1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại chi cục thuế thành phố ninh bình, tỉnh ninh bình

116 243 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu kiểm tra thuế là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý t

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Quang Hiệp

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản luận văn này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Phúc Thọ trong suốt quá trình viết và hoàn thành luận văn

En xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong Hội đồng Khoa học Trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Quang Hiệp

Trang 3

MỤC LỤC

Trang TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA THUẾ 4

1.1 Tổng quan thuế và kiểm tra thuế của cơ quan thuế 4

1.1.1 Khái niệm về thuế 4

1.1.2 Tác động của thuế tới nền kinh tế 6

1.1.3 Khái niệm kiểm tra thuế 8

1.1.4 Khái niệm DN 8

1.1.5 Mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra thuế 9

1.1.6 Nguyên tắc hoạt động kiểm tra thuế 11

1.1.7 Phân loại kiểm tra thuế 13

1.2 Công tác kiểm tra ĐTNT của cơ quan thuế 15

1.2.1 Nội dung kiểm tra 15

1.2.2 Phương pháp kiểm tra 17

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác kiểm tra 18

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác kiểm tra ĐTNT của cơ quan thuế 20 1.3.1 Điều kiện kinh tế xã hội và trình độ dân trí 20

1.3.2 Mô hình quản lý thuế 21

1.3.3 Cơ chế quản lý thuế 25

Trang 4

1.4 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của một số nước trên thế giới và Việt Nam 27

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý thuế các nước trên thế giới 27

1.4.2 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của một số địa phương trong nước 34

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 38

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 38

2.1.2 Điều kiện kinh tế 38

2.1.3 Lịch sử - Văn hóa 41

2.1.4 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Chi cục Thuế thành phố Ninh Binh 42

2.2 Phương pháp nghiên cứu 48

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 48

2.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 50

2.2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 50

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52

3.1 Khái quát tình hình thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách của Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình 52

3.1.1 Tình hình thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách của Chi cục Thuế thành phốNinh Bình trong thời gian qua 52

3.2 Thực trạng công tác kiểm tra ĐTNT ở Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình 55 3.2.1 Tổ chức hệ thống và nhiệm vụ quyền hạn của kiểm tra thuế 55

3.2.2 Thực trạng công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra thuế ở các DN ngoài quốc doanh 60

3.2.3 Thực trạng về nội dung công tác kiểm tra thuế tại các DN ngoài quốc doanh 64

3.3 Nguyên nhân hạn chế công tác, kiểm tra ĐTNT ở Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình 84

3.3.1 Về cơ chế chính sách 84

Trang 5

3.3.2 Về tổ chức thực hiện 85 3.3.3 Yếu tố khác 87 3.4 Giải pháp tăng cường công tác kiểm tra thuế của các DN ngoài quốc doanh ở Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình 88 3.4.1 Định hướng công tác kiểm tra thuế thời gian tới của Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình 88 3.4.2 Giải pháp tăng cường công tác kiểm tra ĐTNT ở Chi cục thuế TP Ninh Bình 91 KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐTNT Đối tượng nộp thuế

GTGT Giá trị gia tăng

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Số lượng và cơ cấu DN trên địa bàn TP Ninh Bình 39 2.2 Tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ quản lý thuế 48 2.3 Bảng thu thập thông tin, tài liệu đã công bố 49

3.1 Thu ngân sách của Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình 2011 -

3.2 Thực hiện thu ngân sách theo khu vực và sắc thuế 2011 – 2012 53

3.4 Lực lượng cán bộ kiểm tra thuế của Chi cục Thuế TP Ninh Bình 57

3.5 Công văn chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra các DN ngoài

3.6 Trình độ kế toán tại các DN khảo sát trên địa bàn 68 3.7 Tình hình thực thi chế độ kế toán ở các DN 70 3.8 Vi phạm của các DN trong quá trình kiểm tra thuế 72 3.9 Tổng hợp hồ sơ khai thuế từ năm 2011 - 2013 73 3.10 Kết quả kiểm tra tính thuế trong 3 năm 2011-2013 76 3.11 Các sai phạm trong kê khai tính thuế được phát hiện qua KT 77

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.3 Thuế tác động đến phúc lợi, gây tổn thất tải trọng 7 2.1 Mô hình phân công, phân cấp quản lý thuế tổng quát 43 2.2 Mô hình phân cấp quản lý thuế tại địa phương 43 2.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình 47 3.1 Tình hình thực hiện thu ngân sách giai đoạn 2011 – 2013 53 3.2 Mô hình tổ chức hệ kiểm tra tại Chi cục thuế TP Ninh Bình 55

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Thuế hay thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước Thuế là số tiền thu của các công dân, tổ chức,

DN từ hoạt động và đồ vật (như giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội

Trong kinh tế học cũng như trong thực tiễn, thuế đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của xã hội Đó là nguồn thu chủ yếu của mỗi quốc gia, là biện pháp động viên bắt buộc của các thể nhân và các pháp nhân trích một phần thu nhập do kinh doanh, do lao động, do đầu tư tài chính mang lại nộp vào NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của đất nước Thuế được sử dụng để tác động ngược trở lại nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển của các

cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế được thuận lợi hơn, đồng thời đáp ứng được nhu cầu về an sinh xã hội của mỗi quốc gia Đồng thời, thuế cũng là nguồn tài chính chủ yếu để chính phủ đầu tư thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội, môi trường, duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước Vì lý do

đó, công tác thu thuế là công việc luôn luôn được coi trọng

Trong thực tiễn, do nhiều lý do và quan trọng nhất là thuế tác động tiêu cực đến thu nhập của cá nhân, tổ chức bị thu thuế nên tình trạng vi phạm các chính sách, chế độ, luật thuế như khai man, trốn lậu thuế, chây ỳ, chậm nộp thuế vẫn diễn ra thường xuyên và ngày càng tinh vi hơn ở các ĐTNT Vì vậy,

để hoàn thiện tốt công tác thu thuế nói chung, ngoài việc tăng cường quản lý còn phải tập trung chú trọng đến công tác kiểm tra

Trong bối cảnh áp dụng cơ chế cơ sở kinh doanh tự kê khai, tự nộp thuế theo Luật Quản lý thuế thì kiểm tra thuế là một trong những chức năng thiết yếu

Trang 10

của quản lý thuế Tính hiệu quả của kiểm tra thuế có ảnh hưởng chi phối đến hiệu quả của quản lý thuế Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kiểm tra trong thời gian vừa qua, Tổng cục Thuế đã tập trung mọi biện pháp nâng cao hiệu quả công tác như: tổ chức sắp xếp lại bộ máy, đổi mới hoạt động kiểm tra, xây dựng quy trình mới, tăng cường đào tạo lực lượng thanh tra viên…Nhờ những hoạt động tích cực đó, công tác kiểm tra thuế thời gian qua ngày càng chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận

Tuy nhiên, công tác kiểm tra thuế hiện nay đặc biêt là đối với các DN ngoài quốc doanh cũng có những hạn chế nhất định Nội dung và quy trình kiểm tra trực tiếp cũng còn nhiều bất cập… không đáp ứng được những yêu cầu của công tác kiểm tra thuế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước hiện nay Chính sách thuế ở nước ta còn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập… Các hành vi trốn thuế, lách thuế của các đối tượng sản xuất kinh doanh một mặt phản ánh ý thức chấp hành của các ĐTNT chưa cao, mặt khác cũng cho thấy các chính sách thuế và phương pháp tính thuế của cơ quan thuế chưa bám sát thực tế Quan điểm về thuế còn phiến diện, chủ yếu nhằm tận thu cho Ngân sách mà coi nhẹ chức năng thứ hai của thuế là kích thích sản xuất Như vậy, làm thế nào để giải quyết được những vấn đề còn tồn tại trên?

Trong những năm gần đây, kinh tế tỉnh Ninh Bình liên tục tăng trưởng mạnh Các ngành kinh tế đặc biệt là công nghiệp có sức phát triển rất lớn Chính vì thế mà thời gian qua, số lượng các DN ngoài quốc doanh hình thành rất nhiều, thu thuế của nhà nước cũng vì thế mà tăng lên tuy nhiên vẫn còn đó

những tồn tại Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu

quả công tác kiểm tra thuế các DN ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình” có ý nghĩa thực tiễn thiết thực

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Phân tích thực trạng công tác kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình, chỉ rõ những kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế Trên cơ

sở phân tích để đề xuất giải pháp tăng cường công tác kiểm tra thuế của Chi

cục Thuế thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình

- Đề xuất các giải pháp nâng cao kết quả công tác kiểm tra thuế đối với

DN ngoài quốc doanh ở Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác kiểm tra thuế đối với DN ngoài quốc doanh ở Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu thực trạng công tác kiểm tra thuế và giải pháp nâng cao chất lượng của công tác kiểm tra đối với DN ngoài quốc doanh ở Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình

- Phạm vi về không gian: tại Chi cục Thuế thành phố Ninh Bình

- Phạm vi về thời gian: Điều tra phân tích từ năm 2011 đến năm 2013, giải pháp nâng cao kết quả công tác kiểm tra thuế từ 2014 và các năm tiếp theo

