể thêm vào tuỳ theo các tình huống cụ thể
Trong quá trình điều tra, thu thập tri thức bản địa chúng tôi sử dụng một số mẫu biểu sau:
Trang 35Mẫu biểu 2.4: Phiếu điều tra tri thức bản địa
I Sơ lược về người cung cấp thông tin
- Chuyên môn (nếu có):………
II Những thông tin cần biết về tri thức bản địa của một cây thuốc
1 Tên cây (theo tiếng địa phương của các dân tộc ở miền Bắc):
8 Thời gian điều trị:
9 Kiêng kị trong thời gian dùng thuốc(nếu có):……… 10.Hiệu quả chữa trị:………
Ngày thu thập thông tin: Ngày tháng năm 20 Người thu thập thông tin
(ký, ghi rõ họ và tên)
Trang 362.4.4 Phương pháp điều tra thị trường buôn bán cây thuốc tại khu vực
Trước tiên, xác định được các điểm đầu mối thu mua cây thuốc ở địa phương như: cửa rừng, các hộ thu mua cây thuốc nhỏ lẻ ở tại gia đình, các phiên chợ quê, các điểm thu mua cây thuốc lớn hoặc theo chân những người
đi khai thác, mua, bán cây thuốc Sau đó vận dụng tốt các kĩ năng phỏng vấn cũng như các kĩ năng nghe, nhìn, đánh giá để thu thập và tổng hợp được các thông tin liên quan đến cây thuốc như: giá cả, số lượng, khối lượng thu hái, hình thức mua bán, quy cách sản phẩm, vận chuyển Từ đó, xây dựng được mạng lưới thị trường cây thuốc tại khu vực và xác định những biến động của thị trường cây thuốc có thể xảy ra như: giá cả tăng cao do khan hiếm hàng, nhu cầu thị trường lớn
2.4.5 Phương pháp đánh giá mức độ đe doạ
Chúng tôi dựa trên các tài liệu đã ban hành về sự nguy cấp của thực vật
để đánh giá mức độ bị đe doạ của các loài thực vật có giá trị làm thuốc Các tài liệu đó gồm: Sách Đỏ Việt Nam (2007) [9]; Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam; Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm [14] Ngoài ra, chúng tôi còn căn cứ vào tình hình khai thác và sử dụng cây thuốc tại địa phương để chỉ ra các loài có nguy cơ bị đe doạ trong khu vực nghiên cứu
Trang 37Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có diện tích là 13.022,7 ha, trong
đó tổng diện tích do BQL quản lý là 23.797,7 ha gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất ngoài vùng đệm Khu bảo tồn gồm 2 phân khu riêng biệt là Yên Tử (có diện tích khoảng 7,700 ha được thành lập năm 2002)
và Khe Rỗ (có diện tích khoảng 5,300 ha được thành lập năm 1994), cách nhau 10km gồm rừng đầu nguồn và rừng sản xuất của xã quản lý
Khu bảo tồn nằm trên diện tích hành chính của 05 xã, thị trấn là An Lạc, Thanh Luận, Thanh Sơn, Tuấn Mậu huyện Sơn Động và xã Lục Sơn huyện Lục Nam
+ Phía Nam giáp các xã: Dương Hưu (huyện Sơn Động), tỉnh Bắc Giang, xã Thượng Yên Công, Phường Vàng Danh (Thị xã Uông Bí), xã Bình Khê và Tràng Lương (huyện Đông Triều), tỉnh Quảng Ninh
+ Phía Tây giáp các xã: An Châu, An Lập, Lệ Viễn (huyện Sơn Động)
và xã Trường Sơn (huyện Lục Nam), tỉnh Bắc Giang
Trang 38Bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử có những khu vực còn tương đối nguyên vẹn với một quần thể sinh vật phong phú, đa dạng
3.2 Dân sinh kinh tế - xã hội
3.2.1 Tình hình dân sinh, dân tộc
Dân số sinh sống ở khu vực giáp ranh và bên trong khu BTTN là 21.310 người Các dân tộc chủ yếu là Kinh, Tày, Dao, Cao Lan, Sán Chí Trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, đời sống kinh tế khó khăn nên
họ sống phụ thuộc nhiều vào rừng và các sản phẩm từ rừng Điều này là đặc biệt đúng đối với các hộ dân nghèo ở vùng sâu vùng xa, những người có thể phải sống thiếu ăn 4 tháng trong năm Những áp lực về sinh kế trên địa bàn này đang tạo ra một sức ép lớn đối với tài nguyên của khu bảo tồn và có tác động tiêu cực đối với tài nguyên thiên nhiên khu BTTN Chính vì vậy, khu BTTN Tây Yên Tử đánh giá nhu cầu bảo tồn và kế hoạch các hoạt động trình
tự ưu tiên, trình lên Quỹ bảo tồn rừng đặc dụng Việt Nam xin hỗ trợ kinh phí nhằm làm giảm thiểu sự tác động của cộng đồng vào tài nguyên thiên nhiên KBT
Dân tộc: Có 5 dân tộc chính đang sinh sống trong vùng đệm và bên
trong khu bảo tồn là: Kinh, Tày, Dao, Cao Lan, Sán Chí, chiếm 98,8% Các dân tộc khác chỉ chiếm một số lượng rất ít (1,2% tổng dân số)
Trang 39Biểu 3.1: Thành phần dân tộc sinh sống trong khu vực
Dân số và lao động: Dân số nằm trong vùng đệm KBT có 757
hộ với 3.815 nhân khẩu Dân số phân bố tương đối đồng đều giữa các xã trong khu vực
Biểu 3.2: Mật độ và dân số các xã
TT Đơn vị hành
chính (xã)
Diện tích tự Nhiên (km 2 )
Số khẩu (người)
Tỷ lệ (%)
Mật độ (người/km 2 )
4 vẫn còn phổ biến, có thể tạo ra thêm áp lực về dân số và giải quyết việc làm trong những năm tiếp theo
Trang 40Lực lượng lao động và sự phân bố lao động theo giới trong 05 xã thuộc tại khu BTTN thống kê tại biểu sau:
Biểu 3.3: Lao động và phân bố lao động của các xã
Một số ít trong số lao động này làm trong các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế, dịch vụ, công nhân khai thác mỏ than, công nhân nhà máy Nhiệt điện Với lực lượng lao động nhiều nhưng cơ cấu ngành nghề khá đơn điệu (chủ yếu là sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ, năng suất lao động thấp) dẫn đến dư thừa lao động và nhiều thời gian nông nhàn gây thêm sức ép đến tài nguyên rừng Bên cạnh đó việc phát triển kinh tế bằng chăn nuôi gia súc theo phương thức thả tự do vào rừng cũng là nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đối với
đa dạng sinh học ở khu BTTN Tây Yên Tử