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA THUẾ

1.1 Tổng quan thuế và kiểm tra thuế của cơ quan thuế

1.1.1 Khái niệm về thuế

- Sự ra đời của thuế: Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng

minh rằng, thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Mỗi Nhà nước ở mỗi giai đoạn lịch sử có bản chất, chức năng và nhiệm vụ cụ thể khác nhau Nhưng để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi tiêu duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó cai quản, chi cho các công việc thuộc chức năng của Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng, chi cho các vấn đề phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, Nhà nước thường sử dụng ba hình thức động viên đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực Nhà nước bắt buộc dân phải đóng góp Trong đó hình thức quyên góp tiền, tài sản của dân và hình thức vay của dân là hình thức không mang tính ổn định lâu dài, thường được Nhà nước sử dụng có giới hạn trong một số trường hợp đặc biệt Để đáp ứng chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực chính trị để quy định các khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước đối với các thể nhân và pháp nhân trong xã hội nhằm đảm bảo điều kiện vật chất duy trì sự tồn tại và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Đây chính là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho Nhà nước Hình thức Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình đó chính là thuế

Trang 13

- Khái niệm thuế:

+ Xét về góc độ Nhà nước: Thuế là một khoản thu của Nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, khoản thu này mang tính chất bắt buộc, không hoàn trả trực tiếp được pháp luật quy định

+ Xét về góc độ người nộp: Thuế là khoản đóng góp mang tính pháp lệnh của Nhà nước, bắt buộc mọi người dân hoặc các tổ chức kinh tế nộp vào Ngân sách, để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nước

+ Xét về nội dung vật chất: Thuế là khoản tiền hay sản vật mà người dân và các tổ chức kinh tế phải có nghĩa vụ đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước

+ Xét về thực chất (bản chất kinh tế): Thuế là là một hình thức phân phối thu nhập được Nhà nước sử dụng để động viên một phần thu nhập của các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội vào NSNN nhằm thực hiện nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Thuế bao giờ cũng là hình thức động viên mang tính bắt buộc gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước bằng các Sắc luật

do Nhà nước quy định

- Lệ phí: là khoản thu của Nhà nước vừa mang tính chất phục vụ cho

người nộp lệ phí về việc thực hiện một số thủ tục hành chính, vừa mang tính chất động viên cho NSNN: chẳng hạn như lệ phí trước bạ, lệ phí chứng thư

- Phí: là khoản thu mang tính chất bù đắp hay là một khoản nộp có tính

chất bắt buộc đối với các thế nhân và pháp nhân do được hưởng một lợi ích hoặc được sử dụng một dịch vụ công cộng nào đó do Nhà nước cung cấp Nó

có tính hoàn trả trực tiếp Phí mang tính quyền lực của Nhà nước và do các cơ quan hành pháp ban hành, hoặc do tập quán có tính truyền thống, quy ước của địa phương chẳng hạn như: phí giao thông, viện phí, học phí, thuỷ lợi phí, phí

về sử dụng bến bãi, kho tàng, cầu phà,… và các loại phí mang tính địa phương như: quỹ bảo vệ trật tự, vệ sinh, quỹ bảo vệ đồng ruộng, quỹ bảo vệ cầu đường ở thôn xã…

Trang 14

1.1.2 Tác động của thuế tới nền kinh tế

Thuế cản trở hoạt động của thị trường, khi một mặt hàng bị đánh thuế, giá tăng, đường cầu dịch chuyển giảm và thị trường đạt trạng thái cân bằng mới Người mua và người bán cùng chia sẻ gánh nặng thuế Trong trạng thái cân bằng mới, giá người mua phải trả cao hơn và giá người bán nhận được thấp hơn, tạo cái “nêm thuế” giữa giá người mua phải trả và giá người bán nhận được

Hình 1.1 Thuế đánh vào người mua

Thuế đánh vào người bán làm dịch chuyển đường cung (S), thị trường đạt trạng thái cân bằng mới Giá người mua phải trả cao hơn và giá người bán nhận được thấp hơn (sau khi nộp thuế)

Trang 15

Dù thuế đánh vào người bán hay người mua, thì cả người bán và người mua đều phải chia xẻ gánh nặng thuế Gánh nặng thuế người bán chịu nhiều hay người mua chịu nhiều còn tùy thuộc vào độ co giãn của cung, cầu với giá

Thuế tác động đến phúc lợi

Một sắc thuế được ban hành, nó tác động đến người bán, người mua và

hệ lụy tác động đến các ngành có liên quan… tác động đến đời sống kinh tế

xã hội Một hướng tác động là thuế làm giảm phúc lợi, gây tổn thất tải trọng

Hình 1.3 Thuế tác động đến phúc lợi, gây tổn thất tải trọng

- Thuế đánh vào hàng hóa tạo ra một cái nêm giữa giá mà người mua phải trả và giá người bán nhận được Lượng hàng hóa bán ra giảm

- Tổng thặng dư trước thuế: (CS + PS) = A+B +C + D + E + F

- Tổng thặng dư sau thuế: (CS + PS + Bud) = A + F + (Bud = B + D)

- Ngân sách Chính phủ thu được: B + D = Q1.T

- Tổng thặng dư giảm: - (C + E)

Như vậy, cái mất của người mua và người bán do một khoản thuế gây

ra vượt quá nguồn thu về thuế của Chính phủ nhận được - tổn thất tải trọng

Trang 16

Quy mô của tổn thất tải trọng phụ thuộc vào độ co giãn của cầu, cung với giá Trên thị trường lao động thuế đánh vào tiền công, người lao động kém hứng thú làm việc và thuế Chính phủ thu được cũng sẽ giảm và ngược lại Thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư vốn làm giảm động cơ tiết kiệm, đầu tư vốn và tiêu dùng hiện tại sẽ tăng…

1.1.3 Khái niệm kiểm tra thuế

Có nhiều quan điểm khác nhau về kiểm tra thuế Theo Học viện Tài

chính (2006), “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét,

đánh giá”

Theo giáo sư Michel Bouvier, tác giả cuốn “Nhập môn về luật thuế đại cương và lý thuết thuế”, kiểm tra thuế là “hoạt động nhằm xem xét tính trung

thực, tính chính xác của cơ sở tính thuế mà NNT đã kê khai”

Như vậy, tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu kiểm tra thuế là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về

thuế, phí và lệ phí (gọi chung là thuế)

1.1.4 Khái niệm DN

Theo Luật Doanh nghiệp (2003), DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các mục đích kinh doanh DN ngoài quốc doanh

là DN do tư nhân đứng ra thành lập DN ngoài quốc doanh bao gồm: (1) DN

tư nhân, (2) Công ty cổ phần, (3) Công ty trách nhiệm hữu hạn, (4) Công ty hợp danh

Trang 17

Khái niệm về hiệu quả kiểm tra thuế: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế

xã hội nó phản ánh mặt chất và mặt lượng của hoạt động quản lý và là đặc trưng của mọi nền kinh tế xã hội

Hiệu quả của kiểm tra thuế được hiểu là mối quan hệ tương quan so sánh kết quả của kiểm tra thuế đối với toàn xã hội bao gồm: cơ quan thuế, người nộp thuế và xã hội

Hiệu quả kiểm tra thuế cần được xem xét một các toàn diện, trên quan điểm toàn diện, có quan điểm cho rằng xem xét hiệu quả kiểm tra thuế không thể loại bỏ mục tiêu về lợi ích xã hội, nâng cao trình độ văn hóa xã hội của doanh nghiệp và cộng đồng, nâng cao công tác quản lý thuế của cơ quan thuế, đảm bảo các nguồn thu cho NSNN một cách vững chắc

1.1.5 Mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra thuế

a Mục đích

Kiểm tra thuế là một chức năng thiết yếu trong quản lý thuế Đặc biệt, trong bối cảnh áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, vai trò của công tác, kiểm tra thuế càng trở nên quan trọng Để phát huy được vai trò này, công tác kiểm tra thuế cần phải hướng vào những mục đích sau đây:

- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hiện tượng trốn lậu thuế, xâm tiêu tiền thuế, dây dưa nợ đọng thuế đối với các ĐTNT và cơ quan thu thuế Các cá nhân tổ chức hiện nay sử dụng rất nhiều cách để có thể trốn thuế, dây dưa nợ đọng thuế với mục đích chung là không muốn trả tiền thuế Nếu không có công tác kiểm tra thuế, thì rất nhiều đối tượng dây dưa, nợ đọng thuế sẽ không thể theo dõi, thậm chí các khoản thuế phải nộp của các cá nhân,

tổ chức đó cũng sẽ không được xác định đúng, thường là thấp hơn so với mức thực phải nộp, gây nên thất thoát tiền của của Nhà nước

- Phát hiện những điểm bất hợp lý, chồng chéo giữa những kẽ hở trong các luật, pháp lệnh thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện để kịp thời bổ

Trang 18

sung, sửa đổi xác lập căn cứ cải tiến hệ thống tổ chức, đổi mới công tác thu thuế nhằm đạt hiệu quả cao Cách thức trốn thuế phổ biến hiện nay vẫn là lách luật Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển thì luật pháp vẫn chưa được chặt chẽ, vẫn còn có nhiều kẽ hở trong các văn bản, chính sách, từ đó các đối tượng trốn thuế lợi dụng các kẽ hở này và thực hiện hành vi trốn thuế của mình Nếu không được kiểm tra kịp thời, nhà nước sẽ thất thu thuế từ các kẽ

hở của luật này

- Điều tra xác minh, làm sáng tỏ những vấn đề mà dư luận xã hội quan tâm, đơn thư tố giác của quần chúng nhân dân Ngay cả khi đã kiểm tra trước

và sau khi thu thuế, vẫn đâu đó còn có các đối tượng vẫn trốn được sự kiểm tra của cơ quan thuế hoặc dùng các thủ đoạn làm chứng từ giả để qua mặt các cuộc kiểm tra Những lúc này dư luận và các đơn thư tố giác là cơ sở quan trọng để các cơ quan thuế có thể tái kiểm tra nhằm tìm đúng ra vi phạm Đồng thời, không phải tất cả các đơn thư tố giác đều có cơ sở Nhiều đơn thư nặc danh, có thể làm mất danh dự, uy tín của cá nhân, tổ chức nộp thuế Vì vậy, điều tra xác minh làm rõ thông qua kiểm tra là cơ sở để tránh thất thu thuế, đồng thời bảo vệ các cá nhân, DN, tổ chức, cơ sở làm ăn chân chính khỏi các lời đồn thất thiệt gây ra thiệt hại cho chính bản thân họ Đó là mục đích quan trọng của công tác kiểm tra thuế

b Yêu cầu

Kiểm tra thuế là hoạt động có tính pháp lý cao, liên quan đến lợi ích kinh tế và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội Vì vậy, công tác kiểm tra đòi hỏi phải đảm bảo yêu cầu:

- Kiểm tra thuế phải đảm bảo tính chính xác, khách quan trung thực, xử

lý đúng tội, không bao che, không quy chụp cho các đối tượng được kiểm tra, đảm bảo sự tin tưởng của quần chúng nhân dân

- Kiểm tra thuế phải dựa vào pháp luật và chỉ tuân thủ theo pháp luật,

Trang 19

phải coi pháp luật là cơ sở pháp lý, là chuẩn mực để kết luận vấn đề, tránh biểu hiện chủ quan, tuỳ tiện trong công tác xử lý

- Kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia đóng góp ý kiến

1.1.6 Nguyên tắc hoạt động kiểm tra thuế

Theo Luật Quản lý thuế 2006, nguyên tắc kiểm tra thuế có 3 nguyên tắc

cơ bản (1) Thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT, đánh giá việc chấp hành pháp luật của NNT, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế (2) Không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là NNT (3) Tuân thủ quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

(1) Bảo đảm tính chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân

chủ, kịp thời Tính chính xác đòi hỏi chủ thể kiểm tra phải nhận thức đúng

vấn đề, nội dung kiểm tra, xác định, đánh giá chính xác bản chất của sự việc để kết luận kiểm tra chính xác Tính chính xác bảo đảm cho hoạt động kiểm tra thuế đạt hiệu quả cao Muốn đảm bảo tính chính xác, không chỉ đòi hỏi quan điểm đúng đắn mà còn cần phải có kiến thức, năng lực mới có thể đem lại kết quả chính xác

Tính khách quan yêu cầu chủ thể kiểm tra phải phản ánh đúng sự vật,

hiện tượng như nó vốn có, không được lồng ý kiến chủ quan khi mô tả sự vật, hiện tượng Tính khách quan và tính chính xác có mối quan hệ tác động qua lại Tính khách quan tạo tiền đề cho việc kết luận chính xác và kết luận kiểm tra có tính chính xác mới thể hiện được tính khách quan của hoạt động kiểm tra

Tính trung thực đòi hỏi chủ thể kiểm tra phải tuân thủ các quy tắc về

đạo đức nghề nghiệp, phản ánh đúng thực tế sự việc, không thiên lệch, bóp méo sự việc dẫn đến kết luận không đúng thực tế

Trang 20

Tính công khai thể hiện ở chỗ chủ thể kiểm tra phải thông báo đầy đủ,

công khai từ nội dung, kế hoạch, quyết định kiểm tra đến kết luận kiểm tra

để các tổ chức, cá nhân liên quan biết, giám sát và phối hợp thực hiện Việc công khai hoạt động kiểm tra nhằm nâng cao tính khách quan của hoạt động kiểm tra, hạn chế những tiêu cực phát sinh trong quá trình kiểm tra Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, tuỳ tính chất của cuộc kiểm tra cụ thể, cần có hình thức, mức độ công khai phù hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động kiểm tra

Tính dân chủ nhằm tạo cơ hội cho đối tượng kiểm tra được trình bày ý

kiến, quan điểm về những nội dung kiểm tra cũng như về hoạt động của đoàn kiểm tra cụ thể, tránh tình trạng áp đặt của chủ thể kiểm tra

Tính kịp thời: Hoạt động kiểm tra thuế nhằm phục vụ các mục tiêu quản

lý thuế trong những thời điểm nhất định Vì vậy, kiểm tra kịp thời ngoài việc giúp cho đối tượng kịp thời nhận rõ sai phạm để sửa chữa, khắc phục ngay, tránh vi phạm kéo dài còn giúp cơ quan thuế chấn chỉnh và sửa đổi cơ chế, chính sách phù hợp thực tiễn, nâng cao hiệu quả quản lý thuế Mặt khác, tính kịp thời còn đảm bảo cuộc kiểm tra có biên bản, kết luận đúng thời hạn luật định, tránh tình trạng dây dưa, kéo dài thời gian công bố kết luận kiểm tra

(2) Không làm cản trở hoạt động bình thường của đối tượng kiểm tra Hoạt động kiểm tra thuế là “vấn đề hết sức nhạy cảm” và trong những năm gần đây, vấn đề quyền và những bảo đảm thực hiện quyền của ĐTNT được đặc biệt quan tâm Việc cơ quan chức năng tổ chức tiến hành kiểm tra, tại cơ

sở kinh doanh là cần thiết nhưng ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của đối tượng bị kiểm tra Tình trạng kéo dài, dây dưa, không công bố kết luận kiểm tra có lúc, có nơi vẫn còn tồn tại Mặt khác, do việc phân cấp quản

lý sẽ có thể phát sinh nhiều đoàn kiểm tra đối tượng cùng thời điểm hoặc trong một thời gian ngắn

Trang 21

Nguyên tắc này nhằm hạn chế tối đa những cuộc kiểm tra chồng chéo của các cơ quan quản lý, đảm bảo quyền hoạt động bình thường của đối tượng được thanh tra, kiểm tra, đảm bảo về cùng một nội dung, trong một năm đối tượng chỉ bị kiểm tra một lần Cùng với việc thực hiện tốt nguyên tắc kịp thời trong hoạt động kiểm tra, nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của đối tượng kiểm tra

(3) Phải tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật, không được làm trái các quy định của pháp luật là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế

Nguyên tắc này đòi hỏi các đơn vị, cá nhân tham gia quá trình kiểm tra thuế chỉ được thực hiện những quyền mà pháp luật cho phép và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà pháp luật quy định Mọi hành vi lạm quyền hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đều bị coi là hành vi không tuân thủ quy định của pháp luật và đều phải bị xử lý

Thực hiện nguyên tắc này, chủ thể kiểm tra (cơ quan, đoàn kiểm tra và các thành viên) khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để kết luận, kiến nghị những vấn đề kiểm tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, kiến nghị của mình Đối tượng kiểm tra phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định của chủ thể kiểm tra, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu và giải trình số liệu khi được yêu cầu

1.1.7 Phân loại kiểm tra thuế

Trang 22

xây dựng kế hoạch kiểm tra và trình cấp thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm tra đã được phê duyệt

+ Kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao

- Theo nội dung và phạm vi kiểm tra

Theo tiêu thức này, kiểm tra thuế được chia thành hai loại là kiểm tra toàn diện và kiểm tra bộ phận

+ Kiểm tra toàn diện: Với hình thức này, cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra toàn bộ công tác quản lý thu của một cơ quan thuế hoặc toàn bộ quá trình kê khai, nộp thuế với tất cả các sắc thuế của một ĐTNT

+ Kiểm tra bộ phận: Hình thức này thường được áp dụng khi kiểm tra một hoặc một vài sắc thuế; một hoặc một số kỳ tính thuế hoặc một vài quy trình quản lý thuế

- Theo địa điểm tiến hành kiểm tra

Theo tiêu thức này, kiểm tra thuế được chia thành hai loại là kiểm tra tại cơ quan thuế và kiểm tra tại cơ sở của đối tượng kiểm tra

+ Kiểm tra tại cơ quan thuế (tại bàn): Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của NNT Khi kiểm tra hồ sơ thuế, công chức quản

lý thuế thực hiện việc đối chiếu, so sánh nội dung trong hồ sơ thuế với các thông tin, tài liệu có liên quan, các quy định của pháp luật về thuế, kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá trong trường hợp cần thiết đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu

+ Kiểm tra tại cơ sở của đối tượng kiểm tra: được thực hiện đối với các trường hợp kiểm tra sau thông quan, bao gồm kiểm tra theo kế hoạch, kiểm

Trang 23

tra chọn mẫu để đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế và kiểm tra đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế Khi kiểm tra sau thông quan nếu phát hiện có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế thì Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp quy định

1.2 Công tác kiểm tra ĐTNT của cơ quan thuế

1.2.1 Nội dung kiểm tra

Nội dung kiểm tra ĐTNT tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:

- Kiểm tra, việc chấp hành những quy định về đăng ký thuế

Đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế là quyền và nghĩa vụ của đối tượng kinh doanh Mục tiêu của việc kê khai, đăng ký thuế nhằm giúp cho cơ quan quản lý thuế quản lý chặt chẽ ĐTNT ngay từ khi bắt đầu hoạt động; quản lý hồ sơ ĐTNT để lưu giữ, tra cứu, kiểm tra khi cần thiết

Căn cứ vào số liệu tổng hợp về đăng ký kinh doanh, đăng ký kê khai, nộp thuế cơ quan thuế phối hợp với các ngành có liên quan để chuẩn bị điều kiện vật chất phục vụ tốt công tác quản lý đối với cơ sở kinh doanh theo đúng luật thuế Xác định những đối tượng còn sót chưa đăng ký kinh doanh hoặc chưa đăng ký thuế

Nội dung kiểm tra đăng ký thuế là xem xét trên từng địa bàn, trong từng loại ngành nghề có bao nhiêu đơn vị thực tế có hoạt động kinh doanh, số lượng đơn vị đăng ký và chưa kê khai đăng ký thuế và cơ sở kinh doanh đã đăng

ký có làm đúng những quy định về đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế không

Đối với mỗi cơ sở kinh doanh khi kiểm tra cần đi sâu xem xét tính pháp

lý của đăng ký thuế; kiểm tra tính trung thực của các tài liệu, số liệu kê khai trong đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế về vốn, địa điểm, ngành nghề kinh doanh, thời gian thực tế kinh doanh… nhằm phát hiện và xử lý những gian lận

Trang 24

trong kê khai đăng ký thuế Cần coi trọng việc kiểm tra nội dung ghi trong đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế vì đây là khâu đầu tiên trong quy trình quản

lý thu thuế, để tránh bỏ sót đối tượng chịu thuế, ĐTNT, bỏ sót nguồn thu

- Kiểm tra, việc chấp hành chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ

Việc thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ có liên quan mật thiết đến việc tính thuế, nộp thuế và công tác quản lý của Nhà nước Nội dung kiểm tra này bao gồm: kiểm tra việc tổ chức thực hiện Luật kế toán của các cơ

sở kinh doanh, việc lập và sử dụng hóa đơn, chứng từ có liên quan đến việc tính thuế Nội dung của kiểm tra chứng từ, hoá đơn là xác định tính hợp pháp, hợp lý, tính trung thực của từng loại chứng từ hóa đơn có liên quan như: hoá đơn bán hàng, phiếu xuất kho, chứng từ thu chi…

Qua kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, chứng từ, hoá đơn đảm bảo chính xác các căn cứ tính thuế, ngăn chặn kịp thời việc hạch toán sai

để trốn lậu thuế Do vậy, nội dung kiểm tra này cần được tiến hành thường xuyên Đây là nội dung kiểm tra phức tạp nhất, tốn nhiều thời gian và công sức nhất

- Kiểm tra, việc thực hiện kê khai, tính thuế và nộp thuế

Kê khai, tính thuế, nộp thuế là nghĩa vụ của các DN, tổ chức, cá nhân kinh doanh Nội dung công tác kiểm tra việc kê khai tính thuế, nộp thuế bao gồm:

+ Kiểm tra để xác định đúng đối tượng chịu thuế ĐTNT là yêu cầu bắt buộc phải làm trước khi xác định mức thuế phải nộp Trong thực tế, nhiều hoạt động kinh doanh phức tạp phải kiểm tra để xác định đối tượng chịu thuế, ĐTNT đúng với quy định của từng sắc thuế tránh bỏ sót nguồn thu

+ Kiểm tra căn cứ tính thuế trên cơ sở kiểm tra sổ sách kế toán, chứng

từ, hoá đơn và các tài liệu có liên quan nhằm xác định đúng số thuế phải nộp,

số thuế đã nộp, số thuế được miễn, giảm, số thuế được hoàn trong kỳ của đơn

vị Đối chiếu số liệu trên các tờ khai, bảng kê, quyết toán thuế đơn vị đã kê

Trang 25

khai với số liệu kiểm tra trên sổ sách kế toán và tình hình thực tế của đơn vị

để phát hiện số thuế đơn vị kê khai thiếu, số thuế ẩn lậu Đây là một khâu rất quan trọng trong quá trình kiểm tra thuế, đòi hỏi cán bộ thuế phải nắm vững nội dung những quy định của các Luật thuế, các văn bản hướng dẫn thực hiện

và đặc biệt phải thông thạo nghiệp vụ kế toán

+ Kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của ĐTNT để xác định xem cơ sở kinh doanh có thực hiện nghiêm túc quy định về thời hạn nộp thuế của các luật thuế không, có dây dưa nộp chậm tiền thuế để chiếm dụng NSNN không, có nợ đọng thuế không Đặc biệt chú trọng đến những cơ sở có biểu hiện vi phạm nhiều lần, với số lượng lớn nhằm giảm thiểu tối đa khả năng thất thoát tiền thuế của Nhà nước Để đạt được yêu cầu trên, cần đối chiếu thời gian nộp thuế theo quy định của các luật thuế với thời gian nộp thuế của cơ sở kinh doanh qua các chứng từ nộp thuế như giấy nộp tiền vào kho bạc, biên lai thuế

Như vậy, việc kiểm tra ĐTNT là công việc mang tính tổng hợp cao, đòi hỏi cán bộ kiểm tra phải nắm vững các văn bản pháp luật thuế, thông thạo nghiệp vụ kế toán, hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội khác

1.2.2 Phương pháp kiểm tra

- Phương pháp đối chiếu, so sánh

Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình kiểm tra thuế Nội dung của phương pháp này là thực hiện việc so sánh, đối chiếu nội dung cần kiểm tra với các nguồn thông tin khác nhau để đánh giá, xem xét nội dung cần kiểm tra thuế

- Phương pháp kiểm tra từ tổng hợp đến chi tiết

Đây là phương pháp tối ưu để kiểm tra số liệu kế toán Theo phương pháp này, trước hết kiểm tra số liệu tổng hợp sau mới kiểm tra số liệu chi tiết Việc kiểm tra tổng hợp nhằm rút ra những nhận xét tổng quát để từ đó định hướng những nội dung cần đi sâu kiểm tra (kiểm tra chi tiết)

Trang 26

- Phương pháp kiểm tra chứng từ gốc

Có ba phương pháp kiểm tra chứng từ gốc:

+ Kiểm tra theo trình tự thời gian: là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc đã được sắp xếp theo trình tự thời gian phát sinh Phương pháp này mất nhiều thời gian và hiệu quả thấp nên ít được sử dụng

+ Kiểm tra theo loại nghiệp vụ: là việc thực hiện kiểm tra chứng từ gốc

đã được phân loại, sắp xếp theo một nghiệp vụ nhất định, như chứng từ thu, chi tiền mặt, xuất, nhập kho… Phương pháp này được áp dụng khi cần rút ra kết luận đầy đủ về một loại nghiệp vụ theo yêu cầu của nội dung kiểm tra Phương pháp này tiết kiệm thời gian và cho hiệu quả cao

+ Kiểm tra điển hình: là việc kiểm tra ngẫu nhiên một số chứng từ của một loại nghiệp vụ để rút ra kết luận chung Phương pháp này tiết kiệm nhiều thời gian nhưng độ tin cậy của kết luận không cao

- Các phương pháp kiểm tra bổ trợ

+ Phương pháp phỏng vấn: được sử dụng khi cần thu thập thông tin từ những người có quan hệ trực tiếp, gián tiếp đến nội dung kiểm tra

+ Ngoài ra còn một số phương pháp khác như: Phương pháp thẩm tra

và xác nhận từng phần, phương pháp quan sát…

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác kiểm tra

Hiệu quả công tác kiểm tra ĐTNT không chỉ được xem xét, đánh giá đơn thuần ở khía cạnh vật chất (hiệu quả kinh tế) mà còn được xem xét, đánh giá dưới giác độ hiệu quả xã hội - chính trị Vì vậy, các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác kiểm tra thuế được chia 2 nhóm là:

- Các tiêu chí định lượng

Các tiêu chí định lượng thể hiện ở kết quả thực tế của nghiệp vụ kiểm tra

đã được tiến hành Đó là kết quả cụ thể của việc thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc kết quả đem lại của các nghiệp vụ kiểm tra Các tiêu chí này thường gồm:

Trang 27

+ Tình hình thực hiện kế hoạch về từng chỉ tiêu định lượng của kế hoạch: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về đối tượng kiểm tra so với kế hoạch năm; tỷ lệ hoàn thành

kế hoạch về số thời gian kiểm tra so với kế hoạch năm; Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số vụ việc khiếu tố giải quyết được so với kế hoạch năm; Tỷ lệ kiểm tra hàng năm so với tổng số đối tượng kiểm tra…

+ Tình hình vi phạm pháp luật thuế đã phát hiện qua kiểm tra: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ vi phạm pháp luật thuế/tổng số đối tượng kiểm tra; Tổng số tiền thuế truy thu qua kiểm tra; Số tiền truy thu bình quân/đối tượng kiểm tra

+ Chi phí vật chất và thời gian cho kiểm tra: Đánh giá tiêu chí này thường dự vào các chỉ tiêu như: Thời gian bình quân cho 1 cuộc kiểm tra; Số đối tượng được kiểm tra bình quân hàng năm; chi phí bằng tiền trực tiếp cho kiểm tra;…

+ Hiệu quả trực tiếp của kiểm tra: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Chi phí kiểm tra so với số thuế truy thu được đã nộp NSNN; Tỷ lệ giữ nguyên, sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định truy thu thuế theo biên bản kiểm tra thuế khi giải quyết khiếu nại của đối tượng kiểm tra; Tỷ lệ các trường hợp đối tượng kiểm tra chấp nhận hoàn toàn kết luận kiểm tra; Tỷ

lệ số thuế truy thu được nộp vào NSNN/Tổng số thuế truy thu…

Mặc dù có thể tính toán cụ thể được một số chỉ tiêu đã kể trên song thực tế đa số các chỉ tiêu không thực sự phản ánh rõ hiệu quả kinh tế của công tác kiểm tra Bên cạnh việc tính toán chỉ tiêu này trong năm, để đánh giá chính xác hơn tính hiệu quả, cần phải so sánh với những năm cũ để đánh giá

xu hướng biến động của các chỉ tiêu, có như thế mới thấy rõ những tiến bộ của từng khâu công tác

Trang 28

- Các tiêu chí định tính

Các tiêu chí định tính thường là hệ quả của công tác kiểm tra mà không thể hoặc khó tính toán, đo đếm được Đó thường là những hiệu quả có tính xã hội, chính trị như:

+ Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật thuế Tiêu chí này có thể

đo lường được thông qua so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng kiểm tra qua các năm, đặc biệt là những đối tượng đã được kiểm tra (mức độ tái phạm)

+ Tác dụng trong việc ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế; tạo

sự công bằng giữa các ĐTNT; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh Có thể đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ đối tượng vi phạm bị xử lý truy thu thuế và xử phạt hành chính thuế (chia theo hình thức xử phạt)

+ Tác dụng trong việc phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan quản lý thuế và tạo lòng tin của nhân dân vào hoạt động kiểm tra thuế Có thể đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật trong kiểm tra; Tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật bị xử lý (chia theo hình thức); những vụ việc vi phạm quan trọng và nhạy cảm được phát hiện và xử lý…

Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả kiểm tra được đánh giá theo kỳ (quý, năm) và được chia theo sắc thuế, theo hình thức; theo loại ĐTNT và từng nội dung kiểm tra tương ứng

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác kiểm tra ĐTNT của cơ quan thuế

1.3.1 Điều kiện kinh tế xã hội và trình độ dân trí

- Điều kiện kinh tế xã hội là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý thuế nói chung và hoạt động kiểm tra thuế nói riêng Cùng với

sự phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hội nhập sâu rộng hiện nay thì hệ thống luật pháp sẽ dần được hoàn thiện, cơ sở trang thiết bị vật chất kỹ thuật ngày càng được hiện đại hoá và số lượng NNT không ngừng tăng lên nhanh

Trang 29

chóng… Tất cả những biến đổi trên đều tác động lớn tới hiệu quả công tác kiểm tra thuế Việc có được một hệ thống pháp luật thuế đồng bộ, hoàn thiện, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động kiểm tra thuế đi vào khuôn khổ, đồng thời nó cũng giúp cho NNT hiểu và nghiêm túc thực hiện theo quy định của pháp luật Thêm vào đó, việc được đầu tư trang bị cơ sỏ vật chất kỹ thuật hiện đại như: máy móc, thiết

bị, hệ thống ứng dụng tin học hiện đại tích hợp đầy đủ các thông tin về từng NNT nói riêng và các thông tin ngành nói chung… cũng hỗ trợ cho công tác kiểm tra thuế được tiến hành thuận lợi, có tính chính xác và hiệu quả cao hơn

Số lượng NNT ngày càng tăng sẽ là một thách thức không nhỏ đến công tác kiểm tra Bởi cùng với sự gia tăng về số lượng sẽ là sự đa dạng hóa các loại hình DN và các hình thức kinh doanh, kèm theo đó là sự phức tạp, tinh vi hơn

về thủ đoạn trốn, tránh, gian lận thuế của NNT Nếu không chuẩn bị cho mình một hành trang đầy đủ (pháp lý, nhân lực, vật lực…), cơ quan quản lý thuế, nhất là bộ phận kiểm tra sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát hiện và xử

lý kịp thời các vụ gian lận, ẩn lậu thuế, gây thất thu cho NSNN

- Trình độ dân trí càng cao, sự hiểu biết về pháp luật thuế cũng như ý thức tự tuân thủ của NNT ngày càng được cải thiện, bởi họ hiểu rõ quyền, lợi ích và trách nhiệm của mình khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này ảnh hưởng lớn tới hiệu quả các cuộc kiểm tra thuế Ngược lại, cũng

vì sự hiểu biết về pháp luật thuế mà khả năng, thủ đoạn trốn, tránh thuế của NNT ngày càng tinh vi, phức tạp hơn, gây khó khăn cho cán bộ kiểm tra thuế trong việc phát hiện ra các gian lận, giảm hiệu quả kiểm tra thuế

1.3.2 Mô hình quản lý thuế

Thuế là một phạm trù kinh tế khách quan đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử Thuế xuất hiện tồn tại cùng với sự hình thành và tồn tại của nhà nước, với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tiền tệ Thuế luôn gắn chặt với

Trang 30

sự phát triển của nhà nước, sự thay đổi hình thái tổ chức nhà nước luôn kéo theo sự cải biến của hệ thống thuế Để có thể huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu từ thuế vào ngân sách đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu cần thiết, Nhà nước phải tổ chức việc quản lý thuế

Quản lý thuế là hoạt động quản lý của Nhà nước mà cơ quan thuế là đại diện, thông qua việc tổ chức, điều hành bộ máy ngành thuế, thực hiện hệ thống chính sách pháp luật thuế và hệ thống các quy trình quản lý thu để động viên một phần thu nhập từ lao động, của cải, vốn, từ việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ và từ việc lưu giữ, chuyển dịch tài sản của các thể nhân và pháp nhân vào NSNN nhằm trang trải cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Quản lý thuế được thực hiện theo những mô hình quản lý nhất định Lịch sử quản lý thuế cho thấy có 3 mô hình quản lý thuế cơ bản: mô hình quản lý theo sắc thuế, mô hình quản lý theo chức năng và mô hình quản lý thu theo ĐTNT Mỗi mô hình có những ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả công tác kiểm tra thuế

- Mô hình quản lý theo sắc thuế

Đây là mô hình được “tổ chức sớm nhất” trong hoạt động quản lý thuế, được các ngành thuế áp dụng dựa trên nguyên tắc “sắc thuế” Theo mô hình này, cơ quan thuế được tổ chức thành các bộ phận (phòng, ban) riêng biệt để chuyên trách quản lý một sắc thuế cụ thể Mỗi phòng, ban thực hiện tất cả các chức năng, các nghiệp vụ để quản lý thu đối với một hoặc một vài sắc thuế Mô hình quản lý theo sắc thuế áp dụng có hiệu quả ở cơ quan thuế Trung ương do nhiệm vụ của các cơ quan này là nghiên cứu, ban hành chính sách chế độ thu

Mô hình này thích hợp đối với những nước sử dụng các vấn đề nghiệp vụ cụ thể và quy trình quản lý khác nhau đối với mỗi sắc thuế

Mô hình này phát huy hiệu quả cao nhất trong từng trường hợp một sắc thuế của một ĐTNT bởi tính chuyên môn hóa theo sắc thuế cao Tuy nhiên,

Trang 31

trong trường hợp một ĐTNT nộp nhiều sắc thuế khác nhau lại xảy ra hiện tượng chồng chéo về chức năng giữa các phòng ban Ở bất kỳ phòng, ban nào cũng có các bộ phận nghiệp vụ thực hiện các công việc như nhau, dẫn đến biên chế quản lý lớn, làm cho chi phí quản lý thu tăng lên, chi phí tuân thủ cao… Trong khi đó rủi ro thất thu thuế vẫn cao do các chức năng, nghiệp vụ quản lý thuế được khép kín, độc lập trong một phòng, ban riêng biệt Giữa các phòng, ban trong cơ quan thuế không có sự liên kết nào nên hiện tượng thông đồng để trốn thuế giữa ĐTNT và cán bộ thuế khó bị phát hiện nếu các thủ tục kiểm tra nội bộ thiếu chặt chẽ và việc kiểm tra không được tổ chức thường xuyên Đồng thời, trình độ chuyên môn của cán bộ thuế không được toàn diện

do kỹ năng của họ là một sắc thuế Do vậy, hiệu quả của công tác kiểm tra thuế không cao

- Mô hình quản lý thu theo chức năng

Theo mô hình này, bộ máy quản lý thuế được tổ chức theo các nhóm chức năng, mỗi bộ phận thực hiện một công việc nghiệp vụ cụ thể có liên quan đến tất cả các sắc thuế như: Đăng ký thuế, Xử lý tờ khai thuế và Kế toán thuế, Kiểm tra thuế, Thu nợ… Quản lý theo mô hình này cho phép cơ quan thuế chuẩn hóa mạnh hơn về quy trình thủ tục làm việc đối với các loại thuế, đơn giản hóa hệ thống tin học và giao tiếp với ĐTNT, đồng thời nâng cao hiệu quả chung của ngành

Mô hình này thích ứng với mọi sự thay đổi về ĐTNT và tạo sự kiểm tra chéo giữa các cán bộ thuế ở các bộ phận khác nhau, hạn chế tiêu cực nên giảm nguy cơ gian lận thuế, thất thu thuế bởi bất kỳ sự thông đồng nào giữa ĐTNT và cán bộ thuế Đồng thời, khắc phục được sự trùng lắp về chức năng giữa các phòng ban theo mô hình quản lý thu theo sắc thuế và góp phần nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ kiểm tra thuế Tuy nhiên, do thông tin về ĐTNT bị phân tán nên khi cần thông tin đầy đủ về ĐTNT để tiến

Trang 32

hành kiểm tra phải mất nhiều thời gian để tổng hợp thông tin từ các phòng, ban chức năng khác nhau làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kiểm tra

- Mô hình quản lý thu theo ĐTNT

Đây là mô hình đang được áp dụng tại một số nước phát triển Theo mô hình này, ĐTNT được phân loại để quản lý theo nhóm trên cơ sở đặc điểm và mực độ tuân thủ pháp luật thuế của ĐTNT Do đặc điểm và mức độ tuân thủ pháp luật thuế của mỗi nhóm ĐTNT là khác nhau nên mỗi nhóm cũng có những rủi ro khác nhau về số thu Để quản lý hiệu quả những rủi ro này, cơ quan thuế cần phải phát triển và thực hiện các chiến lược sao cho phù hợp với đặc tính và sự tuân thủ của từng nhóm ĐTNT Do đó, mỗi phòng, ban trong

cơ quan thuế sẽ chịu trách nhiệm quản lý một hoặc vài nhóm đối tượng cụ thể Các nhóm ĐTNT được phân chia dựa trên cơ sở quy mô hoạt động, hình thức sở hữu, ngành kinh tế… Ví dụ: Nhóm DN lớn, DN nhỏ và vừa, nhóm người làm công ăn lương…

Áp dụng mô hình này, hiệu quả công tác kiểm tra mỗi nhóm ĐTNT khá cao, do có sự chuyên môn hoá theo đối tượng, kết hợp với chuyên môn hóa theo sắc thuế nên thông tin về ĐTNT được tập trung khá đầy đủ tại các phòng, ban tương ứng và trình độ, năng lực của cán bộ kiểm tra thuế tương đối phù hợp với yêu cầu quản lý Tuy nhiên, do mỗi ĐTNT chịu sự quản lý của một phòng, ban cụ thể nên vẫn có khả năng xảy ra tiêu cực trong quá trình kiểm tra thuế Đồng thời, mô hình này đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ kiểm tra thuế có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao vì họ phải tiếp xúc và xử

lý các vấn đề liên quan đến tất cả các sắc thuế của ĐTNT

Trên cơ sở các mô hình quản lý thuế cơ bản này, mỗi quốc gia sẽ lựa chọn mô hình quản lý thuế phù hợp theo đặc điểm chính trị - kinh tế - xã hội

và trình độ quản lý của mình, có thể là một trong số các mô hình cơ bản hoặc

mô hình quản lý thuế kết hợp 2 hoặc cả 3 mô hình cơ bản trên

Trang 33

1.3.3 Cơ chế quản lý thuế

Để tiến hành công tác thu nộp thuế, người ta thường chọn một trong hai

cơ chế: Cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế và cơ sở sản xuất kinh doanh TKTN thuế

- Cơ chế cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế

Đây là cơ chế quản lý thuế theo đó định kỳ theo thời gian, căn cứ vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và các quy định của pháp luật thuế, các ĐTNT phải kê khai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế Cơ quan thuế nhận tờ khai, kiểm tra và tính thuế, sau đó thông báo số thuế phải nộp cho ĐTNT ĐTNT có trách nhiệm nộp đầy đủ tiền thuế theo thông báo vào kho bạc nhà nước trong thời gian quy định Cơ quan thuế kiểm tra, đối chiếu số thuế mà ĐTNT đã nộp vào ngân sách với thông báo Cơ chế này đảm bảo việc tính toán chính xác số thuế phải nộp vào NSNN của các ĐTNT Tuy nhiên, cơ chế quản lý này có một số nhược điểm ảnh hưởng đến công tác kiểm tra sau:

+ Hiệu quả quản lý của cơ quan thuế thấp do phải làm thay các công việc cho ĐTNT, không đủ điều kiện tập trung thời gian và công sức cho công việc kiểm tra thuế…

+ Dễ xảy ra hiện tượng tiêu cực giữa cán bộ thuế và ĐTNT, làm thất thu NSNN

+ Trách nhiệm pháp lý của ĐTNT đối với tính chính xác của việc tính toán số thuế phải nộp không cao do số thuế họ phải nộp được xác định theo thông báo của cơ quan thuế ĐTNT có thể tính toán số thuế phải nộp một cách qua loa, đại khái, nếu cơ quan thuế kiểm tra, tính toán không kỹ thì có thể dẫn đến xác định sai số thuế phải nộp, làm thất thu ngân sách mà các ĐTNT không hề có lỗi

Nhìn chung, có chế này mang tính áp đặt, không nâng cao được tính tự giác, trách nhiệm công dân của ĐTNT Do vậy, công tác kiểm tra thuế gặp nhiều khó khăn, hiệu quả thu được không cao

Trang 34

Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, hiện nay các quốc gia trên thế giới đang chuyển sang thực hiện cơ chế tự kê khai, tự tính, tự nộp thuế

- Cơ chế cơ sở kinh doanh tự khai tự tính tự nộp thuế

Đây là cơ chế quản lý thuế theo đó ĐTNT căn cứ vào kết quản sản xuất kinh doanh trong kỳ kê khai của mình và căn cứ vào các quy định của pháp luật về thuế tự kê khai, tự tính toán số thuế phải nộp, chủ động nộp thuế cho nhà nước theo đúng thời hạn quy định của pháp luật thuế Cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình kê khai nộp thuế của ĐTNT trừ khi phát hiện các sai sót, vi phạm hoặc các dấu hiệu không chấp hành luật thuế Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để ĐTNT hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa

vụ thuế của ĐTNT và thông qua công tác kiểm tra để phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi trốn thuế của ĐTNT

Trong cơ chế TKTN thuế, ĐTNT phải hiểu biết đầy đủ về các quyền và nghĩa vụ của mình để có thể tự tính toán được nghĩa vụ thuế ĐTNT tự kê khai, tự tính số thuế phải nộp và nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế trên cơ sở kết quản sản xuất kinh doanh của mình và chính sách chế độ về thuế mà không cần sự xác nhận trực tiếp của cơ quan thuế Trên cơ sở số thuế đã kê khai, cơ sở kinh doanh chủ động nộp tiền thuế vào NSNN Đồng thời, ĐTNT được áp dụng các thủ tục kê khai, nộp thuế đơn giản, thuận lợi và được hướng dẫn, được cung cấp các dịch vụ hỗ trợ chất lượng cao nhằm tạo thuận lợi cho

họ tự giác tuân thủ đúng nghĩa vụ thuế theo quy định

Thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế, bộ máy quản

lý thuế ở cơ quan thuế được tổ chức tập trung theo các chức năng, bao gồm các chức năng chính: Tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT; Xử lý tờ khai và kế toán thuế; Thu nợ và cưỡng chế thuế; Kiểm tra thuế Trong đó, chức năng kiểm tra thuế là chức năng trọng tâm của cơ quan thuế trong cơ chế tự kê khai, tự nộp

Trang 35

thuế Cơ quan thuế tiến hành kiểm tra thuế trên cơ sở thu thập đủ các thông tin cần thiết về ĐTNT (từ tờ khai, báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán và các nguồn khác) để phân tích, đánh giá xác định theo các tiêu chí đánh giá rủi ro

để lựa chọn ĐTNT cần kiểm tra và nội dung, hình thức kiểm tra, phù hợp Các thông tin về ĐTNT được kiểm tra được cập nhật ngay khi có biến động trên cơ sở dữ liệu chung do Tổng cục Thuế quản lý và được chia sẻ, khai thác trên phạm vi cả nước

Chỉ khi ĐTNT nhận thức rằng cơ quan thuế đang thực hiện các chương trình thuế hiệu quả và nếu gian lận về thuế, họ sẽ bị cơ quan thuế phát hiện và

bị xử phạt nghiêm khắc, ĐTNT mới tự giác thực hiện đúng nghĩa vụ thuế Trong có chế tự khai, tự nộp thuế, công tác kiểm tra không phải để nhằm tăng

số thu thuế, mà mục tiêu chính là nhằm ngăn ngừa, phòng chống ĐTNT vi phạm pháp luật thuế

Với những nội dung trên, có thể thấy rằng phương thức quản lý thuế mới có tính khách quan hơn và khắc phục được những hạn chế của cơ chế cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế và tác động tích cực đến hiệu quả công tác kiểm tra thuế

1.4 Kinh nghiệm kiểm tra thuế của một số nước trên thế giới và Việt Nam

1.4.1 Kinh nghiệm quản lý thuế các nước trên thế giới

a Kinh nghiệm quản lý của Malaysia

Malaysia là một nước có nền kinh tế phát triển của Đông Nam Á Hệ thống thuế của Malaysia đã có những bước thay đổi để phù hợp với thông lệ quốc tế Quá trình kiểm tra thuế của các cơ quan thuế Malaysia nhắm tới hai vấn đề quan trọng đó là kiểm tra việc xác định giá tính thuế và cơ chế thỏa thuận trước về tính thuế

Cũng như nhiều quốc gia khác, thu nhập từ thuế là nguồn thu nhập chính của Malaysia Theo thống kê của Chính phủ Malaysia, tính đến năm

Trang 36

2003, nguồn thuế trực tiếp đóng góp 52,2% vào tổng thu nhập quốc gia trong khi nguồn thuế gián tiếp là 25,4% Nếu phân chia theo đối tượng chịu thuế thì khối DN chiếm phần lớn thu nhập của cả nước với tỉ lệ 56,2% Sự gia tăng đầu tư của các Tập đoàn đa quốc gia vào Malaysia phát sinh các vấn đề liên quan đến chuyển giá làm cho công tác quản lý thuế trở nên phức tạp

Trong bối cảnh đó, tháng 6 năm 2003, Hội đồng doanh thu nội địa Malaysia (Malaysian Inland Revenues Board viết tắt là IRB) đã ban hành Hướng dẫn chuyển giá (Tranfer Pricing Guidelines), có hiệu lực theo điều 140 Luật thuế thu nhập 1967 Ngoài ra, IRB đã bổ sung điều 140A Luật thuế thu nhập 1967 điều chỉnh vấn đề chuyển giá, một mặt mở rộng mô hình hướng dẫn của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OEDC), mặt khác tạo tiền đề cho việc áp dụng cơ chế Thỏa thuận giá trước APA Thực chất, Malaysia chưa có qui định cụ thể về Cơ chế thỏa thuận giá trước APA, nhưng qua việc

bổ sung điều luật 138C Luật thuế thu nhập 1967, một cơ chế mới đã được đưa vào hệ thống pháp luật về quản lý thuế ở Malaysia

Qui định mới không chỉ đề cao tính nghiêm túc của các cơ quan quản lý thuế mà còn tăng trách nhiệm của người chịu thuế nhằm đảm bảo rằng giá thỏa thuận được tính theo giá thị trường, từ đó hạn chế được tình trạng trốn thuế của các Tập đoàn đa quốc gia Kể từ khi áp dụng, mô hình Thỏa thuận giá trước APA của Malaysia được đa phần các Tập đoàn đa quốc gia hưởng ứng Từ thời điểm áp dụng, người chịu thuế tham gia vào các giao dịch với bên liên quan có thể sử dụng APA như là công cụ hữu hiệu để quản lý các rủi

ro về chuyển giá của họ Đồng thời, APA cũng sẽ cho phép người chịu thuế nhận được giá chuyển giao chắc chắn và giảm thiểu các hình phạt phải chịu

Là quốc gia ở Đông Nam Á có định hướng phát triển APA khá sớm, mặc dù những qui định về APA chưa được cụ thể và rõ ràng như các quốc gia phát triển khác nhưng có thể thấy Malaysia đã nỗ lực không ngừng cho việc

Trang 37

đề cao tầm quan trọng và khuyến khích sử dụng APA trong giới DN ở quốc gia này Trong tương lai, Malaysia sẽ là một trong những quốc gia có thành tựu phát triển APA vượt bậc so với các nước khác trong khu vực Đây cũng là quốc gia có tình hình phát triển kinh tế khá gần gũi với Việt Nam Do vậy, việc học hỏi kinh nghiệm của nước bạn là điều cần thiết cho chúng ta vào thời điểm này

b Kinh nghiệm quản lý thuế của Trung Quốc

APA đơn phương đầu tiên đạt được giữa cơ quan thuế Trung Quốc với một DN vào năm 1998 Đến năm 2005, lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, APA song phương (BAPA) giữa nước này với Nhật Bản được kí kết, mở màn cho chuỗi các BAPA với Hoa Kỳ, Hàn Quốc và các quốc gia khác Với thành tựu như vậy, quá trình thử nghiệm và phát triển APA ở Trung Quốc tưởng chừng không gặp phải bất kỳ khó khăn nào Tuy nhiên, trên thực tế, việc đưa vào áp dụng APA ở Trung Quốc thời gian đầu vẫn bộc lộ nhiều hạn chế đòi hỏi nỗ lực không ngừng của cơ quan có thẩm quyền của quốc gia này trong việc đầu tư, xây dựng các qui định APA ngày một chi tiết và rõ ràng hơn Bắt đầu thử nghiệm APA rất sớm từ những năm 1990, với việc ghi nhận tại điều

28 của Qui Định Đánh Thuế Đối Với Giao Dịch Giữa Các Bên Có Liên Quan (Guo Shui Fa [1998] số 59) “APA là một trong những biện pháp hợp lý khác điều chỉnh việc chuyển giá” Nhưng phải đến năm 2002, chương trình APA mới được chính thức đưa vào điều 53 “Các Qui Tắc Thực Thi Việc Thu Thuế

và Luật Quản Lý của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” (Guo Wu Yuan Ling,

số 362) với tư cách là một chương trình thay vì một phương pháp điều chỉnh như trước đây Năm 2004, Cơ quan quản lý thuế quốc gia (SAT) ban hành

“Qui định thực thi thỏa thuận trước giá tính thuế cho các giao dịch giữa các bên liên quan” (bản thảo) (Guo Shui Fa [2004] số 118), cung cấp chi tiết chương trình APA và các thủ tục đặc biệt như là thương lượng và qui trình kết luận, các đòi hỏi, các bước thực hiện tiếp theo và giám sát, cũng như hướng

Trang 38

dẫn quản lý thuế ở Trung Quốc Măc dù quá trình thử nghiệm APA từ năm

1990 đến 2004 được trang bị các cơ sở pháp lý gồm cả những qui tắc, qui định và luật nhưng trên thực tế, việc ký kết APA bộc lộ nhiều hạn chế, các điều khoản qui định còn sơ sài, chưa đầy đủ do thiếu vắng các hướng dẫn cụ thể Đứng trước tình trạng này, song song với việc ban hành các qui định thi hành nhất quán trên phạm vi quốc gia, cơ quan thuế quốc gia (SAT) đã đặt ra hai nhiệm vụ trọng tâm đối với các cơ quan thuế ở địa phương: một mặt các

cơ quan này tiếp tục khuyến khích APA và tuân thủ chặt chẽ các qui định về thi hành, mặt khác họ có nghĩa vụ nộp bản thảo APA cho SAT để phê duyệt trước khi kí kết Nỗ lực này của SAT nhằm cải thiện công tác quản lý và thực hiện APA trên phạm vi đất nước Do vậy, từ 2005 đến 2008, cơ quan thuế Trung Quốc đã ký kết APAs, trong đó có 36 APAs đơn phương và 5 APAs song phương Số lượng APAs, đăc biệt là BAPA tăng lên nhanh chóng từ năm 2009, sau khi qui định về “Thực hiện các biện pháp điều chỉnh thuế đặc biệt” (bản thảo) được công bố góp phần đơn giản hóa việc thực hiện Luật Thuế thu nhập DN của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các qui định thực hiện nó Đặc biệt, chương 6 nói về các biện pháp cung cấp các qui tắc chi tiết hơn và các hướng dẫn thực hiện chương trình APA của Trung Quốc Theo thống kê của Cơ quan thuế quốc gia thì trong vòng 5 năm từ 2004 đến 2009, Trung Quốc đã đạt được tổng cộng 53 APA trong đó có 41 APA đơn phương

và 12 APA song phương

Có thể thấy, quá trình phát triển APA ở Trung Quốc là quá trình hoàn thiện dần các qui định về APA trên phạm vi đất nước này Cơ sở pháp lý càng đầy đủ và hướng dẫn thực hiện càng chi tiết thì số lượng APA càng tăng cao

Là quốc gia láng giềng với Việt Nam, Trung Quốc không chỉ gần gũi về địa lý

mà còn có nhiều điểm chung về chính trị, kinh tế, do vậy, kinh nghiệm phát triển APA của quốc gia này thực sự là bài học quí báu cho Việt Nam trong giai đoạn bước đầu xây dựng và phát triển APA như hiện nay

Trang 39

c Kinh nghiệm quản lý thuế của Nhật Bản

Là quốc gia đi đầu trong công tác xây dựng và phát triển APA, cùng với các quốc gia phát triển khác, Nhật Bản đóng vai trò lớn trong việc mở rộng phạm vi sử dụng APA trên toàn thế giới Nhu cầu hợp tác trong kinh doanh thương mại giữa Nhật Bản và các quốc gia khác trên thế giới tăng mạnh vào cuối những năm 1980 tạo tiền đề cho hoạt động chuyển giá phát triển khá sớm ở quốc gia này Nhận thức được yêu cầu cần phải đánh thuế đối với hoạt động này, tháng 3 năm 1986, Nhật Bản đã ban hành hệ thống thuế đối với chuyển giá Gần 1 năm sau, năm 1987, mô hình APA được áp dụng, kéo theo xu hướng phát triển APA ở nhiều quốc gia khác như Hoa Kỳ, Canada, Úc…

Số lượng APA tăng mạnh ở Nhật Bản, đặc biệt là BAPA (APA song phương) từ năm 1999 Đây cũng là hình thức thỏa thuận được Cơ quan thuế quốc gia (National Tax Agency, viết tắt là NTA) khuyến khích với mục tiêu tránh đánh thuế 2 lần Năm 1999, Chỉ thị Của Hội đồng về Phương pháp thỏa thuận giá theo giá thị trường trong đó khuyến khích BAPA được ban hành Trong vòng 10 năm, từ năm 1999 đến 2009, số lượng BAPA tăng từ 27 trường hợp lên đến 105 cho thấy công tác phát triển APA, đặc biệt là BAPA ở Nhật Bản đã đạt được thành công nhất định BAPA thường gắn liền với qui trình thỏa thuận chung (MAP) Do đó, các hướng dẫn về BAPA và MAP lần lượt được cơ quan chức năng xây dựng Hướng dẫn về chuyển giá trong đó đề cập tới APA nói chung được ban hành ngày 1 tháng 6 năm 2001 và Hướng dẫn về thỏa thuận chung MAP làm tiền đề cho các hướng dẫn thực hiện BAPA được ban hành vào ngày 25 tháng 6 năm 2001 bởi Cơ quan thuế quốc gia (NTA) Đến tháng 6 năm 2004, Hướng dẫn MAP và BAPA chính thức được đưa lên website của NTA Hàng năm cơ quan này đều có Báo Cáo Về Hoạt Động APA

Trang 40

Là một trong những cường quốc kinh tế trên thế giới, rất dễ hiểu vì sao Nhật Bản lại có nhận thức và định hướng phát triển APA sớm như vậy Với tư cách là quốc gia đi đầu trong lĩnh vực quản lý thuế và phát triển APA không chỉ trong khu vực mà còn trên cả thế giới, những thành tựu và kinh nghiệm của Nhật Bản ở lĩnh vực trên là bài học quí báu cho các quốc gia đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như Việt Nam

d Kinh nghiệm quản lý thuế của Hoa Kỳ

Chương trình APA được xây dựng lần đầu tiên ở Hoa Kỳ năm 1991 trong ấn phẩm Thủ tục đối với thu nhập (Revenue Procedure, viết tắt là Rev.Proc.) số 91-22 của Cơ quan doanh thu nội địa Hoa Kỳ (Internal Revenue Service, viết tắt là IRS) hướng dẫn NNT áp dụng phương pháp xác định trước giá tính thuế áp dụng cho các giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết Năm

1996, IRS qui định qui trình nội bộ cho việc nộp đơn xin APAs trong Chỉ thị hướng dẫn của Hội đồng luật sư (CCDM) 42.10.10- 42.10.16 (ngày 15 tháng

11, 1996) Cũng trong năm 1996, IRS đã cập nhật Thủ tục đối với thu nhập số 91-22 cùng với việc ban hành của Rev.Proc 96-53, 1996-2 C.B 375 Năm

1998, IRS ban hành thông báo 98-65, 1998-2 C.B.803, thiết lập qui trình APA cho DN nhỏ Sau đó, mùng 1 tháng 6, năm 2004, IRS cập nhật và thay thế cả Rev.Proc.96-53 và Thông báo 98-65 bằng việc ban hành Rev.Proc.2004-40, 2004-2 I.R.B.50, có hiệu lực cho các yêu cầu APA nộp vào hoặc sau ngày 19 tháng 8 năm 2004

Ngày 19 tháng 12 năm 2005, IRS tiếp tục cập nhật các qui định về thủ tục cho qui trình và quản lý APAs cùng với việc ban hành Rev.Proc.2006-09, 2006-1 C.B.278, Rev.Proc.2006-09 thay thế Rev Proc.2004-40 và có hiệu lực cho tất cả các yêu cầu APA nộp vào hoặc sau ngày 1 tháng 2 năm 2006 Ngày

21 tháng 5 năm 2008, IRS ban hành Rev.Proc 2008-31, 2008-23 Ỉ.B 1133, bổ sung Rev.Proc.2006-9 mô tả các loại vấn đề có thể được giải quyết theo thủ

Ngày đăng: 28/08/2017, 11:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Ái (2002), Giáo trình Thuế Nhà Nước, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thuế Nhà Nước
Tác giả: Lê Văn Ái
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2002
2. Nguyễn Thị Bất (2002), Giáo trình Quản Lý Thuế, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản Lý Thuế
Tác giả: Nguyễn Thị Bất
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2002
5. Chính phủ (2004), Quyết định số 201/2004/QĐ-TTg ngày 6/12/2004 củ Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 201/2004/QĐ-TTg ngày 6/12/2004 củ Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
6. Nguyễn Đẩu (2005), “Công tác trong chiến lược cải cách thuế”, Thuế Nhà Nước, (số 10), trang 16-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác trong chiến lược cải cách thuế”, "Thuế Nhà Nước
Tác giả: Nguyễn Đẩu
Năm: 2005
7. Nguyễn Đẩu (2005), “Hiện đại hoá công tác thuế - Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho Việt Nam”, Thuế Nhà Nước, Kỳ 2 tháng 2, trang 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện đại hoá công tác thuế - Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp cho Việt Nam”, "Thuế Nhà Nước
Tác giả: Nguyễn Đẩu
Năm: 2005
8. Lê Xuân Trường (2003), “Cơ chế tự khai, tự nộp thuế: ưu điểm, hạn chế và 9. Tạp chí thuế Nhà nước (2011), Luật Quản lý thuế và các văn bản hướngdẫn thi hành, NXB Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế tự khai, tự nộp thuế: ưu điểm, hạn chế và 9. Tạp chí thuế Nhà nước (2011), "Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng "dẫn thi hành
Tác giả: Lê Xuân Trường (2003), “Cơ chế tự khai, tự nộp thuế: ưu điểm, hạn chế và 9. Tạp chí thuế Nhà nước
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2011
10. Tạp chí thuế Nhà nước (2013), Những điều cần biết về Luật Quản lý thuế, NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về Luật Quản lý thuế
Tác giả: Tạp chí thuế Nhà nước
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2013
11. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg ngày 28/05/2007 của Thủ tướng chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài Chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 76/2007/QĐ-TTg ngày 28/05/2007 của Thủ tướng chính phủ quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài Chính
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2007
17. Trần Văn Hiền (2008), “Đôi điều suy nghĩ về hoá đơn thuế giá trị gia tăng hiện nay”, Tài Chính DN, (11), trang 36-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩ về hoá đơn thuế giá trị gia tăng hiện nay”, "Tài Chính DN
Tác giả: Trần Văn Hiền
Năm: 2008
19. Nguyễn Thị Liên (2004), “Hậu kiểm trong quy trình tự tính, tự khai, tự nộp thuế”, Thuế Nhà Nước, (số 9), trang 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu kiểm trong quy trình tự tính, tự khai, tự nộp thuế”, "Thuế Nhà Nước
Tác giả: Nguyễn Thị Liên
Năm: 2004
20. Quốc hội (2006), Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2006
21. Quốc hội (2008), Luật thuế GTGT/QH11 ngày 03/6/2008, Hà Nội 22. Quốc hội (2008), Luật thuế TNDN ngày 03/6/2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế GTGT/QH11 ngày 03/6/2008, "Hà Nội 22. Quốc hội (2008), "Luật thuế TNDN ngày 03/6/2008
Tác giả: Quốc hội (2008), Luật thuế GTGT/QH11 ngày 03/6/2008, Hà Nội 22. Quốc hội
Năm: 2008
23. Quốc hội (2012), Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 bổ sung 1 số điều của Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 bổ sung 1 số điều của Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2012
24. Quốc hội (2013), Luật thuế GTGT Luật số 31/2013/QH, Hà Nội 25. Trang web của tổng cục thuế gdt.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thuế GTGT Luật số 31/2013/QH
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
4. Báo cáo tổng kết Chi cục Thuế TP Ninh Bình 3 năm 2011, 2012, 2013./ Khác
12. Tổng cục Thuế (2004), Quyết định số 1322TCT/QĐ-HTQT ngày 30/08/2004 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế về việc ban hành quy trình kiểm tra, DN thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế Khác
13. Tổng cục Thuế (2005), Quyết định số 1166TCT/QĐ-HTQT ngày 3/10/2005 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế về việc ban hành quy trình thanh tra, kiểm tra DN Khác
14. Tổng cục Thuế (2008), Quyết định số 528/QĐ-TCT, ngày 29/5/2008 của Tổng Cục thuế về việc ban hành quy trình kiểm tra thuế Khác
15. Tổng cục Thuế (2010), Quyết định số 503/QĐ-TCT ngày 29/03/2010 của Tổng cục Thuế quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế Khác
16. Tổng cục Thuế (2011), Quyết định số 1864/QĐ-TCT, ngày 21/12/2011 của Tổng Cục thuế về việc quy trình quản lý thuế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w